luận văn hay đại học sư phạm chuyên nghành ngữ văn DIỄN XƯỚNG HÁT XOAN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI ( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGHỆ NHÂN NGUYỄN THỊ LỊCH) - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học dân gian là di sản vô cùng quý báu đối với mỗi dân tộc. Với
bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào văn học dân gian cũng là tài sản vô giá. Hiện
nay Đảng ta yêu cầu là xây dựng một nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc
dân tộc và nền văn hóa ấy chỉ có thể là sự kết hợp thống nhất những tinh hoa
văn hóa của các dân tộc trong vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam. Bởi “ Di sản
văn hóa là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân
tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng
bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống , văn hóa cách
mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu
rộng những đạolý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại” ( Trích văn kiện Hội nghị
lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa VIII. NXB Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội, 1998).
Cũng như các loại hình dân gian khác Hát Xoan Phú Thọ là loại hình
nghệ thuật độc đáo và có ý nghĩa lớn trong đời sống tinh thần của người dân
Phú Thọ. Việc nghiên cứu về Hát Xoan dưới nhiều góc độ như nội dung, ngôn
ngữ, văn hóa dân gian…
Nhưng ở phương diện nghệ thuật trình diễn và “linh hồn” ( nghệ nhân
dân gian) của Hát Xoan vẫn chưa được nghiên cứu sâu rộng và kĩ càng.
Người viết muốn tìm hiểu và nghiên cứu loại hình nghệ thuật này ở góc độ
diễn xướng và nghệ nhân dân gian để làm phong phú thêm bức tranh muôn
màu về loại hình độc đáo này cũng như những giá trị tinh thần của người dân
Phú Thọ.
Hát Xoan Phú Thọ được tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc công
nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp tháng
11/2011 tại thành phố BaLi- Indonesia. Đây vừa là niềm vinh dự, tự hào của
tỉnh Phú Thọ nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung, đồng thời cũng là
thử thách trước một di sản văn hóa truyền thống của dân tộc có nguy cơ bị
1
1

2
* Cuốn Hát Xoan dân ca lễ nghi - Phong tục do tác giả Tú Ngọc biên soạn
[1958]. Nội dung cuốn sách đề cập và đi sâu nghiên cứu 07 nội dung chính như:
1/Quê hương hát Xoan - Đất Tổ các Vua Hùng; 2/Hát Xoan: Những địa danh, tổ
chức phường họ, quá trình diễn xướng; 3/Nguồn gốc và quá trình phát triển;
4/Hát Xoan và dân ca nghi lễ - Phong tục của người Việt; 5/Thành tố văn
chương (ca từ) trong hát Xoan; 6/Thành tố âm nhạc trong hát Xoan; 7/Hát Xoan
- Truyền thống và hiện đại. Tại trang 36 trong chương 2 của cuốn sách này có đề
cập đến quá trình diễn xướng.
* Cuốn Hát Xoan Phú Thọ do tác giả Nguyễn Khắc Xương, Hội Văn nghệ
Dân gian biên soạn [Tháng 12/2088]. Nội dung cuốn sách đề cập đến 05 vấn đề
chính như: 1/Hát Xoan, tiếng hát đình đám mùa Xuân trên đất Tổ Phú Thọ, trong
phần này bao gồm các nội dung: tiếng hát hội làng mùa Xuân; địa lý hành chính
vùng hát Xoan; các địa phương Xoan giữ cửa đình và lịch hát; địa lý kinh tế các
làng hát Xoan; vài nét về truyền thống văn hóa quê Xoan. 2/Hát Xoan, diễn
xướng lễ hội truyền thống - về tổ chức và tục lệ của hát Xoan, ở đây bao gồm
các vấn đề nhỏ như: mùa hát Xoan, tục giữa cửa đình và kết nghĩa; tục lệ đưa
đón, tiếp đãi; phương thức trình diễn hát Xoan; vài tục lệ về hát Xoan ở một số
địa phương; hát Xoan, một hình thức diễn xướng dân gian. 3/Về nội dung hát
Xoan, lễ ca và tiệc Xuân. 4/Mấy vấn đê văn hóa của hát Xoan kết cấu, các quả
cách. 5/Thử tìm hiểu quá trình ra đời và phát triển của hát Xoan với các nội
dung: bài bản hát Xoan; hát Xoan - 04 bài lề lối mở đầu cuộc hát; các quả cách
hát thờ chính; các bài lề lối sau hát thờ. Đặc biệt, trong cuốn sách này có nói tới
hát Xoan- một hình thức diễn xướng dân gian từ trang 57 tới trang 68.
