Thảo luận quản trị rủi ro - Pdf 24

Đề tài: Rủi ro từ việc phát triển sản phẩm mới “sản phẩm xe máy của Honda”
và tiến hành quản trị rủi ro.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Rủi ro và phân loại rủi ro
1.1.1. Khái niệm : Rủi ro là sự kiện bất lợi, bất ngờ xảy ra gây tổn thất cho con người.
Theo từ điển Oxfort: “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại”.
Theo từ điển tiếng Việt: “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”.
Điều: là một khả năng, một sự kiện, một biến cố có thực (afact) xảy ra đối với cá nhân, tổ
chức, doanh nghiệp.
Bất ngờ: Không lường trước được, không dự đoán được hoặc tính bất định: Là sự nghi ngờ
về khả năng của chúng ta trong tiên đoán kết quả tương lai của một hoạt động trong hiện tại.
Sự bất định phản ánh khả năng không thay đổi, không dự đoán trước được về kết quả trong
tương lai.
1.1.2. Phân loại rủi ro
• Rủi ro sự cố và rủi ro cơ hội
- Rủi ro sự cố: là rủi ro gắn liền với những sự cố ngoài dự kiến, đây là những rủi ro
khách quan khó tránh khỏi (nó gắn liền với yếu tố bên ngoài)
- Rủi ro cơ hội: là rủi ro gắn liền với quá trình ra quyết định của chủ thể. Nếu xét theo
quá trình ra quyết định thì rủi ro cơ hội bao gồm:
+ Rủi ro liên quan đến giai đoạn trước khi ra quyết định: Liên quan đến việc thu thập và xử
lý thông tin, lựa chọn cách thức ra quyết định
+ Rủi ro trong quá trình ra quyết định: Rủi ro phát sinh do ta chọn quyết định này mà không
chọn quyết định khác
+ Rủi ro liên quan đến giai đoạn sau khi ra quyết định: Rủi ro về sự tương hợp giữa kết quả
thu được và dự kiến ban đầu
• Rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoán
Rủi ro thuần túy tồn tại khi có 1 nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời, hay nói
cách khác là rủi ro trên đó không có khả năng có lợi cho chủ thể
Rủi ro suy đoán tồn tại khi có 1 cơ hội kiếm lời cũng như 1 nguy cơ tổn thất, hay nói cách
khác là rủi ro vừa có khả năng có lợi, vừa có khả năng tổn thất
Rủi ro thuần túy: tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời được

của thuế là một rủi ro rất lớn. Nếu không được tính toán kỹ, công ty sẽ dễ bị thua lỗ
và có thể dẫn đến phá sản.
- Rủi ro do thiếu thông tin kinh tế: sự thiếu thông tin trên thị trường sẽ dẫn tới những
quyết định sai lầm trong kinh doanh, gây hậu quả tổn thất không lường được.
- Rủi ro do tình hình chính trị bất ổn: tình hình chính trị bất ổn cũng là một mối lo ngại
đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Rủi ro thường xuất hiện khi các nhà kinh
doanh xuất nhập khẩu có mối quan hệ với các nước có tình hình chính trị bất ổn. Khi
các chính sách thay đổi có thể sẽ dẫn tới thiệt hại về tài chính cho các nhà xuất nhập
khẩu.
- Rủi ro có thể đa dạng hóa: nếu ta có thể giảm bớt rủi ro thông qua những thỏa hiệp
đóng góp tiền bạc và chia sẻ rủi ro.
- Rủi ro không thể đa dạng hóa: nếu những thỏa hiệp đóng góp tiền bạc không có tác
dụng gì đến việc giảm bớt rủi roc ho những người tham gia vào quỹ góp chung này.
