ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LẠM PHÁT Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Lịch sử đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế, các quốc gia đều
đã từng đối mặt với lạm phát, nhưng không phải lúc nào lạm phát cũng gây ra những
tác động tiêu cực, trong nền kinh tế thị trường, nhiều quốc gia còn sử dụng lạm phát
một con số làm động lực để kích thích nền kinh tế phát triển.
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế xã hội gắn với nền kinh tế thị trường.Nó là
một trong những hiện tượng quan trọng nhất của thế kỷ XXI và đụng chạm tới mọi hệ
thống kinh tế dù phát triển hay không.
Lạm phát được coi là một căn bệnh kinh niên của mọi nền kinh tế hàng hoá tiền
tệ. Nó có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải
pháp chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiểu thì lạm phát có thể xảy ra ở bất
cứ nền kinh tế hàng hoá nào với bất kì chế độ xã hội nào.
Nước ta đang trong giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá sang kinh tế thị
trường,vì vậy nghiên cứu lạm phát đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay để đánh giá
sức khoẻ của nền kinh tế nước nhà.
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nền kinh
tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy
sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương
trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm
bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn
là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm
phát. Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức
phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết
quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà doanh nghiệp mà còn là
nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến
đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững
nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển
kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.
bài nghiên cứu. Từ đó, bằng phương pháp tổng hợp, so sánh để phân tích, đánh giá.
- Lập dàn ý nội dung chi tiết cho bài nghiên cứu, sắp xếp thông tin thành các phần, các
luận điểm cho phù hợp.
- Liên kết các bộ phận thông tin của bài dàn ý thành một bài nghiên cứu hoàn chỉnh.
Chương I: Cơ sở lý luận về tình hình lạm phát
1.1 Khái niệm của lạm phát
Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trường, nó xuất hiện khi các
yêu cầu quy luật kinh tế hàng hóa không được tôn trọng, nhất là quy luật lưu thong tiền
tệ. Ở đâu còn sản xuất hàng hóa, còn tồn lại những quan hệ hàng hóa thì ở đó con tiềm
ẩn khả năng gây ra lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật lưu thông tiền tệ
bị vi phạm. Lạm phát đã trở thành mối quan tâm của nhiều người, do đó lạm phát được
đề cập đến rất nhiều trong công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế. Mỗi người đều
đưa ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm, phương hướng nghiên cứu của mình
Theo Các Mac: Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn ở số lượng vàng
hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của mình: “Điều này có nghĩa là
khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành lưu thông vượt qua số lượng vàng mà
nó đại diện thì giá trị tiền của tiền giấy giảm xuống, giá cả tăng vột, tình hình lạm phát
xuất hiện”. Từ đây ông cho rằng lạm phát là “ bạn đường “ của chủ nghĩa tư bản.
Không những chủ nghĩa tư bản bóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư mà còn gây
ra lạm phát giảm tiền lương của người lao động
- Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng: “ Lạm phát xảy ra khi mức cung của giá cả và chi
phí tăng – Giá bánh mì, xăng dầu, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản
xuất tăng”. Ông cho rằng lạm phát chính là sự biểu thị sự tăng lên của giá cả
- Còn Milton Friedman lại quan niệm khác: Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo
dài.
Một số nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ va phái Keynes đều tán thành ý kiến của
Friedman. Họ cho rằng thị trường tiền tệ phát triển ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân
của mỗi nước thì lạm phát có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào. Nó chính là hiện tượng
tất yếu của tài chính tiền tệ.
- Một khái niệm nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đưa ra và được sử dụng
làm cho chi phí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi.
Điều này khuyến khích nhà sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất. Việc làm được tạo thêm.
Tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm.
- Lạm phát phi mã
+ Lạm phát phi mã xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỉ lệ 2 hoặc 3 con
số một năm. Ở mức phi mã lạm phát làm cho giá cả chung tăng nhanh chóng, gây biến
động lớn về nền kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hóa. Lúc này người đân tích trữ hàng
hóa, vàng bạc, bất động sản không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường.