2.2. Các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án:
* Đề tài Hát Xoan, hát Ghẹo một giá trị văn hóa phi vật thể do tác giả Cao
Hồng Phương chủ biên. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Hùng
Vương. Nội dung công trình này tập trung vào ba vấn đề lớn như sau: 1/Ca nhạc
dân gian vùng đất Tổ; 2/Hát Xoan, hát Ghẹo một giá trị văn hóa phi vật thể tỉnh
Phú Thọ; 3/Một số bài hát Xoan, hát Ghẹo cổ; 4/Giữ gìn và phát triển hát Xoan,

“Những giải pháp đưa hát Xoan vào trong trường học”, từ trang 44 đến trang
4
4
47 đề cập tới các hoạt động đào tạo truyền nghề các làn điệu hát Xoan và đưa
ra những giải pháp cụ thể.
Có thể nói, các công trình nghiên cứu về các làn điệu hát Xoan nói
chung ở tỉnh Phú Thọ là những nghiên cứu lý luận và thực tiễn vừa mang tính
khái quát lại vừa mang tính cụ thể, công trình nghiên cứu về diễn xướng hát
Xoan hiện đại không nhiều, cũng chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về
nghệ nhân dân gian hát Xoan mà chỉ là một vài ý kiến của nghệ nhân được
ghi lại trên báo chí theo nguồn Internet đã ghi lại.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “ Diễn xướng Hát Xoan trong đời sống xã hội đương
đại” (Nghiên cứu trường hợp nghệ nhân Nguyễn Thị Lịch) nhằm các mục
tiêu:
- Đưa ra các tên gọi khác nhau về Hát Xoan trong dân gian và giải thích về
tên gọi “chính thống” là Hát Xoan, giải thích về nguồn gốc Hát Xoan trên ba
phương diện: Văn hóa dân gian, truyền thuyết và văn bản.
- Khẳng định nghệ thuật trình diễn và tài năng của nghệ dân gian là sức
sống, linh hồn của hát Xoan.
- Xoan với cuộc sống đương đại của người Phú Thọ và việc bảo tồn bằng yếu
tố con người.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghệ thuật trình diễn Hát Xoan và nghệ nhân Nguyễn Thị Lịch
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu chuyên nghành như: Sưu tầm- điền dã
Nghiên cứu đề tài này, người viết đã đi thực tế ở làng Xoan An Thái- Kim
Đức, gặp nghệ nhân Nguyễn Thị Lịch là trùm phường và trực tiếp tham gia
lớp học để tìm hiểu rõ hơn về loại hình nghệ thuật dân gian cổ độc đáo này.
(Ngoài sưu tầm các bài hát do nghệ nhân cung cấp thì qua việc điền dã thực tế

thống này có rất nhiều tên gọi khác nhau:
Dưới thời Lê sơ, khi mà các hình thức ca nhạc được gọi chung là “khúc
môn đình” theo nghĩa rộng của người Việt được thiết lập cùng với sự xuất
hiện của các ngôi đình và các lễ nghi thờ thần do nhà nước quy định. Hát
Xoan mang 2 thông điệp về văn hóa: Đó chính là nội dung cầu chúc, khẩn
nguyện, thờ lễ và trữ tình, giao duyên. Nay cách gọi là hát Khúc đình môn
(hát cửa đình) vì được trình diễn tại đình đền.