• Rủi ro có thể phân tán và rủi ro không thể phân tán
- Rủi ro có thể phân tán: là rủi ro có thể giảm bớt tổn thất thông qua những thỏa hiệp
đóng góp (như tài sản, tiền bạc…) và chia sẻ rủi ro
- Rủi ro không thể phân tán: là rủi ro mà những thỏa hiệp đóng góp về tiền bạc hay tài
sản không có tác dụng gì đến việc giảm bớt tổn thất cho những người tham gia vào
quỹ đóng góp chung
• Rủi ro trong các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp
- Rủi ro trong giai đoạn khởi sự: Rủi ro không được thị trường chấp nhận
- Rủi ro giai đoạn trưởng thành: Rủi ro tốc độ tăng trưởng của kết quả “doanh thu
max” không tương hợp với tốc độ phát triển của “chi phí min”
- Rủi ro giai đoạn suy vong: Rủi ro phá sản
- Rủi ro do tác động của các yếu tố môi trường kinh doanh
Yếu tố luật pháp
Yếu tố kinh tế
Yếu tố văn hóa – xã hội
Yếu tố tự nhiên


đối tượng chịu các kết quả, có thể là được hay mất.
1.2.2. Phân tích rủi ro
- Khái niệm: Phân tích rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm họa, xác định các mối
nguy hiểm và nguy cơ rủi ro.
- Có 3 cách tiếp cận:
+ Dựa trên các cơ sở liên quan đến con người.
+ Quan điểm liên quan đến kỹ thuật.
+ Kết hợp cả 2 cách trên.
- Nội dung phân tích rủi ro
+ Phân tích hiểm họa
Nhà quản trị tiến hành phân tích những điều kiện tạo ra rủi ro hoặc những điều kiện làm
tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra
Nhà quản trị có thể thông qua quá trình kiểm soát trước, kiểm soát trong và kiểm soát sau để
phát hiện ra mối hiểm họa
Phân tích tổn thất giúp phát hiện các hiểm hoạ cần được nghiên cứu kĩ hơn. Tuy nhiên, phân
tích hiểm hoạ không thể chỉ giới hạn ở các yếu tố đã gây ra tai nạn, mà phải xác định cả các
yếu tố có thể gây ra tai nạn theo kinh nghiệm của các tổ chức khác như các công ty bảo
hiểm, các đơn vị của nhà nước…Càng ngày càng có nhiều mối hiểm hoạ mới chưa gây tổn
thất cho ai, được các nhà quản trị rủi ro phát hiện thông qua các thí nghiệm dưới các điều
kiện kiểm soát được. Các hiểm hoạ trong sản phẩm mới, như các dược phẩm mới, cũng
được phát hiện theo hiện theo cách này.
- Phân tích nguyên nhân rủi ro
Phân tích nguyên nhân rủi ro có thể dựa trên 3 quan điểm sau:
+ Phần lớn các rủi ro xảy ra đều liên quan đến con người
+ Phần lớn các rủi ro xảy ra là do các yếu tố kỹ thuật, do tính chất lý hóa hay cơ học của đối
tượng rủi ro
+ Kết hợp cả 2 nguyên nhân kể trên: Nguyên nhân rủi ro một phần phụ thuộc vào yếu tố kỹ
thuật, một phần phục thuộc vào yếu tố con người
- Phân tích tổn thất
Có thể phân tích tổn thất thông qua 2 cách thức:

Trong nhiều trường hợp việc né tránh tuyệt đối không thể thực hiện được.Càng có nhiều rủi
ro được xác định là thiệt hại về tài sản, thì càng chắc chắn rằng việc né tránh là không thể
thực hiện được.
Bối cảnh của việc ra quyết định né tránh làm cho việc thực hiện né tránh khó trở thành thực
hiện. Một rủi ro không thể tồn tại mà không có hoàn cảnh, một quyết định né tránh có thể
tạo nên rủi ro ở nơi khác hoặc làm tăng thêm một số rủi ro đang tồn tại.
+ Ngăn ngừa rủi ro
Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất tấn công vào các rủi ro bằng cách giảm bớt số lượng tổn
thất xảy ra (tức giảm tần suất tổn thất) hoặc bằng cách làm giảm mức thiệt hại khi tổn thất
xảy ra.