Loại này khi đã vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng
- Siêu lạm phát
+ Siêu lạm phát (mức độ tăng giá chung ở mức 3 chữ số hàng năm) xảy ra khi
lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh
chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền
lương thực tế bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính
xác, các yếu tố thị trường khác bị biến dạng và hoạt động kinh doanh rơi vào tình trạng
rối loạn. Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra.
Lịch sủ của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển diễn
ra trong thời gian dài vì vậy hậu quả của nó trầm trọng hơn và phức tạp hơn. Vì thế các
nhà kinh tế chia lạm phát thành 3 loại.
Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỉ lệ lạm phát dưới 50% một năm.
Lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm với tỉ lệ lạm phát trên 50%. Siêu lạm
phát kéo dài trên 1 năm với tỉ lệ lạm phát trên 200% một năm
1.3 Biểu hiện của lạm phát
- Sự mất giá của một số loại chứng khoán có giá.
- Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng.
- Số lượng tiền ghi sổ tăng vọt nhanh chóng bên cạnh khối lượng tiền giấy phát hành ra
trong lưu thông.
- Lạm phát còn là công cụ chính sách của nhà nước nhằm kích thích sản xuất chống lại
thất nghiệp bù đắp chi phí thiếu hụt của nhà nước.
- Biểu hiện của lạm phát là tiền giấy bị mất giá, giá cả hàng hóa tăng.
Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thực của những tài sản không có lãi (tức
tiền mặt) mà còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi. Tức là giảm thu nhập
thực tế từ các khoản lãi, các khoản lợi tức. Điều đó xảy ra là do chính sách thuế của nhà
nước được tính trên cơ sở của thu nhập danh nghĩa. Khi lạm phát tăng cao những người
đi vay tăng lãi suất danh nghĩa để bù vào tỉ lệ lạm phát tăng cao, điều đó làm cho số tiền
thuế thu nhập mà người có tiền cho vay phải nộp tăng cao, mặc dù thuế suất vẫn không
tăng. Kết quả cuối cùng là thu nhập ròng (thu nhập sau thuế), thu nhập thực (sau khi đã
loại trừ tác động của lạm phát) mà người cho vay nhận được giảm đi. Suy thoái kinh tế,
thất nghiệp gia tăng, đời sống của người lao đông trở nên khó khăn hơn, sẽ làm giảm
lòng tin của dân chúng đối với chính phủ. Từ đó, những hậu quả về chính trị xã hội có
thể xảy ra.
Nhìn một cách xác thực khi lạm phát xảy ra thì người bị thiệt hại là người làm
công ăn lương, những người cho vay là bị thiệt hại, còn những người có tài sản, những
người đang vay nợ là có lợi. Điều này tạo nên sự phân phối thu nhập không bình đẵng
giữa người cho vay va người đi vay, giữa công nhân và nhà tư bản. Hơn thế nữa, nó còn
thúc đẩy những người kinh doanh tăng cường thu hút tiền vay để đầu tư kiếm lợi. Do
vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinh tế đẩy lãi suất tăng cao. Để tránh
thiệt hại đáng tiếc xảy ra thì chúng ta phải làm thế nào điều đó đã được một số nhà kinh
tế đưa ra bài toán lãi suất cần phải được điều chỉnh sao cho phù hợp đúng với tỉ lệ lạm
phát.
Một cách tổng quan hơn là khi có dự đoán về lạm phát thì người làm ăn kinh tế
ngầm dự trữ vàng, đầu tư vào bất động sản và ngồi chờ lạm phát xảy ra và nhờ bất động
sản đã giàu lên nhanh chóng. Và ngược lại khi giá vàng bị đẩy lùi trở lại thì những kẻ
dự trữ vàng vẫn không bị thiệt hại gì trong tình trạng lạm phát tăng cao, người thừa tiền
và giàu có vơ vét và thu gom hàng hóa, tải sản. Khi ấy nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng
này càng mất cân đối nghiêm trọng quan hệ hàng hóa trên thị trường, giá cả hàng hóa
cũng lên cơn sốt cao hơn. Còn những người làm công đã nghèo nay càng nghèo hơn.