Trong dân gian thống nhất gọi lối hát này là hát Lãi Lèn, vì bắt nguồn
từ câu hát đệm chính của Xoan: “Lý len… len là… lễ là… len hỡi là len…”
và cũng chính vì vậy mà ngôi miếu ở làng Phù Đức - nơi các phường Xoan
gốc đến hát đầu năm trước khi đi hát ở các cửa đình khác gọi là miếu Lãi Lèn
[2;66-68]
Nam nữ hát đối đáp thường gọi hình thức dân gian truyền thống này là :
“Hát Đúm” bởi câu hát khi biểu diễn có lúc kết hợp lối chơi đúm trong các
đoạn đối đáp với quả đúm là một mảnh vải điều được cuộn tròn bên trong
chứa trầu cau được hai bên nam nữ tung qua tung lại:
“ Đúm này em dặn thì nghe
Đúm bay cho tới áo the đúm vào
Đúm vào người hỏi làm sao?
Em là quả đúm em vào kết duyên
Cành xanh lá phấn chỉ tấn tơ tần
Se một mối chăn loan gối phượng
Đẹp no đôi, thương với nao nhớ với nào
Khoan khoan quả đúm đưa vào chàng có yêu chăng?”
7
7
Theo nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Khắc Xương: “Xoan thường
được hát vào mùa xuân nên ngày xưa còn gọi là hát Xuân, đọc chệch ra thành
hát Xoan. Hát Xoan là loại hình hát thờ vào mùa xuân và chỉ hát với đình chứ
không hát với miếu hay đền”[8;123]. Và trong quá trình người viết đi điền dã

Theo truyền thuyết Hùng Vương, “hát Xoan” có từ thời dựng nước với
sự tích: Ngày xưa, có ba anh em vua Hùng đi tìm đất qua thôn Phù Đức vào
buổi trưa và có nghỉ lại một khu rừng gần thôn. Từ khu rừng, các vị nhìn ra
bãi cỏ trước mặt thấy có đám trẻ chăn trâu vừa chơi, vừa hát, vừa đánh vật,
kéo co. Thấy vậy, Đức Thánh Cả liền bảo những người đi theo đem những bài
hát mà họ biết dạy thêm cho lũ trẻ. Từ đó về sau hàng năm cứ đến ngày 30
tháng Chạp âm lịch, dân làng phải làm bánh nẳng để cúng vào buổi trưa và
thịt bò cúng vào buổi chiều ở miếu “Lãi Lèn” để thờ Đức Thánh Cả (vì dân
trong thôn đã đãi Đức Thánh Cả hai món đó). Tới ngày mồng hai, mồng ba
tháng giêng âm lịch thì dân Phù Đức mở hội cầu, trong hội cầu họ diễn lại
cảnh hát xướng, kéo co, đánh vật ở bãi. Lệ hàng năm phải hát xướng, cầu
chúc bắt nguồn từ sự việc ấy [15; 72].
Dân làng Thét xã Kim Đức- Việt Trì kể rằng: Thời xưa có một năm dân
làng Phù Liên thuộc xã Kim Đức ngày này, cử người sang làng Tử Du (thuộc
huyện Lập Thạch ngày nay) lấy gỗ về làm đình. Trong khi đang làm gỗ có
người làng Tử Du cất tiếng hát nghêu ngao, lúc kéo gỗ về làng lại thấy dấu
chân lạ in trên gỗ. Từ đó về sau dân làng Tử Du sống không yên, gặp tai họa,
trắc trở. Để cuộc sống an lành trở lại an khang no đủ, hàng năm vào ngày hội
hội, dân làng Tử Du sang đón phường Xoan bên Phù Liễn sang hát thờ và hai
làng giao ước kết nghĩa.[15;72]
Dân làng Cao Mại nay thuộc xã Việt Tiến huyện Phong Châu có truyền
tục một câu chuyện truyền thuyết liên quan đến tục Hát Xoan: Đức thánh
Hùng tức Vua Hùng có một người con gái lấy Đức Thánh Phù tức Chử Đồng
Tử, một hôm Đức thánh Phù đưa vợ đi du xuân qua vùng đất Phù Ninh chơi.