Chương trình ngăn ngừa tổn thất tìm cách giảm bớt số lượng các tổn thất xảy ra hoặc loại bỏ
chúng hoàn toàn. Ở đây, chuỗi rủi ro là rất quan trọng vì các hoạt động ngăn ngừa rủi ro tìm
cách can thiệp vào ba mắt xích đầu tiên của chuỗi: sự nguy hiểm, môi trường rủi ro, sự
tương tác giữa mối nguy hiểm và môi trường. Điều đó có nghĩa là các hoạt động ngăn ngừa
rủi ro tập trung vào:
o Thay thế hoặc sửa đổi mối hiểm hoạ
o Thay thế hoặc sửa đổi môi trường nơi mối hiểm nguy tồn tại
o Can thiệp và quy trình tác động lẫn nhau giữa sự nguy hiểm và môi
trường
+ Giảm thiểu rủi ro
Các biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào các rủi ro bằng cách làm giảm bớt giá trị hư
hại khi tổn thất xảy ra (tức giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất).
Những chương trình giảm thiểu tổn thất được đề xướng nhằm làm giảm mức độ thiệt hại.
Những hoạt động giảm thiểu tổn thất là những biện pháp sau khi tổn thất đã xảy ra.Mặc dù
những biện pháp này được đặt ra trước khi một tổn thất nào đó xuất hiện, những chức năng
hoặc mục địch của những biện pháp này là làm giảm tác động của tổn thất một cách hiệu
quả nhất.
1.2.4. Tài trợ rủi ro
- Khái niệm:
Tài trợ rủi ro có thể bao gồm tài trợ rủi ro cũng như tài trợ tổn thất.Rủi ro áp đặt chi phí

với tổn thất tài sản trực tiếp hoặc tổn thất thu nhập, một vài trường hợp là tổn thất nguồn
nhân lực; hầu hết chuyển giao trách nhiệm tài chính về pháp lý cho thành phần thứ ba.
CHƯƠNG 2:
RỦI RO TỪ VIỆC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI CỦA XE MÁY HONDA
2.1. Giới thiệu về doanh nghiệp
2.1.1. Tập đoàn Honda
Nếu như người Mỹ tự hào có Henry Ford thì người Nhật lại tự hào về Soichiro
Honda, người sáng lập ra công ty Honda – công ty số 1 thế giới về sản xuất môtô. Không
chỉ trong lĩnh vực công nghiệp ô tô đặc biệt là lĩnh vực xe máy, ngày nay không thể thiếu
được các sản phẩm của Nhật Bản mà thương hiệu Honda là số một. Honda là tập đoàn quan
trọng hàng đầu thế giới, số 1 về sản xuất mô tô và đứng thứ 7 về sản xuất ô tô. Hiện nay,
Tập đoàn Honda – trụ sở chính tại Tokyo, Nhật Bản có 95 nhà máy sản xuất đặt tại 34 nước
trên thế giới với gần 100.000 công nhân. Trung bình mỗi năm Honda cho xuất xưởng 5,5
triệu xe máy và 2,3 triệu xe ôtô. Ngoài ra, tập đoàn còn cung cấp hơn 3 triệu sản phẩm hàng
công nghiệp khác như máy nông nghiệp, động cơ tàu thuỷ.
2.1.2. Công ty Honda Việt Nam
Vào những năm 90 của thế kỉ trước, nền kinh tế của Việt Nam đang dần phát triển,
đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Đi đôi với sự phát triển đó là nhu cầu đi lại
của người dân ngày càng cao, bằng chứng là số lượng xe gắn máy đã qua sử dụng được
nhập từ Nhật Bản hay mới sản xuất nhập từ Thái Lan đang tăng dần. Nhận thấy Việt Nam sẽ
là một thị trường tiềm năng, Công ty Honda Motor đã quyết định xâm nhập thị trường này.
Bằng chứng là sự ra đời vào năm 1996 của Công ty Honda Việt Nam – một Công ty Liên
doanh với 3 đối tác là:
+ Công ty Honda Motor Nhật Bản )góp 42% vốn).
+ Công ty Asia Honda Motor tại Thái Lan(góp 28% vốn).
