Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
HIỆU QUẢ ĐA NĂNG CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY
Phần A: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề:
1. Thực trạng của vấn đề:
Học ngoại ngữ thật không dễ chút nào. Như chúng ta đã thấy, tiếng mẹ đẻ đôi lúc
các em còn chưa nắm vững ngữ pháp cũng như chưa biết chọn lọc, trau chuốt lời văn,
câu chữ vì vậy nhiều học sinh rất chán nản, lơ là trong giờ Ngữ văn huống chi là học
tiếng nước ngoài. Là giáo viên giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở bậc THCS trong 5 năm
qua, tôi thấy lượng học sinh học yếu ở bộ môn tiếng Anh còn nhiều, chỉ một số ít các
em hiểu biết và nói viết lưu loát. Và tôi đã nhận ra một số vấn đề khó khăn chính như
sau:
1.1. Thực trạng học của học sinh:
a. Không có cơ hội thực hành Tiếng Anh. Mục tiêu chính của một lớp học
tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp là giúp học sinh có thể giao tiếp bằng ngoại ngữ
ngày một tự tin và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, đây cũng chính là điều khiến nhiều giáo
viên ngoại ngữ đau đầu vì làm thế nào để đạt được mục tiêu ấy lại là một câu hỏi không
dễ trả lời. Thực ra trong chương trình sách giáo khoa đã được soạn theo bốn kĩ năng
riêng và cũng có băng đĩa để luyện nghe - nói, tuy nhiên có thể do thời lượng bố trí các
tiết học, do điều kiện vật chất của các trường, hoặc cũng có thể do thói quen của giáo
viên mà việc sử dụng băng đĩa gần như là không được áp dụng thường xuyên trong các
trường học, kể cả ở thành thị, chứ không nói gì đến nông thôn. Học sinh chủ yếu chỉ
được nghe cô hướng dẫn đọc, nhưng ngay cả cô giáo thì không phải lúc nào cũng đúng.
Như vậy khó khăn lớn nhất của học sinh chúng ta khi học tiếng Anh có lẽ là do không
có môi trường tiếng thực tế. Vì vậy điều then chốt là tạo ra một môi trường tiếng trong
Nguyễn Thị Phương 1 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
lớp học nơi khiến học sinh cảm thấy tự tin khi sử dụng tiếng Anh. Tuy nhiên để làm
được điều này thật là không dễ đặc biệt đối với tâm lí chung của học sinh chúng ta là
lại bài nhiều lần. Ví dụ một học sinh đã sử dụng sự ghi nhớ như một chiến lược học từ
mới. Em tra trong từ điển các từ mới, viết chúng và nghĩa của chúng bằng tiếng Việt
vào một quyển vở sau đó ghi nhớ nội dụng của quyển vở đó. Kết quả là học sinh đó đã
học được rất nhiều từ. Mặc dù vậy, điều này không có nghĩa là chúng ta tán đồng cách
học thuộc lòng như vẹt mà không hiểu gì. Ghi nhớ có hai cách: cách thứ nhất như tôi
đã nói - học như vẹt. Học sinh có lẽ sẽ rất thuộc bài, sẽ nói làu làu như cháo chảy
nhưng khi được hỏi đến những vấn đề liên quan thì không trả lời được. Hoặc chỉ cần
quên một ý hay một câu trong bài là họ sẽ quên hết cả bài đó. Cách ghi nhớ này hoàn
toàn thụ động và quá lệ thuộc vào từng câu từng chữ của bài. Tuy nhiên, cách nhớ thứ
hai mà tôi muốn đề cập ở đây chính là một phương pháp học hiệu quả, phương pháp
này cũng gần giống như cách học thuộc lòng nhưng phải có sự hiểu sâu về vấn đề được
học đồng thời biết vận dụng nó một cách linh hoạt vào trong giao tiếp. Học phải biết
ghi nhớ các điểm chính, các từ chủ điểm rồi từ đó suy ra những vấn đề nhỏ hơn và hiểu
rằng mình đang học cái gì. Cách ghi nhớ này giúp cho những thông tin cần thiết được
lưu lại trong não một cách hệ thống và được sử dụng có hiệu quả trong những ngữ cảnh
phù hợp.
d. Học sinh không hứng thú với việc học tiếng Anh. Không chỉ riêng học sinh
mà tất cả những người học tiếng Anh đều muốn nói được tiếng Anh một cách trôi chảy.