Họ thậm chí không mua nỗi những hàng hóa thiết yếu trong khi những kẻ đầu cơ càng
giàu có hơn. Tình trạng lạm phát như vậy sẽ có thể gây ra những rối loạn trong nền kinh
tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập và mức sống của người nghèo và người giàu.
Tóm lại: hậu quả mà lạm phát gây ra cho nền kinh tế là rất nặng nề và nghiêm
trọng. Lạm phát gây hậu quả đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của một nước. Lạm
phát làm cho việc phân phối thu nhập và sản phẩm xã hội trong nền kinh tế qua giá cả
dã khiến quá trình phân hóa giàu nghèo nghiêm trọng hơn. Lạm phát làm cho một nhóm
này thu được lợi lộc còn nhóm khác thì bị thiệt hại nặng nề. Nhưng suy nghĩ cho đến
cùng gánh nặng lạm phát lại đè lên vai người lao động. Chính người lao động là người
gánh chịu mọi hậu quả của lạm phát.
1.5 Nguyên nhân của lạm phát
- Lạm phát tiền tệ
+ Kinh tế đi vào lạm phát, đồng tiền mất giá có nhiều nguyên nhân dẫn đến
lạm phát. Chẳng hạn thời tiết không thuận lợi, mất mùa, nông dân thu hoạch thấp, giá
lương thực tăng lên. Giá nguyên vật liệu tăng làm cho giá cả hàng tiêu dùng tăng lên.
Khi tiền lương tăng chi phí sản xuất cũng tăng lên dẫn đến các mặt hàng cũng tăng.
Tăng lương đẩy giá lên cao. Tóm lại, lạm phát là hiện tượng tăng liên tục mức giá
chung và có thể giải thích theo 3 cách
Theo học thuyết tiền tệ, lạm phát là hiện tượng tăng quá thừa mức cung tiền.
+ Theo học thuyết Keynes, lạm phát xảy ra do thừa cầu về hàng hóa và dịch
vụ trong nền kinh tế.
+ Theo học thuyết chi phí đẩy, lạm phát xảy ra khi tăng chi phí sản xuất.
Trên thực tế lạm phát là kết quả của tổng thể 3 nguyên nhân trên. Mỗi nguyên
nhân có vai trò khác nhau ở mỗi thời điểm khác nhau.
Mức cung tiền là một biến số duy nhất trong đẳng thức tỉ lệ lạm phát, mà dựa
vào đó ngân hàng Trung ương tạo ra ảnh hưởng trực tiếp. Trong việc chống lạm phát
các ngân hàng Trung ương luôn giảm sút việc cung tiền
Tăng cung tiền có thể đạt được từ hai cách
+ Ngân hàng Trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi suất thấp, điều kiện kinh
doanh tốt)
+ Ngân hàng thương mại có thể tăng tín dụng.
Trong cả 2 trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí. Về
mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hóa và dịch vụ tăng. Nếu cung
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu. Nguyên nhân chính là do
tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kip.
Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến cầu về hàng hóa,
dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những nhân tố phi tiền tệ,
sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hóa
vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dụng máy móc
với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự gia tăng
của cầu. Sự mất cân đối đó sẽ được giá cả lấp đầy. Lạm phát do cầu tăng hay lạm phát
cầu kéo được ra đời từ đó.
Do đầu tư bao gồm đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp tăng, làm nhu
cầu về nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị công nghệ tăng. Thu nhập dân cư, kể cả thu
nhập do xuất khẩu lao động và người than từ nước ngoài gởi về không được tính vào
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng tăng, làm xuất hiện một bộ phận dân cư những
nhu cầu mới cao hơn. Biểu hiện rõ nhất của lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu
lương thực trê thị trường thế giới tăng làm giá xuất khẩu tăng kéo theo cầu về lương
thực trong nước cho xuất khẩu tăng. Trong khi đó nguồn cung trong nước do tác động
của thiên tai, dịch bệnh không thể tăng kịp. Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát
cầu kéo, đẩy giá một số hàng hóa và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo.