+ Tổng Công ty Máy Động Lực và Máy Nông Nghiệp Việt Nam( góp 30%
vốn).
Tiêu biểu có 2 nhà máy sản xuất xe máy và 1 nhà máy sản xuất ô tô tại Việt Nam đó là :
Nhà máy sản xuất xe máy thứ nhất: Tháng 3 năm 1998, Honda Việt Nam khánh
thành nhà máy thứ nhất. Được đánh giá là một trong những nhà máy chế tạo xe máy hiện

+ Năm thành lập: 2005
+ Trụ sở: Phúc Thắng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
+ Vốn đầu tư: Khoảng 60 triệu USD
+ Diện tích: 17.000m2
+ Lao động: 408 người
+ Công suất: 10,000 xe/năm
Nhà máy sản xuất Ô tô được trang bị máy móc và thiết bị tương tự như các nhà máy
Honda ở các nước khác với tiêu chí đặc biệt coi trọng chất lượng, an toàn và thân thiện với
môi trường. Hơn nữa, nhà máy còn được trang bị dây chuyền lắp ráp động cơ với mong
muốn từng bước nội địa hóa các sản phẩm Ôtô.
Theo thời gian, sản phẩm của Honda Việt Nam cũng ngày càng đa dạng hơn, đáp
ứng nhu cầu đa dạng của người dân: thời trang, tiết kiệm nhiên liệu, sang trọng, tiện ích
Trong quá trình sản xuất và kinh doanh, Honda Việt Nam cũng không quên mục tiêu cải
thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Việt Nam thông qua các hoạt động xã hội liên
quan đến các lĩnh vực: môi trường, an toàn, giáo dục và hoạt động từ thiện. Những chương
trình này luôn được sự hưởng ứng nhiệt tình của xã hội, đơn cử như: “Tôi yêu Việt Nam”.
Với những đóng góp của mình, Honda Việt Nam đã được vinh dự nhận bằng khen của Thủ
tướng Chính Phủ (3/2001), bằng khen của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia (8/2003),
Huân chương Lao động hạng ba (7/2005)…
2.2. Giới thiệu về sản phẩm xe máy của Honda
2.2.1. Các loại xe máy của công ty đã có mặt trên thị trường:
• Air Blade - thể hiện thiết kế hiện đại mang tính đột phá trong dòng sản phẩm xe tay
ga dành cho khách hàng Việt Nam với công nghệ hàng đầu, tính năng an toàn vượt
trội, thân thiện với môi trường và nhiều tiện ích.
• CLICK – kiểu xe tay ga với động cơ 4 thì 108cc mới của Honda, với hệ thống làm
mát bằng dung dịch có bộ tản nhiệt tích hợp cùng công nghệ truyền động tựđộng.
CLICK được thiết kế bắt mắt, thiết lập một tiêu chuẩn mới của cái đẹp bởi
vẻ thanh lịch và sang trọng. CLICK sẽ trở thành phương tiện tốt nhất đối với người
dân ở các đô thị.
• Được yêu thích ngay từ lần xuất hiện đầu tiên năm 1999, giờ đây dòng xe Future đã

- Ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 khiến cho việc tiêu thụ sản phẩm
mới của Honda chậm lại, làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm đi.
- Thuế: Đó là sự thay đổi chính sách thuế làm thay đổi khoản thu nhập cũng như khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khiến cho việc phát triển sản phẩm mới của công
ty gặp nhiều khó khăn, làm cho sản phẩm khó đến với người tiêu dùng.
- Sự thâm hụt ngân sách chính phủ rất dễ gây nên sự mất ổn định kinh tế vĩ mô, khiến
cho tình hình lạm phát diễn biến phức tạp. Lạm phát làm cho giá cả hàng hóa ngày
càng tăng đẩy chi phí mua nguyên vật liệu đầu vào tăng, chi phí sản xuất tăng, năng
suất lao động giảm Lạm phát cũng khiến cầu tiêu dùng giảm, việc tiêu thụ hàng
hóa gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng không tốt đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
Honda.
