Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trồng dứa (khóm) của các nông hộ tại thành phố Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang - Pdf 24

class="bi x0 y0 w1 h1"
2 2
LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Học viên thực hiện Nguyễn Văn Cường LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian 2 năm học ở Trường, em đã được Quý Thầy, Cô
giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp và Trường Đại học Cần thơ truyền đạt
những kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá cả về lý
3 3
thuyết và thực tiễn. Những kiến thức hữu ích đó sẽ là hành trang giúp em

:
Các hệ số được tính toán bằng phần mềm
SPSS
F: Số thống kê
R: Hệ số tương quan bội
R
2
: Hệ số xác định
Sig F: Mức ý nghĩa F
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BQ Bình quân
5 5
BVTV Bảo vệ thực vật
FAO
Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương
nông liên hiệp quốc)
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
Ha Hécta
Kg Ki-lô-gam
KHKT Khoa học kỹ thuật

2.4
Dấu kỳ vọng đối với các biến ảnh hưởng đến năng suất
33
3.1
Diện tích khóm trên địa bàn TP Vị Thanh 2008-2013
35
3.2
Diện tích, năng suất, sản lượng khóm trên địa bàn TP Vị Thanh
từ 2008-2013
37
3.3
Diện tích đất sản xuất của nông hộ
38
3.4
Nguồn lực lao động của nông hộ
39
3.5
Tuổi của chủ hộ
40
3.6
Trình độ học vấn của nông hộ
41
3.7
Trình độ tập huấn khoa học kỹ thuật của nông hộ
43
3.8
Thời gian tham gia sản xuất của nông hộ
43
3.9
Tình hình vay vốn sử dụng trong sản xuất

Năng suất và thu nhập bình quân giữa hai qui mô sản xuất
58

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Số hiệu
hình vẽ
Tên hình vẽ Trang
2.1
Bảng đồ hành chính thành phố Vị Thanh 2008
20
3.1 Cơ cấu diện tích đất sản xuất 39
3.2
Cơ cấu trình độ học vấn của nông hộ
42
3.3 Cơ cấu thời gian tham gia sản xuất 44
3.4 Cơ cấu lý do chọn giống 46
3.5 Cơ cấu lý do chọn bán 47

trong 4 cây trồng chủ lực của TP. Cây khóm tại đây được biết đến với vị ngọt,
thanh, ăn ít rát lưỡi, nó được hình thành và phát triển khoảng 80 năm qua,
nhưng cây khóm ở đây chưa thực sự mang lại cuộc sống khá giả, sung túc cho
người trồng khóm. Tuy đã được các cơ quan chức năng quan tâm chú trọng
nhưng vẫn còn gặp nhiều vấn đề bất cập khó khăn, và cuộc sống của người
dân trồng khóm chưa thật sự được cải thiện về mặt kinh tế. Hiện nay tình hình
sản xuất còn nhỏ lẻ chưa theo một qui trình kỹ thuật thống nhất, đa số vẫn còn
làm theo kinh nghiệm truyền thống, khiến cây bị thoái hóa, vùng đất trồng
khóm kém màu mỡ, đất bị nhiễm mặn, ngập nước, kỹ thuật phòng trừ sâu
10 10
bệnh còn thấp đặc biệt là giá cả đầu ra còn bấp bênh gây rất nhiều khó khăn
cho người trồng khóm. Để hiểu rõ những vấn đề trên, đề tài “Đánh giá thực
trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả trồng khóm (dứa) của các
nông hộ tại thành phố Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang” được hình thành, qua đó
ta khắc phục những hạn chế đang tồn tại và đề xuất những giải pháp hữu hiệu
nhằm nâng cao hiệu quả trồng khóm của các nông hộ tại đây.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng quát của đề tài này là phân
tích hiệu quả trồng khóm của các nông hộ tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu
Giang, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trồng
khóm của các nông hộ trên địa bàn.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Luận giải cơ sở khoa học và thực tiển về các nhân tố ảnh hưởng đến
hiệu quả sản xuất khóm của các hộ nông dân.
+ Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
trồng khóm của các nông hộ tại thành phố Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trồng khóm của các
nông hộ tại địa bàn nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là hiệu quả sản xuất khóm của

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Giới thiệu tổng quan về quá trình trồng khóm (dứa)
1.1.1.1. Khái niệm:
Khóm (dứa), tên khoa học Ananas comosus, là một loại quả nhiệt đới.
Khóm là cây bản địa của Paraguay và miền nam Brasil.
Quả khóm thực ra là trục của bông hoa và các lá bắc mọng nước tụ hợp
lại. Còn quả thật là các "mắt khóm