- Lạm phát chi phí đẩy
Hình 2: Lạm phát chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng và tăng thêm thất
nghiệp nên còn gọi là lạm phát “đình trệ”. Hình thức của lạm phát này phát sinh ra từ
phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển qua người tiêu dùng. Điều này
chỉ có thể được trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với
giá cao hơn.
Giá nguyên liêu, nhiên liệu (đặc biệt là xăng đầu, các sản phẩm hóa dầu, thép và
phôi thép) trên thế giới những năm gần đây tăng mạnh. Trong điều kiện kinh tế nước ta
phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu (nhập khẩu chiếm đến 90% GDP) giá nguyên liệu
nhập tăng làm tăng giá thị trường trong nước.
Ví Dụ:
Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn được
chuyển cho người tiêu dùng nội địa. Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội tệ yếu
đi hoặc mất giá so với đồng tiền khác. Ngoài yếu tố tâm lý dân chúng, sự thay đổi chính
trị, an ninh quốc phòng. Song nguyên nhân trưc tiếp vẫn là số lượng tiền tệ lưu thông
vượt quá số lượng sản xuất hàng hóa ra. Việc tăng đột ngột thuế VAT cũng làm tăng
chỉ số giá.
- Các nguyên nhân khác
Giữa lạm phát và lãi xuất khi tỉ lệ lạm phát tăng lên, lãi xuất danh nghĩa tăng
theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càn giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này đặc
biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát. Tiền mất giá càng nhanh, tăng mức độ gởi tiền
vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hay đẩy ra thị trường để mua về mọi hàng hóa có thể
dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hóa và tiếp tục đẩy giá lên
cao.
Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn, các chính phủ có thể in
thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên một nguyên nhân gây ra lạm
phát. Và một khi giá cả tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi hỏi phải in thêm 1
lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường xảy ra
trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy nhiên chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay
dân thông qua bán tín phiếu. Lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có
nguy cơ lạm phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc
lẫn lãi) phải lớn đến mức phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát mạnh là
điều chắc chắn.
Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước, chính sách thuế, chính
sách cơ cấu kinh tế không phù hợp. Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi phí đầu vào,
nguyên nhân do nước ngoài.
Chương II: Tình hình lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay
2.1 Tình hình lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2008 đến 2010
Tình hình lạm phát ở Viêt Nam trong giai đoạn 2008-2010 diễn biến khá phức
tạp. Để tìm hiểu rõ hơn diễn biến lạm phát trong giai đoạn này, ta tiến hành phân tích
từng năm 2008, 2009, 2010.
những đột biến, để rồi tăng dần và dựng ngược lên trong tháng tận cùng của năm, hiện
thực hóa phần cảm nhận lơ lửng đâu đó về nguy cơ tái lạm phát.
Trong tháng 1/2009 CPI lên nhẹ 0,32%. Nhưng đến tháng 2, Tết Kỷ Sửu và rằm
tháng Giêng kéo giá lương thực, thực phẩm và nhiều loại hàng hóa, dịch vụ đồng loạt
lên mức cao. Ở đỉnh cao thứ nhất, CPI tăng 1,17%, trước khi đảo chiều giảm âm 0,17%
trong tháng 3 ngay sau đó.
Từ tháng 4 đến tháng 8 chỉ số giá hạ nhiệt chỉ còn tăng 0,24% trong tháng 8.
Mức chênh lệch trong giai đoạn này chỉ 0,31 điểm phần trăm và gần như không có đột
biến lớn. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tính cho tới tháng
8/2009 đã có sự cải thiện. So với cùng kỳ năm trước, mức tăng đạt 18,4%, loại trừ yếu
tố giá còn tăng 9,3%. Trong khi đó, giá một số nguyên liệu trên thế giới bắt đầu hồi
phục, đặc biệt là mặt hàng xăng dầu. Tính cho đến ngày 30/8, giá xăng dầu đã tăng 7
lần liên tiếp, chốt lại mặt bằng giá mới ở mức xăng A92 có giá bán 15.700 đồng/lít.