- Khủng hoảng tài chính là một vấn đề gây nhức nhối cho các doanh nghiệp nói chung
và Honda nói riêng. Khi lãi suất cho vay tăng cao, hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
sẽ bị giảm sút, thậm chí bị thua lỗ, khả năng trả nợ bị suy giảm. Lãi suất vay cao,
cùng với nguồn cung tín dụng bị hạn chế sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp buộc
phải cơ cấu lại hoạt động SXKD, cắt giảm việc đầu tư, hặc có thể tới mức thu hẹp
quy mô và phạm vi hoạt động.
2.3.2. Rủi ro chính trị
Rủi ro chính trị được định nghĩa như là chính sách của chính phủ áp dụng để giới
hạn cơ hội kinh doanh của các nhà đầu tư. Cụ thể hơn là những khả năng mà các cơ quan
của chính phủ có thể tạo nên sự thay đổi trong môi trường kinh doanh của quốc gia mà tác
động đến lợi nhuận và các mục tiêu khác của công ty kinh doanh.Các loại rủi ro chính trị
thường gặp:
- Sự bất ổn chính trị có thể gây nên các hiện tượng đình công, lãn công, biểu tình,
thậm chí đập phá tài sản của doanh nghiệp làm ngưng trệ quả trình sản xuất và xúc
tiến sản phẩm mới của công ty.
- Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và nghiêm minh khi thực thi sẽ tạo ra môi trường
cạnh tranh không lành mạnh cho các doanh nghiệp, xuất hiện các tình trạng gian lận,
buôn lậu gây ra sự bất công cho công ty, công ty khó khăn trong việc kiểm soát và
đánh giá mức độ rủi ro của môi trường kinh doanh, dẫn đến việc phát triển sản phẩm

trường, giá cả thì tức là công ty đang tự dẫn mình vào ngõ cụt. Rủi ro do thiếu thông tin
thể hiện ở một số điểm như:
- Thiếu thông tin về đối tác có thể đưa tới cho Honda những tranh chấp hoặc mất trắng
do đối tác không thanh toán hay không thực hiện theo đúng các điều khoản trong hợp
đồng.
- Thiếu thông tin về những biến đổi trên thị trường như: giá cả, sản phẩm,
- Thiếu thông tin về công nghệ sản xuất
- Thiếu thông tin về các chính sách của nhà nước
- Thiếu thồn tin về khách hàng tiềm năng
Việc tìm hiểu thông tin cho việc phát triển sản phẩm mới là rất quan trọng, thiếu một
trong các thông tin trên thì Honda khó mà lường trước được các chính sách, kế hoạch, mục
tiêu phát triển sản phẩm sẽ đi đến đâu. Việc kiểm soát khó khăn thì sẽ gây ảnh hưởng tiêu
cực đến chiến lược của công ty.
2.3.6. Rủi ro về văn hóa
Sự khác biệt nhau về văn hóa có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc, có thể khiến
Honda bị mất thị phần tại thị trường mục tiêu, đặc biệt khi Honda đang tiến hành hoạt động
phát triển sản phẩm mới.Một số nguyên nhân mà Honda có thể mắc phải:
- Không tìm hiêu kỹ về văn hóa của nơi đầu tư: phong tục tập quán ngôn ngữ, do đó
co thể gây ra sự hiểu nhầm nhau trong đàm phán cũng như quảng cáo.
- Không am hiểu các tập quán kinh doanh của nước chủ nhà dẫn đến phạm luật hoặc
kinh doanh không hiệu quả.
- Không am hiểu phong cách thực hành quản lý của các doanh nghiệp ở nước sở tại,
điều này rất nguy hiểm bởi nếu cứ áp dụng phong cách quản lý của Nhật áp đặt cho
các nhà quản lý của đất nước sở tại thì họ sẽ cảm thấy bị gò bó, không quen và thấy
không phù hợp với văn hóa của đất nước họ. Lúc này có thể tạo ra sự mất cân bằng
hay mất phương hướng trong quản lý khi văn hóa bị xáo trộn trong họ dẫn đến hiệu
quả làm viêc thấp.