. Quả khóm được ăn tươi hoặc đóng hộp
dưới dạng khoanh, miếng hoặc đồ hộp nước khóm, hoặc nước quả hỗn hợp.
1.1.1.2. Đặc điểm sản xuất của cây khóm
Cây khóm xuất hiện trên mãnh đất Hậu Giang vào năm 1930, được
trồng ở TP Vị Thanh đa số là giống Queen (Nữ hoàng). Nét riêng của giống
khóm này là trái có hình dáng thanh nhã, cuống ngắn, lõi nhỏ, mắt lồi, hố mắt
hơi sâu, thịt màu vàng sậm, ít xơ, ít nước, ăn giòn và ngọt. Đặc biệt, trái khóm
ở đây có thể để khoảng 10-15 ngày không bị thối. Cây khóm cao trên 1 mét,
trọng lượng 1,5-2kg/trái.
Cây khóm là cây ưa phèn. Là loại cây ít đòi hỏi hỏi về nước, chịu ngập
kém, khoảng 1000 -1500 mm/l năm được xem là thích hợp. Nhiệt độ thích
hợp sinh trưởng, phát triển của cây là 23 – 25
o
C và nhiệt độ này cũng là nhiệt
độ thích hợp cho giai đoạn khóm tới thu hoạch sản phẩm. Khóm là cây trồng
dài ngày rất cần phèn cho giai đoạn phát triển và cho trái.
13 13
Thời vụ trồng thường vào đầu mùa mưa (tháng 4 và tháng 5). Nếu trồng
bằng chồi thân thì phải trồng được 8 - 10 tháng thì mới xử lý ra hoa, nếu trồng

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt. Đối tượng của sản
xuất nông nghiệp là những cây trồng và vật nuôi. Trong sản xuất nông nghiệp,
sự hoạt động của lao động và tư liệu sản xuất có tính thời vụ. Sản xuất nông
nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn và mang tính khu vực
[4, tr.6].
1.1.3. Khái niệm về hộ và kinh tế hộ:
1.1.3.1. Khái nhiệm về hộ:
Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và có chung một ngân quỹ. Hay nói khác hơn, hộ sản xuất là lình thức liên kết
giữa các thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu chung,
hoạt động kinh tế chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả sản xuất
của hộ gia đình [3, tr.5].
Hộ có những đặc trưng riêng biệt, không giống như là các đơn vị kinh
tế khác, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh doanh xã hội khá
đặc biệt.
Trong cấu trúc nội tại, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích
thực của hộ. Do đó hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử
dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi,
phân phối và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế. Do đó, hộ có thể
cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được
[3, tr.5].
15 15
1.1.3.2. Khái quát về kinh tế hộ:
Việt Nam hiện nay có dân số trên 80 triệu dân, trên 70% dân số sinh
sống ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc.
Trong điều kiện đó, hộ được khái niệm như sau:
“Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ
chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu
dùng”[3, tr.5]. Với tư cách là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều góc
độ:

- Hộ mang tính huyết tộc. Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ
thể đích thực của hộ và đã tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu,
quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất.
- Hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ
và trách nhiệm, đều có ý thức tự giác đóng góp làm tăng quỹ thu nhập của hộ,
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên.
- Đặc trưng nổi bật của các hộ ở nước ta là có quy mô canh tác rất
nhỏ bé và quy mô canh tác của hộ có xu hướng giảm dần do việc gia tăng dân
số, xu hướng lấy đất đai nông nghiệp để phát triển các ngành công nghiệp,
giao thông, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp, bản thân nông nghiệp
muốn phát triển cũng phải lấy đất để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông
nghiệp.
- Quá trình tổ chức lao động là do hộ tổ chức, công việc đồng áng
hộ sử dụng nhân công gia đình là chủ yếu. Lao động gia đình này không được
xem là hình thái hàng hóa. Hiện nay, tình trạng thuê mướn nhân công lao
động đã xuất hiện ở mức độ khác nhau của sản xuất hàng hóa. Thị trường lao
17 17
động nông thôn cũng ra đời. Có những vùng bộ phận lao động coi làm thuê
như một phương thức kiếm sống.
- Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao
động bán nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp. Cơ cấu này khác nhau
giữa các hộ, các địa bàn, các vùng tùy theo điều kiện cụ thể của chúng. Một
đặc điểm khác nữa là khả năng tích tụ tập trung vốn của đại bộ phận nông dân
là thấp, các hộ sản xuất trong điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng. Theo vào đó,
chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài nên vốn chu chuyển chậm, bởi thế tạo
nên sự căng thẳng về vốn, trong khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, kỹ thuật sản
xuất mang tính truyền thống, quy mô canh tác nhỏ đã dẫn đến tình trạng thu
nhập của đại bộ phận là thấp[3, tr.6-tr.7].
1.1.3.4. Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay
Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của