Bước sang tháng 9, đã xuất hiện những diễn biến “ngược dòng”. CPI đạt đỉnh ở
mức tăng 0,62% rồi tạm “nghỉ” ở mức tăng 0,37% của tháng 10 sau đó. So với chu kỳ
trước, các con số đỉnh và đáy tương ứng đều cao hơn, báo hiệu những lo ngại tiềm ẩn
của lạm phát tiếp tục gia tăng. Sự điều chỉnh nhỏ trong tháng 10 được hỗ trợ một phần
từ việc giá xăng dầu giảm lần đầu tiên trong năm vào ngày 1/10. Giá lương thực, thực
phẩm chỉ tăng rất nhẹ so với tháng trước đó.
Về tác động của tăng giá trên thị trường thế giới, đến tháng 11/2009, giá gạo 5%
tấn xuất khẩu của Việt Nam tăng lên mức 451,31 USD/tấn. Do có quyền số cao tới hơn
40% trong rổ hàng hóa tính CPI, tăng giá lương thực tác động mạnh đến giá cả trong
nước, CPI nhóm hàng này tháng 12/2009 đã tăng 7,54% so với một năm trước đó.
Năm 2009 khép lại với chỉ số giá chấp nhận được trong tất cả các mức so sánh.
Nhưng sự gia tăng mạnh mẽ chỉ số CPI tháng cuối cùng của năm khiến niềm vui chưa
thể trọn vẹn trong những ngày đón năm mới 2010.
2.1.3. Tình hình lạm phát trong năm 2010
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 như hình chiếc cốc, tạo bởi mức
chênh lệch giữa tháng tăng đỉnh và đáy lên đến hơn 1,5%, khá tương đồng với năm
2007. Hai điểm cao nhất đều được tạo thành từ mức tăng xấp xỉ 2% của tháng 2 và
Chính phủ ban hành Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo hướng tập
trung đầu mối nhập khẩu vàng, tiến tới xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị
trường tự do; ngăn chặn hiệu quả các hoạt động buôn lậu vàng qua biên giới.
- Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách
nhà nước
Tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế: tập
trung xử lý các khoản nợ đọng thuế, triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu
hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới.
Chủ động sắp xếp lại các nhiệm vụ chi để tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên
của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 (không bao gồm chi tiền lương và các
khoản có tính chất lương, chi chế độ chính sách cho con người và tiết kiệm 10% chi
thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương theo kế hoạch đầu năm).
Giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP. Giám sát
chặt chẽ việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp, nhất là vay ngắn hạn. Thực
hiện rà soát nợ Chính phủ, nợ quốc gia, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng đối tượng
phạm vi bảo lãnh của Chính phủ. Bảo đảm dư nợ Chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước
ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam giảm tối thiểu 10% kế hoạch tín dụng đầu tư từ
nguồn vốn tín dụng nhà nước.
- Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng
tiết kiệm năng lượng
Trong quý II năm 2011, ban hành và thực hiện quy định về điều tiết cân đối cung
- cầu đối với từng mặt hàng thiết yếu, bảo đảm kết hợp hợp lý, gắn sản xuất trong nước
với điều hành xuất nhập khẩu. Thường xuyên theo dõi sát diễn biến thị trường trong
nước và quốc tế để kịp thời có biện pháp điều tiết, bình ổn thị trường, nhất là các mặt
hàng thiết yếu. Chủ động có biện pháp chống đầu cơ, nâng giá.