Đang đi chơi thì vợ đau bụng trở dạ, đã có nhiều phương thuốc cứu chữa
nhưng vẫn không dứt cơn đau, nhưng khi đi qua đường An Thái nghe thấy
9
9
tiếng hát của người đàn bà ru con thì cơn đau dịu lại. Đức Thánh Mẫu cho gọi
người đàn bà đến vừa hát vừa dìu mình về nhà, và ngày mồng 6 tháng Giêng

lý nói lên cốt lõi của tục Hát Xoan từ những truyền thuyết đó là: Lối hát này
chỉ có thể sinh ra khi việc tế thần cấu mong cuộc sống no đủ an khang trong
cộng đồng làng xã đã trở thành tập tục.
Để làm rõ nguồn gốc và quá trình phát triển của hát Xoan, bên cạch
việc tìm hiểu các cơ tầng văn hoá, tín ngưỡng, tìm hiểu các dấu vết lịch sử
trong đó nổi bật lên văn hóa Nho giáo ở thế kỷ XV.(Theo tác giả Tú Ngọc
trong cuốn: Hát Xoan): “Chúng ta phải biết gắn với diễn trường của nó là
không gian hành lễ mà nổi bật là kiến trúc đình làng. Để tìm hiểu các dấu vết
lịch sử, thần phả, thần tích, trong đó nổi bật là văn hoá của người Việt cổ và
văn hoá Nho giáo ở các thế kỷ sau, chúng ta cần tiếp cận vấn đề ở một
phương diện khác. Đó là sự so sánh, đối chiếu giữa Hát Xoan và một số hình
thức diễn xướng cùng loại, trong văn hoá dân gian người Việt ở trung du,
đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Trung Bộ”. Với cách tiếp cận này,
không những chúng ta có thể làm sáng tỏ vấn đề nguồn gốc, quá trình phát
triển mà còn giúp ta làm sáng tỏ hơn nữa bản chất, đặc trưng thể loại của hát
Xoan, một loại hình dân ca nghi lễ - phong tục.[15;82-85].
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về sự ra đời của hình thức nghi
lễ trong hát Xoan, với những sự so sánh, đối chiếu giữa các lối hát, cách trình
bày của từng làn điệu. So sánh lối diễn xướng, trình tự các tiết mục trong hát
Xoan với dân ca các vùng sẽ thấy rất rõ những điểm tương đồng và không
tương đồng giữa chúng. “Điều tương đồng nói lên nguồn gốc ban đầu của
những lối hát này là nó đều xuất phát từ tín ngưỡng thờ tế thần linh, tổ tiên,
thành hoàng… Chức năng ban đầu và chức năng xuyên suốt của chúng là
phục vụ và bám sát nghi thức tế lễ, rồi trên cơ sở đó kết hợp với sinh hoạt văn
hoá, giải trí. Những chỗ khác nhau ngày càng sâu và càng rộng, tạo ra vị thế
độc lập của mỗi hình thức diễn xướng, do chúng phát triển trong những điều
kiện kinh tế - xã hội khác nhau và đi theo khuynh hướng nội sinh và ngoại
sinh khác nhau. Trong phần này, người ta thường chỉ đề cập đến một số loại
11
11

khoẻ mạnh, gây được không khí tưng bừng cho ngày hội. Chính vì thế, hát
Xoan được xem như một dạng thức “Hội Làng”[18;308]:
“ Hội làng là một sinh hoạt tổng hợp mang tính nguyên hợp folklore,
bao gồm nhiều thành tố: nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo, mỹ thuật, âm nhạc, vũ
đạo, trò diễn, sân khấu các nghi thức biểu hiện của nó là rất linh hoạt giữa
các yếu tố: nói, kể, hát, diễn, trưng bày GS.TSKH Phan Đăng Nhật cho
rằng: "Lễ hội là một pho lịch sử khổng lồ, ở đó tích tụ vô số những lớp phong
tục, tín ngưỡng, văn hóa, nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội - lịch sử quan
trọng của dân tộc" "Lễ hội là một bộ sách bách khoa đồ sộ, là một bảo tàng
sống về đời sống tinh thần của người Việt".