tr.7-tr.8].
1.1.4. Khái niệm về hiệu quả, hiệu quả sản xuất:
1.1.4.1. Hiệu quả
Hiệu quả là "kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ
đợi và hướng tới. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, năng suất.
Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất hay lợi nhuận. Trong lao động nói chung
hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng thời gian hao phí
để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm" ( Từ điển bách khoa Việt Nam 2, trang
289).
19 19
Xét theo góc độ thuật ngữ chuyên môn thì hiệu quả theo nghĩa kinh tế
nó là "Mối quan hệ giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và
dịch vụ có thể được đo lường theo hiện vật gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo
chi phí phí được gọi là hiệu quả kinh tế." (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, trang
244).
1.1.4.2. Hiệu quả sản xuất
Trong sản xuất kinh doanh thường phải đối mặt với các giới hạn trong
việc sử dụng nguồn lực sản xuất. Do đó, họ cần phải xem xét và lựa chọn thứ
tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực đó sao cho đạt
kết quả cao nhất. Thuật ngữ mà chúng ta thường dùng để chỉ kết quả đạt được
đó là hiệuquả. Hiệu quả là một thuật ngữ tương đối và luôn liên quan đến một
vài chỉ tiêu cụ thể. Trong bất kỳ quá trình sản xuất nào khi tính đến hiệu quả
sản xuất thì người ta thường đề cập đến ba nội dung cơ bản: hiệu quả kinh tế
(hiệu quả chi phí), hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối.
- Hiệu quả kinh tế:
Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét
các tài nguyên được thị trường phân phối như thế nào. Theo lý thuyết, hiệu
quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh với
chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Là sự kết hợp các yếu tố sản xuất (đất
đai, vốn, lao động, kỹ thuật sản xuất) nhất định để tạo ra một lượng sản

người sử dụng nó đạt được cao nhất.
- Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp được đo lường như sau:
Hiệu quả sản xuất = Doanh thu trên một đơn vị diện tích - Tổng chi phí
trên một đơn vị sản xuất.
21 21
Trong đó:
Doanh thu/đơn vị diện tích = Giá bán * Sản lượng/đơn vị diện tích.
Tổng chi phí trên một đơn vị diện tích bằng tổng chi phí phát sinh trong
quá trình sản xuất trên một đơn vị diện tích.
Chi phí sản xuất khóm bao gồm: chi phí giống, chi phí phân bón, chi
phí thuốc, chi phí chuẩn bị đất, chi phí trồng cây giống, chi phí chăm sóc, chi
phí vậnchuyển, chi phí làm thủy lợi, chi phí lãi vay, chi phí khấu hao máy
móc, chi phí khác (nếu có)

1.2. Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Quốc Nghi và Lưu Thanh Đức Hải (2009) nghiên cứu tình
hình sản xuất, tiêu thụ và giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất khóm ở tỉnh
Hậu Giang. Trong nghiên cứu này các tác giả áp dụng công cụ thống kê mô tả
để mô tả thực trạng sản xuất khóm và phát họa hệ thống phân phối, tiêu thụ
sản phẩm khóm của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang. Ngoài ra mô hình hồi qui
tuyến tính còn được áp dụng để phân tích và xác định các nhân tố ảnh hưởng
đến năng suất cũng như lợi nhuận kinh tế của nông hộ. Phương pháp phân tích
SWOT được sử dụng để phân tích các điểm mạnh, yếu, cơ hội và nguy cơ từ
đó đề xuất các giải pháp thiết thực giúp nông hộ ở tỉnh Hậu Giang nâng cao
thu nhập và hiệu quả sản xuất khóm.
Mai Văn Nam (2009) nghiên cứu hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
ở Cần Thơ, đồng bằng Sông Cửu Long các vấn đề cần được giải quyết. Số liệu
thứ cấp và sơ cấp với 177 mẫu được dùng trong nghiên cứu; phương pháp lấy
mẫu phân tầng ngẫu nhiên được sử dụng cho chọn các địa điểm khảo sát và
chọn các hộ nông dân, thương lái người buôn và bán lẻ, người tiêu dùng, nhà