Xây dựng kế hoạch điều hành xuất, nhập khẩu, phấn đấu bảo đảm nhập siêu
không quá 16% tổng kim ngạch xuất khẩu. Xây dựng quy trình, nguyên tắc kiểm soát
nhập khẩu hàng hóa, vật tư, thiết bị của các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà
nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn do Chính phủ bảo lãnh, vốn đầu tư của doanh
23% đã giảm, đến 8/2012 chỉ còn 5%. Một nguyên nhân quan trọng của kết quả nêu
trên là việc, Ngân hàng Nhà nước đã bơm tiền ra thị trường bằng các kênh chính thức
(như hỗ trợ đầu tư, kể cả trái phiếu chính phủ, hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng
thương mại qua thị trường mở) và sau đó bằng các biện pháp nghiệp vụ đã thu tiền về
nhanh, làm cho việc cung tiền (qua M2) danh nghĩa thì lớn, nhưng tiền (nhất là tiền
mặt) thực sự tham gia lưu thông thì ít hơn.
2.2.1 Tình hình lạm phát trong năm 2011
Tình hình lạm phát từ đầu năm 2011 đến nay. Bước vào năm 2011, tình hình
trong nước và quốc tế đã xuất hiện những khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới có
những diễn biến phức tạp: Tăng trưởng kinh tế chậm lại, giá lương thực, thực phẩm,
dầu thô và nguyên vật liệu cơ bản trên thị trường quốc tế tiếp tục tăng cao, thị trường
chứng khoán sụt giảm mạnh, nợ công Châu Âu lan rộng, kinh tế Nhật Bản trì trệ sau
thảm hoạ kép, lạm phát toàn cầu và các nước trong khu vực tăng cao, bất ổn chính trị ở
Trung Đông.
Hình 7: Diễn biến CPI năm 2011
Trong nước, nền kinh tế tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức
lớn hơn so với dự báo cuối năm 2010. Tăng trưởng kinh tế (GDP) có xu hướng chậm
lại. Lạm phát tiếp tục gia tăng, mặt bằng lãi suất cao, giá vàng biến động khó lường, tổn
thất do rét đậm, rét hại kéo dài ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ đã tác động bất lợi đến sản
xuất nông nghiệp và đời sống nông dân
Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã lên đến mức cao nhất trong vòng hai năm qua, với
gần 14% trong tháng 3/2011 , trong khi chính quyền đang cố gắng ổn định nền kinh tế
sau thời gian dài dành ưu tiên cho việc tăng trưởng.
Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tăng với nhịp độ 13,9%
hàng năm. Nạn lạm phát là một trong những nỗi lo hàng đầu của các chính phủ châu Á,
nhưng ở Việt Nam lại càng đáng lo hơn. Tỷ lệ lạm phát trong quý 1 năm nay tăng trung
bình 12,79% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu là do giá thực phẩm tăng 17%.
Vào thời gian này, chính phủ tuyên bố sẽ theo đuổi “một chính sách tiền tệ chặt
chẽ và thận trọng”, với việc “giảm bớt đầu tư vào khu vực công và quản lý thâm hụt
thương mại” vốn đã lên đến 12,4 tỉ đô la trong năm 2010.
như các yếu tố đầu vào khác (xăng, dầu, điện) dự báo sẽ tiếp tục có những diễn biến
khó lường trong những tháng cuối năm.
Lạm phát tăng cao tác động đến xu hướng tăng mạnh của lãi suất huy động và
cho vay trên thị trường. Trước tình hình đó, NHNN đã ban hành thông tư 02/2011/TT-
NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam không vượt quá
14%/năm, nhằm tránh một cuộc đua lãi suất không lành mạnh giữa các ngân hàng, gây
bất ổn cho hệ thống. Tuy nhiên, với trần lãi suất 14%/năm, cùng với việc tỷ lệ lạm phát
so với cùng kỳ đã lên đến 20,82%, lãi suất huy động và cho vay thực đang ở mức âm.