CHƯƠNG 3
QUẢN TRỊ RỦI RO SẢN PHẨM MỚI XE MÁY HONDA

- Tỷ lệ thâm hụt cán cân thanh toán tài sản vãng lai quá lớn so với GDP.
- Trách nhiệm của chính phủ đối với việc duy trì và nâng cao mức sống trong nước thông
qua các chỉ tiêu lợi ích công cộng và các chính sách.
* Liên hệ với Công ty Honda Việt nam: Để có thể tránh được các rủi ro này, nhà quản trị
dự án cần phải xây dựng chiến lược marketing và chiến lược sản xuất tại Việt nam:
- Chiến lược marketing:
+ Lựa chọn thị trường: Công ty Honda cần phân đoạn thị trường thành: thị trường có thu
nhập cao, tập chung vào các khách hang sinh sống ở các thành phố lớn như Hà nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, và thị trường có thu nhập thấp là các vùng nông thôn. Như
vậy, Công ty có thể tránh được các rủi ro do thu nhập cá nhân gây nên.
+ Chiến lược sản phẩ m: Từ việc phân đoạn thị trường ở trên, Công ty cần phải có cơ cấu
sản phẩm phù hợp với các khu vực thị trường này. Đối với khu vực thành thị nên sản xuất
các sản phẩ m mang tính chất thời trang để thu hút người tiêu dùng, còn ở vùng nông thôn
Công ty có thể đưa ra các mẫu xe vừa có thể là phương tiện giao thông nhưng cũng phát huy
được vấn đề chuyên chở hàng hoá.
+ Chiến lược giá: Công ty cần xây dựng được chiến lược giá phù hợp để có thể duy trì sự thị
phần khi cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại nhưng giá rẻ, đặc biệt là các sản phẩm nhập
từ Trung quốc. Việc xây dựng chiến lược giá chủ yếu tính đến các loại xe máy có giá rẻ.
+ Chiến lược khuyến mãi: Cũng là vấn đề cạnh tranh để duy trì thi trường, Công ty nâng cao
các chương trình khuyến mãi như giảm giá bảo dưỡng, tham gia các chương trình quay
số thông qua các đại lý của mình trên toàn quốc.
- Chiến lược sản xuất: Như đã nói ở trên để có thể xây dựng được chiến lược giá nhằm duy
trì thị phần, Công ty phải là m một số việc sau:
+ Đa dạng hoá các sản phẩ m tức là vừa có loại xe đắt tiền, vừa có loại xe rẻ tiền.
+ Đa dạng hoá nguồn nhập nguyên vật liệu: Công ty cần chủ động nhập linh kiện từ nước
ngoài để đối phó với chính sách giảm giá tiền tệ đồng thời cũng nhanh chóng nội địa hoá
sản phẩm để giảm giá thành.
3.1.2. Rủi ro chính trị:
- Rủi ro chính trị được định nghĩa như là chính sách của chính phủ áp dụng mà giới hạn cơ
hội kinh doanh của các nhà đầu tư. Cụ thể hơn là những khả năng mà các cơ quan của chính

- Rủi ro liên quan đến pháp lý thường đưa đến tranh tục kéo dài có thể ảnh hưởng tới hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Rủi ro pháp lý thường có nguồn gốc:
+ Do luật pháp về kinh doanh của nước chủ nhà thay đổi: qui định về môi trường, về lao
động, về nhãn hiệu
+ Gây ra do thiếu kiến thức về pháp lý nói chung hay về ký kết hợp đồng kinh tế.
* Liên hệ với Công ty Honda Việt nam: Đối với Công ty Honda Việt nam vấn đề tránh
rủi ro về mặt pháp lý tập chung vào việc giữ vững nhãn hiệu hàng hoá bởi vì hiện nay
Honda Việt nam đang phải tranh chấp về mặt kiểu dáng một số loại xe máy do các doanh
nghiệp ngoài nước, đặc biệt là xe máy do Trung quốc sản xuất. Để phòng ngừa rủi ro này,
Công ty phải tranh thủ sự bảo vệ của các cơ quan của chính phủ như Cục sở hữu công
nghiệp, cơ quan an ninh, để tránh việc làm nhái mẫu mã.