23 23
nhất. Đồng thời, nông dân tiếp cận thông tin tiến bộ kỹ thuật chủ yếu từ các
phương tiện thông tin đại chúng và cán bộ khuyến nông địa phương. Hơn nữa
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả sản xuất của các mô hình cải tiến cao
hơn so với mô hình truyền thống, cụ thể là thu nhập tăng 13,5% và lợi nhuận
tăng 42%. Trong đó, trình độ học vấn, giống, phân bón, lao động, chuẩn bị
đất, thủy lợi là các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trên đơn vị đất
canh tác lúa có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. 1.3 . Tổng quan về tình hình trồng khóm trên thế giới và tại Việt nam
1.3.1. Tình hình trồng khóm trên thế giới
Khóm (dứa) (Ananas comosus L.) là một trong những cây ăn trái quan
trọng trên thế giới đứng thứ ba sau chuối và cây có múi, với tổng sản lượng
trên thế giới khoảng 15.886.647 Mt (FAO, 2005), dứa tiêu thụ chủ yếu qua
chế biến và ăn tươi. Các nước trồng nhiều dứa trên thế giới như Thailand,
Philippines, Costa-Rica, Malaysia. Các nước nhập khẩu dứa chủ yếu hiện nay
trên thế giới như: Pháp, Nhật, Hoa Kỳ, Ý, Tây Ban Nha, Anh và Canada.
Năm 2007, sản xuất dứa của thế giới đạt 18,9 triệu tấn (theo FAOSTAT
2009 -). So với năm 2002, sản lượng đã tăng 19%.
Thái Lan, Philippines và Indonesia là những nước sản xuất chính mặt hàng
dứa đã chế biến (như nước ép dứa và dứa đóng hộp) cho thị trường xuất khẩu.
Một thị trường xuất khẩu thường bao gồm 80% dứa đóng hộp và nước ép và
20% mặt hàng dứa tươi. Ấn Độ và Trung Quốc là những nhà xuất khẩu lớn
nhưng những nước này có thị trường nội địa lớn và không cung cấp nhiều
hàng cho xuất khẩu. Nước xuất khẩu lớn nhất mặt hàng dứa tươi là Costa Rica
24 24
với 47% thị phần xuất khẩu của cả thế giới. Những nước xuất khẩu lớn còn lại
là Philippines, bờ biển Ngà, Ecuador, Panama, Ghana và Honduras.


lượng cung. Do sự bất ổn về chính trị gia tăng, hạn hán và việc các nước khác
đưa ra các loại dứa mới, nguồn cung của bờ biển Ngà sang EU đã giảm đáng
kể trong những năm gần đây (theo CITRAD). Tháng 11 năm 2008, EU đã ký
Hiệp định thương mại song phương với Bờ biển Ngà, trong đó có lịch trình
nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và phát triển có thể giúp tăng kim ngạch
xuất khẩu dứa của nước này (theo Freshfel, 2008).
Từ năm 2002 đến năm 2006, giao thương mặt hàng dứa đã tăng 79% về
khối lượng (theo FAOSTAT 2009). Costa Rica đã có sự tăng trưởng đáng kể
trong 10 năm qua và hiện nay là nước xuất khẩu dứa hàng đầu trên thị trường
thế giới. Hiện nay, 66% lượng dứa tươi EU nhập khẩu là từ Costa Rica. Việc
công ty đa quốc gia Del Monte giới thiệu loại dứa mới MD2 (có vị ngọt sắc)
vào giữa những năm 1990 chính là nguyên nhân chính của sự thành công này.
Loại dứa này được trồng chủ yếu ở Costa Rica và đã có sự thành công đáng kể
trong thương mại. Loại dứa MD2 này được trồng ở nhiều nước Mỹ La tinh và
Châu Phi. Khoảng 80% trong tổng lượng dứa tươi xuất khẩu là dứa MD2 và
đã trở thành một mặt hàng được tiêu dùng phổ biến ở nhiều nước EU. Một vài
loại dứa khác được tiêu dùng trên thị trường EU là "Smooth Cayenne" và
"Sugarloaf". Dứa nhỏ và dứa bao tử là một loại dứa đặc biệt ("Nữ hoàng
Victoria") có trọng lượng khoảng 400 - 500gr một quả.

Trích đoạn So sánh năng suất và thu nhập bình quân/ha giữa các nông hộ có diện tích sản xuất dưới 2ha và diện tích sản xuất từ 2ha trở lên Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của hộ nông dân Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1.Kết luận Khuyến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status