Họ sẽ cảm thấy rất sung sướng khi nghĩ rằng mình có thể làm được điều đó. Thế nhưng
họ thường không quan tâm đến chính bản thân quá trình học tiếng Anh. Đối với phần
lớn học sinh thì việc học tiếng Anh là một điều gì đó các em bị bắt buộc phải làm chứ
các em không hề muốn. Học tiếng Anh lúc này đối với học sinh là một nghĩa vụ, và
chính điều đó khiến cho các em cảm thấy không thoải mái khi học tiếng Anh. Nói ngắn
gọn, phần lớn học sinh đều muốn nói được tiếng Anh trôi chảy nhưng lại không thích
học. Đây chính là thử thách đầu tiên và cũng là lớn nhất mà một người dạy lẫn người
Nguyễn Thị Phương 3 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
học tiếng Anh phải đối mặt, bởi vì khi một người không thích học tiếng Anh thì chắc
chắn sẽ không thể học nó tốt được. “If you don’t love English, English won’t love
nghĩ chỉ cần một số quyển sách là đáp ứng được giảng dạy. Người thầy cần phải luôn
tìm hiểu cập nhật những kiến thức mới để tạo ra sự hứng thú đối với học sinh. Chính vì
vậy để một tiết học sôi nổi thì phương pháp và khả năng xây dựng bài giảng của giáo
viên đóng vai trò rất quan trọng, một môn học không làm các em hứng thú thì đương
nhiên là các em sẽ không muốn phát biểu.
1.2. Thực trạng dạy của giáo viên:
a. Trình độ, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ còn yếu: Theo Xukhomlinxki
thì người giáo viên cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm, có khả năng dùng lời
nói để tác động đến tâm hồn học sinh, có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm
thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người. Rõ ràng những tiêu chí trên
dành cho giáo viên là luôn luôn cần trong mọi thời đại. Tuy nhiên hiện nay năng lực
giáo viên ngoại ngữ còn nhiều hạn chế. Theo kết quả đánh giá của các tổ chức quốc tế
như Hội đồng Anh, Trung tâm giáo dục Apollo về trình độ tiếng Anh theo tiêu chuẩn
quốc tế của 20 nước được khảo sát thì học sinh Việt Nam xếp thứ 8/20 về khả năng viết
và đọc, nhưng lại xếp thứ 18-19/20 về khả năng nghe, nói. Trong khi đó giáo viên
ngoại ngữ còn nói tiếng Anh theo giọng Việt nên người nước ngoài nghe câu hiểu câu
không. Chính vì vậy thì làm sao học sinh chúng ta có thể học tốt được. Có lẽ xuất phát
từ thực tế đó mà Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã từng chia sẻ rằng: khó
khăn lớn nhất của đề án ngoại ngữ quốc gia là thiếu giáo viên có chất lượng và mỗi
giáo viên phải nhận thức được rằng yếu về năng lực là còn nợ với học sinh.
b. Chưa có phương pháp dạy học phù hợp: Xét trên một phương diện nào đó
có thể thấy rằng mọi phương pháp dạy học đều có chung mục đích là làm sao cho
người thầy và người học thấy được ngôi trường mình đang học và giảng dạy chính là
ngôi nhà thứ hai của mình, thấy được sự ấm áp trong quan hệ thầy trò, không có sự áp
Nguyễn Thị Phương 5 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
đặt và là nơi để học sinh phát huy được khả năng sáng tạo, tư duy của mình. Ở đó học
sinh thấy được sự hứng khởi để tìm tòi cái mới, nhận được sự đồng thuận và khuyến
khích nơi giáo viên cũng như tập thể nhà trường. Trong giai đoạn hiện nay, mỗi trường
và khắc sâu được lượng kiến thức đã học. Dĩ nhiên để cho ra đời những “ sản phẩm”
hoàn mĩ như vậy thì người giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng. Có người đã từng
nói rằng: Người thầy đứng trên bục giảng giống như một diễn viên trên sân khấu.