Vì thế, trong thời gian qua các ngân hàng thương mại đã “xé rào” lãi suất huy động cả
VND và USD, huy động vốn với mức lãi suất bình quân khoảng 17-18%/năm, lãi suất
cho vay VND bình quân thực tế khoảng 18,74%/năm, trong đó lãi suất cho vay lĩnh vực
phi sản xuất đã lên đến 22-25%/năm, lãi suất huy động USD với mức 3-3,5%/năm, cao
hơn mức quy định là 2%. Cuộc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng nếu không được
ngăn chặn triệt để sẽ có thể đem lại những hệ lụy lớn cho nền kinh tế và hệ thống ngân
hàng, đây là một áp lực lớn đối với cơ quan điều hành CSTT và hệ thống ngân hàng
trong thời gian tới.
Được tạo đà từ kỳ trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2011 tiếp tục hạ thấp
hơn, khi tăng 0,82% so với tháng 8. Góc nhìn tích cực là CPI đang tạo thành xu hướng
đi xuống với tốc độ tăng tháng sau so với tháng trước thấp dần trong khoảng 2 tháng
gần đây. Tuy nhiên, biên độ điều chỉnh không nhiều là điểm cần chú ý ở góc độ nhìn
nhận tác động vĩ mô.
So với chuỗi chỉ số giá tiêu dùng các tháng 9 của khoảng 15 năm gần đây, CPI
tháng này đứng thứ ba về mức tăng, chỉ thấp hơn tháng 9 năm 1998 và 2010, cho thấy
lạm phát còn tăng bất thường.
Với mức tăng vẫn treo khá cao, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 so với cuối năm
ngoái đã tăng 16,63%, cao hơn tới gần 1 điểm phần trăm so với con số được Tổng cục
Thống kê công bố tháng trước. Sức tăng CPI theo tháng như hiện nay là thách thức lớn
với mục tiêu kiềm chế lạm phát năm nay, mới được điều chỉnh lên khoảng 18%. Nhưng
do chỉ số giá theo tháng thấp hơn tháng 9 năm ngoái, CPI so với cùng kỳ đã rời đỉnh
23,02% tại tháng trước xuống chỉ còn tăng 22,42% trong tháng này, kết thúc chuỗi tăng
So với tháng 12/2010, CPI tháng 10/2011 tăng 17,05%, so với tháng 10 năm
2010 tăng 21,59%. 10 tháng đầu năm 2011, CPI cả nước tăng 18,5% so với cùng kỳ
năm 2010.
Không nằm trong nhóm các mặt hàng tính chỉ số giá, chỉ số giá vàng tháng 10
giảm 4,22% và chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,39% so với tháng trước.
2.2.2 Tình hình lạm phát trong năm 2012
Hình 8: Diễn biến CPI năm 2012
Như dự báo trước của nhiều tổ chức, lạm phát của Việt Nam năm nay chỉ tăng
6,81%, thấp hơn nhiều so với ngưỡng dưới 10% mà Chính phủ đặt mục tiêu. Theo công
bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm nay tăng 0,27% so
với tháng 11 và tăng 6,81% so với tháng 12/2011. CPI bình quân năm 2012 tăng 9,21%
so với bình quân năm 2011. Tháng 12 so với tháng 11, nhóm may mặc, mũ nón, giày
dép tăng mạnh nhất tới 1,17%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng cao hơn mức
tăng chung nhưng cũng đều dưới 1% là thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%, văn
hóa, giải trí và du lịch tăng 0,34%, đồ uống và thuốc lá tăng 0,32%. Nhóm có tỷ trọng
lớn nhất trong “rổ” hàng hóa tính CPI là hàng ăn và dịch vụ ăn uống chỉ tăng khiêm tốn
là 0,28% (Lương thực tăng 0,13%, thực phẩm tăng 0,28%, ăn uống ngoài gia đình tăng
0,4%).
Những nhóm hàng “nhạy cảm”, vốn tác động mạnh tới CPI trong nhiều tháng
trước thì ở tháng này, lại tăng thấp hơn cả mức tăng chung. Đó là nhà ở và vật liệu xây
dựng chỉ tăng 0,15%, nhóm giáo dục tăng 0,09% trong đó, dịch vụ giáo dục tăng
0,05%, nhóm giao thông giảm 0,43% Sau 2 tháng liên tiếp tăng kỷ lục tới 10-20%,
Chính phủ yêu cầu giãn thời gian tăng giá viện phí thì các thuốc và dịch vụ y tế chỉ còn
tăng 0,14%, trong đó, dịch vụ y tế tăng 0,03%.