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, ra đời và
phát triển trong xã hội loài người, hầu như quốc gia nào cũng có. Khởi
đầu, hình thức sinh hoạt văn hoá này tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau
như: hội làng, hội xuân, hội mùa, diễn xướng tín ngưỡng phong tục, trò
diễn dân gian, trò trình nghề, bách nghệ khôi hài v.v… Khoảng cuối thế
kỷ XX, người ta mới thống nhất lấy một cái tên, gọi chung thuật ngữ :
lễ - hội. Ở Việt Nam, lễ hội gắn bó với làng xã như một thành tố gần
gũi, thiêng liêng. Giống như tất cả các lĩnh vực folklore, lễ hội là một
hệ thống văn hoá dân gian mở, luôn luôn có sự cải biên, chọn lọc, loại
bỏ, sửa chữa và lấp đầy, nghĩa là nó luôn vận động trong thời gian và
không gian, với một quá trình hợp biến văn hoá lâu dài tuỳ theo hoàn
cảnh và “thổ ngơi” cụ thể cũng như thời điểm lịch sử nhất định. Qua
dòng sông thời gian, qua những giai đoạn phát triển cụ thể, lắng đọng
trong lễ hội cổ truyền là “những lớp phù sa văn hoá” khác nhau, trong
đó chồng, lợp các tầng, vỉa văn hoá của cả quá khứ và hiện tại. Tuy vậy,
một lễ hội cổ truyền tồn tại đến hôm nay, nó luôn không mất đi “diện
mạo ban đầu”, tức là nó không bị phá vỡ cấu trúc của hai bộ phận cơ
bản: phần lễ và phần hội, mặc dù có thể có những thay đổi, biến tướng
nhất định. Chính vì vậy, lễ hội cổ truyền là một kho tàng tri thức bách
13

14
Các làn điệu Xoan cổ đều được bắt nguồn từ những làng cổ nằm ở địa
bàn trung tâm bộ Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước. Các làng này nối
nhau thành một dải, vắt từ sông Lô sang sông Thao, vòng phía trước núi Hùng
- nơi có Đền Hùng, mộ Tổ - như một chuỗi ngọc trai. Chỉ trừ xã Tây Cốc lùi
xa về Tây Bắc và Tử Du, Hoàng Thượng, Hạ Chuế (nay là tỉnh Vĩnh Phúc).
Chính vì vậy, hát Xoan còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa cổ của thời đại
bình minh dựng nước. Những dấu tích văn hóa Văn Lang-Hùng Vương cũng
được bảo lưu trong các lễ hội vùng Xoan. Hầu hết các làng Xoan giữ cửa đình
đều thờ các nhân vật thời Hùng Vương và các Vua Hùng. [10; 26]
1.3. Môi trường sinh tồn
1.3.1. Sơ lược về địa lý- con người Phú Thọ
Từ ngàn năm về trước cho đến nay Phú Thọ đã trải qua nhiều lần biến
đổi địa giới, chẳng những địa giới có quy mô toàn tỉnh mà địa giới nhiều
châu, huyện, làng, xã cũng có sự xê dịch đổi thay tùy theo những yêu cầu về
trị an, về tổ chức hành chính của hệ thống chính quyền. Nhưng sự thay đổi địa
giới hành chính không làm thay đổi diện mạo Folkore vốn có quy luật vận
động bảo tồn và phát triển: Năm 1977, Phú Thọ được tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú
theo đó là sự phân tách một số huyện trong tỉnh như Huyện Phong Châu tách
thành: Phù Ninh và Lâm Thao; Huyện Tam Thanh tách thành: Tam Nông và
Thanh Thủy…Mặc dù vậy Phú Thọ- vùng văn hóa cội nguồn của dân tộc vẫn
luôn giữ được những nét văn hóa phong phú , đa dạng nhưng rất độc đáo của
địa phương mình. Phú Thọ ngày nay là một tỉnh vào loại lớn, có thành phố
Việt Trì, thị xã Phú Thọ và 10 huyện: Đoan Hùng, Phù Ninh, Lâm Thao, Sông
Thao, Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Ba, Hạ Hòa, Thanh Sơn, Yên Lập. Với
trên dưới 300 thị trấn xã phường, về đại thể Phú Thọ có vùng rừng núi giống
mạn ngược, có vùng đồi gò đặc trưng của trung du, có vùng đồng bằng giống
miền xuôi.