Chính vì vậy phương pháp giảng dạy của giáo viên có tác dụng rất lớn đến quá trình
học của học sinh. Xuất phát từ quan điểm đó, tôi cho rằng phương pháp dạy học tích
cực sử dụng “ SƠ ĐỒ TƯ DUY” là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất đáp
ứng được yêu cầu của việc giảng dạy tiếng Anh trong thời đại mới.
2.2. Tác dụng:
Phương pháp dạy học tích cực sử dụng “sơ đồ tư duy” có tác dụng tối ưu trong
việc thu hút mọi đối tượng học sinh vào bài học, kích thích khả năng tư duy, sáng tạo,
sự tự tin của học sinh và giúp họ dễ dàng nắm bắt cũng như khắc sâu được lượng kiến
thức đã học. Hơn thế nữa sơ đồ tư duy có thể được áp dụng hiệu quả ở bất kì giai đoạn
nào trong một bài học hay bất kì dạng bài tập nào. Chính vì lẽ đó người dạy cần tích
cực chủ động trong việc sử dụng phương pháp dạy học này để giúp tiếng Anh dần trở
thành người bạn thân thiết của mỗi học sinh.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phương pháp dạy học tích cực sử dụng “ Sơ đồ tư duy” là phương pháp mới, chỉ
vừa được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cũng như Sở Giáo Dục và Đào Tạo triển khai, áp
dụng trong đầu năm học 2011 – 2012. Chính vì thời gian ngắn như vậy nên trong đề tài
này tôi chỉ nghiên cứu, cập nhật và áp dụng sơ đồ tư duy trong một số dạng bài của
môn tiếng Anh cho học sinh khối lớp 8 tôi đang dạy trong phạm vi trường.
II. Phương pháp tiến hành:
Nguyễn Thị Phương 7 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn:
1.1. Cơ sở lý luận:
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã và đang thực
hiện chính sách mở cửa nhằm hội nhập với cộng đồng thế giới trên nhiều lĩnh vực như
kinh tế, chính trị, thương mại, du lịch, giáo dục, v.v… Trong đó Giáo dục trong thế kỷ
kĩ thuật thì ngày nay thực tế xã hội đã đòi hỏi đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ ở Việt
Nam phải đổi mới phương pháp giảng dạy, áp dụng việc dạy ngôn ngữ theo đường
hướng giao tiếp nhằm tăng cường năng lực giao tiếp cho người học. Trong tiến trình
chung này, những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo biên soạn nhiều bộ sách
giáo khoa theo đường hướng giao tiếp dành cho bậc học phổ thông chú trọng vào việc
rèn 4 kỹ năng nghe, nói, đọc và viết cho học sinh.
Tuy nhiên bộ môn tiếng Anh là một bộ môn khó và tương đối khô khan đối với
học sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới, hiểu và nắm được nội dung chủ đề của bài
đọc, từ vựng, cấu trúc mới,…Vì thế đa số học sinh không nắm được bài trở nên chán
nản, thụ động trong giờ học.
Trước tình hình đó, là giáo viên tiếng Anh tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để mang
lại cho học trò những bài học thật thú vị, mới mẻ, kích thích sự ham học, tính chủ động
của các em từ khá giỏi đến yếu kém, làm sao sau mỗi bài học không chỉ học sinh khắc
sâu kiến thức, ấn tượng, nhớ mãi mà còn giúp các em tự tin, chủ động dần lên. Có
nhiều phương pháp dạy học được triển khai hàng năm nhằm nâng cao chất lượng bộ
môn nhưng có lẽ phương pháp dạy học tích cực bằng cách sử dụng “ SƠ ĐỒ TƯ DUY”
làm tôi tâm đắc nhất. Với sơ đồ tư duy , tôi có thể vận dụng trong bất cứ giai đoạn nào
của một bài học, lôi cuốn được mọi đối tượng học sinh tham gia, làm cho các em mất
dần cảm giác sợ cũng như chán nản với môn học này và đặc biệt còn kích thích được sự
tư duy, tính tò mò, khả năng tìm tòi mở rộng kiến thức của các em. Điều này là rất quan
trọng bởi vì theo Margaret Mead "Không nên dạy cho trẻ em những gì chúng phải
suy nghĩ, mà dạy cho chúng cách suy nghĩ”.