3.1.4. Rủi ro cạnh tranh.
Rủi ro cạnh tranh có thể xuất hiện do sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng hay sự gia
tăng số lượng cũng như qui mô của các doanh nghiệp sản xuất trong cùng một ngành sẽ tạo
ra áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành. Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành càng cao thì
khả năng để một doanh nghiệp bị thôn tính trên thị trường cũng tăng rất cao. Rủi ro cạnh
tranh có thể xảy ra khi doanh nghiệp bị mắc vào một số lỗi sau:
+ Thiếu thông tin về sản phẩm và công nghệ của đối thủ kinh doanh. + Doanh nghiệp không
đưa ra được chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
+ Do doanh nghiệp không lường trước sự cạnh tranh không lành mạnh từ phía đối thủ hay
của hàng giả, hàng nhái Có thể nói rủi ro cạnh tranh có khả năng xảy ra rất cao đối với các
doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
* Liên hệ với Công ty Honda Việt nam: Để tránh được những rủi ro do cạnh tranh gây ra,
Ban Giá m đốc Công ty Honda Việt nam biết rằng để tồn tại trên thương trường , Công ty
phải không ngừng nâng cao chất lượng, cải tiến kỹ thuật, đưa ra nhiều kiểu dáng xe máy
mới, các biện pháp nghiên cứu để có được các động cơ tiêu hao ít nhiên liệu, giảm ô nhiễ m
môi trường. Tuy nhiên, để là m được điều này thì Honda Việt nam chỉ có thể nhận được từ
sự hỗ trợ của các Công ty khác của Hãng trên thế giới. Điều quan trọng để giảm rủi ro do
cạnh tranh chính là việc hạ giá thành, Công ty đã xây dựng được chiến lược giả m giá thông
qua việc nội địa hoá sản phẩ m. Hiện nay, trên thị trường Việt nam thương hiệu Honda đang

+ Không am hiểu các tập quán kinh doanh của nước chủ nhà
+ Không am hiểu phong cách thực hành quản lý của các doanh nghiệp của từng nước.
* Liên hệ với Công ty Honda Việt nam: Để tránh được vấn đề rủi ro này Công cần phải
hiểu rõ văn hoá của người Việt nam nó sẽ giúp Công ty tránh được những hiểu lầm do
quảng cáo gây nên. Tuy nhiên, công nhân Việt nam làm tại Công ty cũng cần phải hiểu rõ
phong cách quản lý của người Nhật là: Định hướng chiến lược dài hạn do đó các cam kết về
lao động là dài hạn, làm việc theo tập thể, lãnh đạo theo kinh nghiệm thâm niên, Nói
chung về khía cạnh rủi ro văn hoá thì Công ty cũng sẽ không gặp phải rắc rối lớ n do hai
quốc gia có nhiều điể m tương đồng về mặt văn hoá, Việt nam cũng không phải là một nước
theo một thứ đạo giáo nào phức tạp. Với riêng Công ty Honda Việt nam như đã trình bày ở
phần trên cho thấy phần lớn các rủi ro do môi trường tác động vào hoạt động kinh doanh
của Công ty Honda Việt nam trên thị trường Việt nam đều có thể hạn chế chủ yếu thông qua
chiến lược marketing của Công ty tại thị trường này. Vì vậy, để có thể thích ứng được với
những thay đổi của môi trường đòi hỏi công tác dự đoán thị trường của Công ty cần phải
quan tâm nhất đến sự thay đổi trong các chính sách của Chính phủ Việt nam về thuế, hạn
chế tốc độ tăng lượng xe máy cho phù hợp với điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông.
3.2. Kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi ro là các hoạt động nhằm làm thay đổi nguy cơ rủi ro của tổ chức, giúp tổ
chức tránh được rủi ro, ngăn ngừa tồn thất, giảm thiểu thiệt hại hay giảm thiểu những ảnh
hưởng không mong muốn của rủi ro tới tổ chức.