Vùng đồi gò bao gồm các huyện: Tam Nông, Thanh Thủy, Sông Thao,
Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Phù Ninh… Và bao gồm cả một phần diện

đẹp non sông. Nơi đây thực sự đúng là: “Một miền cao quý của cả một xứ sở
16
16
ngàn đời nay lao động và chiến đấu, dựng nước và giữ nước với trái tim yêu
nước nồng nàn…” (Lê Hảo- Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước.
H. Thanh Niên- 1982)
Con người nơi đây bao đời luôn gắn bó với mảnh đất giàu truyền thống
này, từ trong lao động mà hình thành nên những điệu dân ca. Trải qua hàng
ngàn năm lịch sử, các thế hệ người dân Phú Thọ luôn thể hiện đức tính của
con người Việt Nam đặc trưng sâu đậm nhất là đức tính cần cù, sáng tạo trong
lao động sảm suất, nét đặc trưng cơ bản nữa là tinh thần đoàn kết, tương thân,
tương ái đồng lòng xây quê hương no ấm, hạnh phúc. Với vị trí địa lý thuận
nơi, người dân tinh nhạy trong văn hóa truyền thống đã giúp bản sắc được
phát huy với những phong tục tập quán lâu đời: lệ vào giáp, lệ mua Nhiêu và
Tư văn, lệ khao vong; Cùng tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên, thờ cúng thành
hoàng làng; Hay những lễ hội văn hóa bản địa mang tính nguyên sơ. Điều này
giúp Phú Thọ phát huy thế mạnh văn hóa của vùng và tạo điều kiện giao lưu
với các vùng văn hóa khác.
1.3.2. Phú Thọ- Một vùng văn hóa dân gian
1.3.2.1: Vùng văn hóa là gì?
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất của đất nước ta. Nền
văn hóa ấy hình thành trong sự nghiệp trường kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc,
thể hiện bẳn sắc chung của dân tộc Việt Nam của 54 tộc người sống trên đất
nước Việt Nam. Nền văn hóa thống nhất của dân tộc Việt Nam được biểu hiện
với những sắc thái đa dạng ở các vùng văn hóa khác nhau trên đất nước Việt
Nam. Trong cuốn “ Các làng văn hóa dân gian Phú Thọ” chia ra thành sáu
vùng văn hóa, mỗi vùng văn hóa có điều kiện lịch sử- kinh tế đặc trưng. Vậy
thì “Vùng văn hóa” là gì? Để từ đây chúng ta hiểu rõ về từng vùng miền văn
hóa trên đất nước.