Nhìn lại năm 2012, Tổng cục Thống kê đánh giá, lạm phát năm nay chỉ “nhỉnh”
hơn mức tăng 6,52% của năm 2009 – năm suy giảm kinh tế mạnh và thấp hơn nhiều so
với mức tăng 11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13% của năm 2011. Dù cách xa so
với mục tiêu CPI đề ra ban đầu thì năm 2012 vẫn là năm giá có nhiều biến động bất
thường. Cơ quan này phân tích, CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm (tăng
1,0% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức
kinh tế, trong khi những nhân tố làm gia tăng lạm phát có tác động với cường độ mạnh
hơn như:
Đầu tư toàn xã hội vẫn phải duy trì ở mức cao, tiền lương trong tất cả các khu
vực đã tăng cao hơn (từ 01/05/2011 tiền lương cơ bản của khu vực hành chính, sự
nghiệp đã tăng lên 830.000 VNĐ/tháng so với trước đây là 730.000 VNĐ/tháng, theo
kế hoạch đến 01/05/2012 tiền lương khu vực này sẽ tăng lên 1.050.000 VND/năm). Giá
dầu trên thế giới còn nhiều bí ẩn, và có thể vẫn giữ ở mức cao như hiện nay, thậm chí
còn có thể cao hơn hiện nay nếu kinh tế thế giới năm 2012 và những năm sau phục hồi
và nhất là tình hình khủng hoảng chính trị trong khu vực Trung Đông và Bắc Phi không
được cải thiện (hiện nay là khoảng 104 USD/thùng).
Cần phải thực hiện đồng loạt nhiều biện pháp một cách thông minh, khôn khéo
mới có thể kiềm chế lạm phát ở mức mong muốn mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng
kinh tế. Có thể gợi ý một vài biện pháp sau:
- Không thể giảm mạnh tổng cầu để kiềm chế lạm phát được, bởi vì, nó sẽ có tác động
làm giảm tỷ lệ tăng trưởng. Tuy nhiên, có thể thông qua chính sách tiền tệ để vẫn giữ lãi
suất ở mức vừa phải nhằm thúc đẩy đầu tư mà vẫn kiềm chế được mức tổng cầu tiền tệ,
nhất là đối với những khoản cầu tiền tệ không cần thiết cho nền kinh tế. Chính sách tiền
tệ cần thực hiện một cách linh hoạt và kịp thời theo thực tế diễn biến của nền kinh tế.
Ngân hàng Nhà nước đưa tiền ra và rút tiền về một cách hợp lý sẽ góp phần kiềm chế
lạm phát và kích thích tăng trưởng kinh tế. Có thể rút kinh nghiệm về điều hành chính
sách tiền tệ của năm 2009. Bởi vì, năm 2009, Chính Phủ đã thực hiện một cách thành
công các chính sách vừa kiềm chế lạm phát và vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giúp
nền kinh tế phuc hồi nhanh sau khủng hoảng. Kết quả là lạm phát năm 2009 được kiềm
giữ ở mức 6,52%, trong khi tăng trưởng kinh tế đạt 5,32%, được xem là mức tăng
trưởng nhanh trong khu vực lúc bấy giờ. Tuy nhiên, trong năm 2010, chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Nhà nước có những điểm hạn chế và gây hệ lụy cho năm 2011 làm cho
lạm phát năm 2011 gia tăng đột biến, trong khi lạm phát ở các nước trong khu vực và
trên thế giới không tăng cao như ở Việt Nam.
- Về giảm cầu chi tiêu công của Chính phủ. Trước hết, Chính phủ phải đảm bảo kỷ luật
ngân sách, kiên quyết giảm dần thâm hụt ngân sách qua các năm. Thâm hụt ngân sách