Nguyễn Thị Phương 9 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:
2.1. Biện pháp tiến hành:
Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng một số biện pháp như sau:
- Nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của ngành trong các dịp bồi dưỡng
chuyên môn và đặc biệt qua tập huấn phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực từ năm
3
9 22.
9
2 5.7 1 2.9 18 54.3
TC 135 6 4.4 21 15.
6
33 24.
4
6 4.4 3 2.2 69 51.1
Nguyễn Thị Phương 10 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
Từ kết quả trên cho thấy khả năng học tiếng Anh của các em không đồng đều:
Học sinh giỏi, khá chưa nhiều, số lượng trung bình yếu vẫn còn chiếm tỉ lệ khá cao. Vì
vậy tôi đã tích cực áp dụng một số kinh nghiệm về việc sử dụng Sơ Đồ Tư Duy trong
việc giảng dạy ở môn Tiếng Anh lớp 8.
2.1. Thời gian tạo ra giải pháp:
Ngay từ khi tập huấn và tiến hành áp dụng “sơ đồ tư duy” trong giảng dạy, tôi đã
có ý tưởng nghiên cứu sâu sắc hơn về tính hiệu quả của việc dạy học theo “sơ đồ tư
duy”. Vì vậy tôi đã lập kế hoạch thời gian để nghiên cứu đề tài này như sau:
- Tháng 8/ 2011: Dự lớp tập huấn về phương pháp dạy học sử dụng “sơ đồ tư duy”.
- Tháng 9/ 2011: Chọn đề tài và tiến hành khảo sát đầu năm của khối 8 để lấy số liệu
làm minh chứng trong quá trình dạy học áp dụng “sơ đồ tư duy”.
- Tháng 10 và 11/ 2011:
.Tìm hiểu thực tế việc giảng dạy của giáo viên trong và ngoài trường về dạy học
áp dụng ‘sơ đồ tư duy”.
. Trao đổi chất vấn giáo viên và học sinh về tính hiệu quả của dạy và học sử dụng
“sơ đồ tư duy”.
. Nghiên cứu tài liệu có liên quan về nội dung của đề tài.
- Tháng 1 và 2/ 2012: Thu thập thông tin, minh chứng tài liệu để viết thô đề tài.
sáng tạo và hiệu quả, trong đó nó mở rộng, đào sâu, kết nối các ý tưởng và bao quát
được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng
MÔ TẢ SƠ ĐỒ TƯ DUY
Nguyễn Thị Phương 12 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
1.2/ Cách tiến hành vẽ sơ đồ tư duy:
- Viết chủ đề ở phần trung tâm, hoặc có thể dùng một hình ảnh để thể hiện chủ đề.
- Từ chủ đề trung tâm vẽ các nhánh chính thể hiện các chủ đề nhỏ liên quan.Trên
mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề. Nhánh
và chữ viết phải cùng một màu và sử dụng các thuật ngữ quan trọng, ngắn gọn để
viết trên các nhánh.
- Từ mỗi chủ đề nhỏ lại tìm ra những yếu tố/nội dung liên quan.