Trong cuốn “ Các vùng văn hóa Việt Nam” của GS. Đinh Gia Khánh và

1.3.2.2. “Vùng văn hóa”- Hát Xoan
Các làng Xoan nằm trên địa bàn xưa là nước Văn Lang. Đây cũng là
vùng dày đặc các di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Sơn Vi, Phùng Nguyên, Gò
18
18
Mun nói lên bước phát triển văn hoá của người Việt cổ từ xã hội công xã thị
tộc nguyên thuỷ tới nhà nước Văn Lang, từ những công cụ thô sơ với hòn đá
cuội cho đến một nền văn hoá đồng thau rực rỡ. Căn cứ vào sự trùng hợp giữa
cùng Xoan và vùng văn hoá khảo cổ, những phát hiện khảo cổ về nền văn hoá
Văn Lang chúng ta có thể nhận xét: Vùng Xoan là vùng văn hoá cổ có một
truyền thống văn hoá rất lâu đời hình thành từ bình minh dân tộc. Tính chất cổ
sơ của địa bàn Xoan cũng như tính truyền thống của văn hoá đã tạo nên nếp
sinh hoạt và văn hoá vùng Xoan. Những vùng Xoan là vùng văn hoá lễ hội, có
thể nói là tiêu biểu được cho văn hoá Hùng Vương Đất Tổ với tính cổ sơ và
tính truyền thống, với sự phong phú về trò chơi, trò diễn. Những dấu tích văn
hoá Văn Lang cũng được bảo lưu trong các lễ hội vùng Xoan. [6; 32]
Như vậy là Xoan đã tạo được mặt bằng ca hát dân gian “của mình” tạo
nên một vùng văn hóa có tên “vùng văn hóa hát Xoan”. Gọi là vùng văn hóa
vì đã tập hợp được nhiều làng xã có đặc trưng văn hóa gần gũi. Tính đến
những năm 60 và 70 của thế kỷ này các nhà sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân
gian đã thống kê được khoảng 21 cửa đình của làng- xã trong tỉnh trước đây
có tục Hát Xoan với 4 làng có những người đi hát gọi là phường hoặc họ
Xoan đó là:
1: Làng Kim Đới
2: Làng Phù Đức
3: Làng Thét
4: Làng An Thái
Đều thuộc Phong Châu- Phú Thọ, người ta gọi đây là vùng “ Xoan gốc” nằm
trong cái nôi của đất Văn Lang và Phong Châu xa xưa.
Các đình làng hàng năm tổ chức lễ hội có mời phường Xoan đến hát

Ninh (huyện Phù Ninh) và Cẩm Đội (xã Thụy Vân- Việt Trì).
Mồng 6 tới mồng 10 tháng giêng hát ở các đình: Cao Mại (huyện Lâm
Thao), Nha Môn (huyện Phù Ninh), Dữu Lâu, Nông Trang (Việt Trì) và ở
Hoàng Thượng, Hạ Chuế( huyện Vĩnh Lạc thuộc Vĩnh Phúc cũ).
20
20
Từ 12 tới 15 tháng giêng hát ở các đình Y Kỳ xã An Đạo (huyện Phù
Ninh), Hữu Bổ xã Kinh Kệ (huyện Lâm Thao) và Tây Cốc (huyện Đoan
Hùng).
Trong hai tháng âm lịch hát ở các đình: Đức Bác (huyện Lập Thạch-
Vĩnh Phú cũ), Hương Nộn (Tam Nông), Thanh Đình (Lâm Thao). Điểm hát
cuối cùng là Tử Du (Lập Thạch- Vĩnh Phú cũ). [8;23-68]
“Vùng hát Xoan” mang trong mình những lệ làng, những tục lệ như:
Tục giữ cửa đình và kết nghĩa, tục lệ đưa đón tiếp đãi”…Tục giữ cửa đình
theo Nguyễn Khắc Xương trong cuốn [8;25] có liên quan tới tục “nước
nghĩa”: Xoan giữ cửa đình nào là kết nghĩa với làng ấy, dân ấy. Kết nghĩa của
Xoan là kết nghĩa giữa họ Xoan với làng Xoan mà Xoan giữ cửa đình “Dân
với họ, họ với dân, cột đồng bia đá ở đời với nhau”. Ta nhận thấy rằng tục kết
nghĩa của Xoan có khác với tục kết nghĩa ở nông thôn thời trước là kết nghĩa
giữa các làng với nhau. Hát Xoan không có tục kết nghĩa giữa hai làng mà chỉ
kết nghĩa giữa họ Xoan với làng kết nghĩa, không phải kết nghĩa giữa hai dân
mà là giữa dân với họ:
“Ba hàng già trẻ khang ninh
Bên dân bên họ thái bình hơn xưa”.