3.2.1. Né tránh rủi ro
Là việc né tránh những hoạt động, con người, tài sản làm phát sinh tổn thất có thể có
bởi không thừa nhận ngay từ đầu hoặc bởi loại bỏ nguyên nhân dẫn tới tổn thất đã
thừa nhận.
Biện pháp đầu tiên có thể kể đến của hoạt động né tránh rủi ro là chủ động né tránh trước
khi rủi ro xảy ra để không phải gánh chịu những tổn thất tiềm ẩn hoặc bất định mà rủi ro có
thể gây ra.
Đây là giải pháp khá đơn giản, triệt để và chi phí thấp, tuy nhiên có một số hạn chế:
- Rủi ro và lợi ích song song tồn tại vì vậy nếu né tránh rủi ro cũng có thể mất đi lợi ích có
được từ tài sản và hoạt động đó.

Còn với các kiến trúc dễ cháy như kho chứa nguyên vật liệu và thành phẩm cần xây dựng hệ
thống chống lửa, bố trí các phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy tại chỗ, lắp đặt biển
cảnh báo, bố trí không gian cho thuận tiện trong di chuyển…
3.2.3. Giảm thiểu rủi ro
Là các hoạt động nhằm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra, những hoạt động này
được thực hiện sau khi tổn thất đã xảy ra.
- Cứu lấy những tài sản còn sử dụng được: Cứu lấy những tài sản vẫn còn nguyên vẹn
hay bị hư hỏng một phần, vẫn sử dụng được để tối thiểu hóa tổn thất.
- Chuyển nợ bằng cách mua bảo hiểm.
- Lên kế hoạch giải quyết các hiểm họa để kiểm soát kết quả tức thời của sự kiện hoặc
kiểm soát những hậu quả lâu dài của nó.
- Sự dự phòng khi xảy ra rủi ro gây ra những tổn thất gián tiếp nhằm làm giảm số
lượng thiệt hại bằng cách làm giảm hoặc loại trừ tổn thất gián tiếp.
- Phân chia rủi ro: tức là ngăn cách những rủi ro với nhau thay vì việc cho phép chúng
gây hại cho một sự kiện đơn lẻ nhằm làm giảm bất kỳ sự phụ thuộc giữa những rủi ro
bằng cách làm giảm sự giống nhau mà một sự kiện đơn lẻ tác động toàn bộ những rủi
ro của tổ chức.
• Liên hệ tại Honda:
- Để hạn chế rủi ro về môi trường kinh doanh ở Việt Nam, Honda đã cùng với các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài yêu cầu chính phủ Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư, đa dạng
hóa sản phẩm để đối phó với những thay đổi liên tục môi trường bên ngoài
- Hạ giá thành cũng như cải thiện các dịch vụ chăm sóc khách hàng duy trì khả năng cạnh
tranh
- Huấn luyện nhân viên về các trường hợp an toàn khẩn cấp
3.2.4. Quản trị thông tin
Phòng quản trị rủi ro của công ty phải cung cấp thông tin để xác định hiệu quả của
việc đo lường kiểm soát rủi ro và những mục tiêu trong tương lai họ cần đạt được.
Phương pháp này có ưu điểm là cung cấp thông tin về rủi ro giúp các nhà quản trị rủi
ro đưa ra các biện pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro. Tuy nhiên việc
cung cấp thông tin thiếu chính xác có thể làm cho việc phòng tránh, ngăn ngừa, hạn chế rủi

3.3.2. Các biện pháp tài trợ rủi ro
+ Tự tài trợ: cá nhân hoặc tổ chức tự mình khắc phục các rủi ro tự bù đắp các rủi ro bằng
chính vốn của mình hoặc vốn đi vay. Trong điều nhà quản trị nhân dạng được rủi ro , không
đo lường đc mức độ rủi ro hoặc không cố gắng để xử lí các rủi ro. Khi đó các biện pháp tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status