- Sự phân nhánh cứ tiếp tục và các yếu tố/nội dung luôn được kết nối với nhau. Sự
liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về chủ đề lớn một cách đầy đủ
và rõ ràng
1.3 Vận dụng” sơ đồ tư duy” trong các dạng bài cụ thể:
a/ Áp dụng “ Sơ đồ tư duy” vào phần kiểm tra bài cũ học sinh:
Kiểm tra bài cũ là một khâu trong chuỗi công việc của người giáo viên ở lớp
học. Mục đích là để đánh giá việc nắm kiến thức và kỹ năng vận dụng kiến thức của
học sinh với những bài đã học. Qua đó người giáo viên cũng tìm cách điều chỉnh trong
quá trình giảng dạy. Tuy nhiên làm thế nào để việc kiểm tra bài cũ không trở thành một
nỗi ám ảnh, thậm chí khiếp sợ đối với học sinh. Trái lại các em cảm thấy đó là cơ hội
Nguyễn Thị Phương 13 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
để mình thể hiện khả năng trước bạn bè và thầy cô. Chỉ có làm được điều đó thì học
sinh mới có hứng thú với môn học. Mà khi các em đã yêu thích, hứng thú môn học thì
chất lượng chắc chắn sẽ cao. Chính vì vậy tôi đã dùng hình thức kiểm tra bài cũ bằng
cách vừa vẽ sơ đồ tư duy vừa trình bày, sau đó dựa vào sơ đồ tư duy tôi hỏi các em một
.Nhánh cấp2: The structure “…….enough……”
- Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung trên.
- Sau khi các em trình bày xong nội dung trên, tôi có thể cho các em một vài bài tập
liên quan đến các điểm ngữ pháp vừa trình bày.
Ví dụ: Give the corect form of verbs:
Nguyễn Thị Phương 16 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
a. Last year, Hoa (come) to school for the first time.
b. The sun (rise) in the east and ( set) in the west.
c. My father is strong enough ( lift) this box.
d. She (be) my friends when I lived here.
Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh
Nguyễn Thị Phương 17 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
* Trường hợp3: Dùng sơ đồ tư duy kiểm tra từ vựng:
Sau khi học xong UNIT 3: AT HOME phần “Speak”, thay vì yêu cầu học sinh
viết một cách tự do, tôi bảo các em viết từ vựng về các đồ dùng trong nhà theo từng
nhóm chủ điểm. Các em sẽ phải trình bày như sau:
. Nội dung chính: Furniture
. Nhánh cấp 1: In the kitchen
. Nhánh cấp 2: In the living-room.
- Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo liệt kê các từ vựng mà mình đã học
- Sau khi các em trình bày xong nội dung trên, tôi yêu cầu các em hãy tưởng tượng về
một phòng khách và nhà bếp, rồi dùng các từ vựng vừa viết ra để mô tả lại.
Ví dụ:. The rug is under the coffee table.
. The dish rack is next to the fridge.
Nguyễn Thị Phương 18 Trường THCSTT Bình Dương
Nhánh cấp 1: in the country
Nhánh cấp 2: in the city
Nguyễn Thị Phương 20 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
Nhánh cấp 1.1: like
Nhánh cấp 1.2: dislike
Nhánh cấp 2.1: like
Nhánh cấp 2.2: dislike
- Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung sơ đồ
- Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng và cử một đại diện
lên thuyết trình.
- Đội nào vẽ chính xác, đẹp và thuyết trình hay sẽ chiến thắng
Nguyễn Thị Phương 21 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
Mô tả sơ đồ hoàn chỉnh
Nguyễn Thị Phương 22 Trường THCSTT Bình Dương
Đề tài: “ Hiệu quả đa năng của SƠ ĐỒ TƯ DUY “
Trường hợp 2: “ Lead-in” cho phần “Read”
- Tương tự giáo viên cũng có thể thực hiện hoạt động này cho phần “Lead-in” khi
dạy Unit 2: Making arrangements phần “ Read”. Yêu cầu học sinh hãy nêu tất cả
những thuận lợi và bất lợi về điện thoại theo quan điểm của họ. Giáo viên cũng chia lớp
thành bốn đội để các em thi đua với nhau. Học sinh phải trình bày những vấn đề sau:
. Nội dung chính: Telephone
. Nhánh cấp 1: Advantages
. Nhánh cấp 2: Disadvantages
- Sau đó các em tiếp tục vẽ các nhánh nhỏ tiếp theo để hoàn chỉnh nội dung sơ đồ
- Giáo viên yêu cầu học sinh treo sản phẩm của đội mình lên bảng và cử một đại diện