Trong quan hệ kết nghĩa này, bao giờ dân địa phương cũng là vai anh
còn họ Xoan là vai em : “Dân là con trưởng, họ là con thứ” và kết nghĩa lâu
dài mãi mãi:
“Ca Xoan tiệc hát thờ thần
Cao Mại, An Thái hai dân họ tràng
Mỗi năm mỗi một lần sang

phát triển quy mô nhất về mặt địa bàn, bài bản và cách diễn xướng…”
- 1.4. Di sản Hát Xoan
Hát Xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành
hoàng với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu
diễn vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ một tỉnh
thuộc vùng trung du Việt Nam. Ngày 24/11/2011, tại Hội nghị lần thứ 6 của Ủy
22
22
ban liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tổ chức
tại Bali – Indonesia, Hồ sơ Hát Xoan - Phú Thọ của Việt Nam đã được công
nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. [4; 19]
Hồ sơ hát xoan Phú Thọ đã hội đủ các yêu cầu cần thiết của UNESCO để
được công nhận là:
• Tính giá trị, tính cộng đồng trong việc sáng tạo và truyền dạy từ đời
này qua đời khác.
• Sức sống mạnh mẽ của hát xoan cũng như các cam kết bảo vệ nghệ
thuật này không bị biến mất trong đời sống hiện đại.
• Đây là một số ít những hồ sơ nhận được toàn bộ sự ủng hộ của hội
đồng tư vấn khoa học xét duyệt sơ khảo trước đó.
Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể quý giá của vùng đất Tổ
Hùng Vương Hát Xoan Phú Thọ thuộc loại hình dân ca lễ nghi phong tục, là
hát cửa đình, hội tụ đa yếu tố nghệ thuật như nhạc, hát, múa Nguồn gốc của
Hát Xoan gắn với những giai thoại của thời đại Vua Hùng dựng nước. Các
làng xoan gốc đều là những ngôi làng cổ nằm trên địa bàn trung tâm nước
Văn Lang. Vì vậy hát xoan còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa cổ của thời
đại bình minh dựng nước
Hát Xoan được vinh danh góp phần tôn vinh các giá trị, đạo lý của Việt
Nam khẳng định vị thế dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Ngày
24/11/2011, Hát Xoan được chính thức công nhận là di sản phi vật thể là một
thành công rất lớn.

địa điểm nhất định, tổ chức chặt chẽ, làn điệu phong phú…Trong giới hạn bài
24
24
viết người viết sẽ trình bày diễn xướng truyền thống tại cửa đình theo lề lối đã
được quy định từ trước, trình tự hát Xoan quy định ba phần rất chặt chẽ, hình
thức diễn xướng của Hát Xoan được thể hiện qua các phần: Phần mở đầu: Các
nghi lễ tôn giáo những bài hát “Giáo trống”, “Giáo pháo”, “Thơ nhang”,
“Đóng đám”. Phần trình diễn các quả cách và phần hát hội. Với đặc trưng
diễn xướng có quy mô luật lệ khá chặt chẽ, theo trình tự các phần không thể
đảo lộn:
Phần mở đầu lễ nghi tôn giáo:
Hát Xoan hát những lời chúc tụng, cầu khẩn và được trình diễn theo
đúng nghi thức trước của đình. Để mở đầu cho cuộc hát, người trùm phường
cùng người chủ tế của hội làng năm đó đứng trước hương án hát chúc. Đây là
một bài khẩn nguyện được đọc lên theo lối văn sớ.
Hát chúc thành hoàng (trích)
Nhập tịch chào vua nẻo trước
Vò nước nến nhang
Rầm rập bốn phương
Mới rước vua lên thượng vì…
Tiếp theo, một Kép trẻ nhất trong phường chừng mười lăm tuổi đeo
trước ngực một cái trống nhỏ, kiểu trống bồng ra làm trò giáo trống và giáo
pháo. Kép trẻ vừa đánh trống giữ nhịp, vừa hát vừa làm động tác, có sự phụ
họa của phường ở phía sau.
Giáo trống (Trích)
“…Tôi bước chân vào giáo trống
Tìm đền Thượng chúc cho minh
Năm trống cơm thiên hạ thái bình
Năm trống cơm mọi vẻ mọi hay
Được mùa hòa thăng lấy cơm bưng trống…”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status