ĐỀ TÀI: Bài học kinh nghiệm và một số kiến nghịêm nhằm lựa chọn mô hình cho thị trường điện lực cạnh tranh ở VIỆT NAM - Pdf 24

1
Lời nói đầu
Tất cả các quốc gia đều hiểu rằng: “Chìa khóa cho sự phát triển nền kinh
tế là họ phải giữ cho đèn luôn sáng và xe luôn chạy”. Vậy có sự phù hợp nào
không giữa mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế của Việt Nam với cụm danh
từ “cắt điện” và “tắc đường” dường như được nhắc đến lại quá phổ biến? Câu
trả lời là “Không!” Tất cả các thành viên trong nền kinh tế từ chính phủ đến
người dân đều hiểu rất rõ ý nghĩa về những điều này.
Nếu ví von nền kinh tế như một cơ thể sống, thì điện được xem như
nguồn cung cấp ô xi cho cơ thể nền kinh tế tồn tại và hoạt động được. Tất nhiên,
không có điện, nền kinh tế sẽ chết; và thiếu điện thì nền kinh tế “bị ốm”. Và nền
kinh tế Việt Nam không phải là một nền kinh tế “khỏe mạnh” nếu xem xét từ
góc độ này.
Cung cấp điện ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề cần được xem xét thận
trọng và nghiêm túc. Bên cạnh những thành quả đã đạt được, điện lực Việt Nam
vẫn chưa làm tốt được chức năng cũng như vai trò chính của mình. Nó là vấn đề
thu hút được nhiều sự quan tâm trong xã hội.
Đóng vai trò một ngành then chốt trong nền kinh tế, cần thiết phải xây
dựng một ngành điện lực Việt Nam ngày càng mạnh, có đủ khả năng cung cấp
điện cho toàn bộ nền kinh tế là một yêu cầu cấp thiết. Xuất phát từ thực tế đó,
việc nghiên cứu thực tiễn nghành điện Việt Nam đồng thời nghiên cứu các kinh
nghiệm để xây dựng một thị trường điện cạnh tranh là một nghiên cứu cần thiết
để đưa ra những hướng đi đúng đắn nhằm trả lời cho bài toán của chính phủ về
việc : “Cần phải xây dựng và hoàn thiện một thị trường điện Việt Nam có tính
cạnh tranh” như thế nào. Vì vậy chúng em lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học
“Bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị nhằm lựa chọn mô hình cho thị
trường điện lực cạnh tranh ở Việt Nam”.
Bố cục đề tài nghiên cứu gồm bốn chương:
Chương I. Cơ sở lí luận về tập đoàn kinh tế và cạnh tranh trong tập đoàn
kinh tế.
2

có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần
như không liên hệ gì với nhau. Từ này mang ý nghĩa tập đoàn được hiểu hiện
nay ở Việt Nam. Thí dụ Công ty FPT doanh thu chủ yếu từ bán điện thoại di
động, và sau này vì mét lý do nào đó lại là một trong ba công ty được hưởng
quyền sử dụng sóng, do đó có thể mở dịch vụ điện thoại di động và cung cấp
dịch vụ Internet. FPT hiện nay lại được phép mở trường Đại học FPT, Ngân
hàng FPT (Tiên Phong), Công ty Chứng khoán FPT
Holding company
4
Từ holding company (công ty mẹ) cũng rất thông dụng trên thế giới.
Holding company là công ty sở hữu toàn diện, đa số, hay một phần cổ phiếu của
một hay nhiều công ty con khác. Thường được gọi là công ty mẹ (parent
company) vì công ty này luôn nhằm sở hữu đủ số cố phiếu, với mục đích có ảnh
hưởng quyết định đối với công ty con (subsidiary) như quyết định người lãnh
đạo và mục tiêu phát triển.
Cartel
Trong tiếng Anh, từ Cartel cũng rất hay được sử dụng để chỉ khái niệm “Tập
đoàn kinh tế”. Cartel là một nhóm các nhà sản xuất độc lập có cùng mục đích là
tăng lợi nhuận chung bằng cách kiểm soát giá cả, hạn chế cung ứng hàng hoá,
hoặc các biện pháp hạn chế khác.
Đặc trưng tiêu biểu trong hoạt động của Cartel là việc kiểm soát giá bán
hàng hoá, dịch vụ nhưng cũng có một số Cartel được tổ chức nhằm kiểm soát
giá mua nguyên vật liệu đầu vào.
Tại nhiều nước, mặc dù bị cấm bởi luật chống phá giá (Antitrust law); tuy
nhiên, nhiều Cartel vẫn tiếp tục tồn tại trên phạm vi quốc gia và quốc tế, dưới
hình thức ngầm hoặc công khai, chính thức hoặc không chính thức.
Cũng cần lưu ý rằng theo khái niệm này thì một tổ chức đơn lẻ nắm giữ
thế độc quyền không phải là một Cartel, dù rằng có thể nó lạm dụng sự độc
quyền bằng cách khác.
Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối mạnh bởi một số

chính và chiến lược phát triển."
[3]
1.2. Các mô hình tập đoàn:
Mô hình liên kết ngang:
- Là mô hình liên kết giữa các DN cùng ngành
- Chủ yếu dùng để hình thành liên kết chống lại sự thôn tính và cạnh tranh
của DN hoặc hàng hóa bên ngoài.
- Công ty mẹ thực hiện chức năng quản lý, điều phối và định hướng chung
cho cả tập đoàn, đồng thời trực tiếp kinh doanh những dịch vụ, khâu liên kết
chính của tập đoàn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty con hoạt động
(xuất nhập khẩu nguyên liệu, sản phẩm chính; nghiên cứu khoa học; nắm giữ và
cung cấp các trang thiết bị, dịch vụ quan trọng, hoạt động kinh doanh tài chính).
6
- Các công ty con có thể được tổ chức phân công chuyên môn hóa và phối
hợp để sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh theo đặc thù công nghệ của ngành.
7
Mô hình liên kết dọc:
- Là mô hình liên kết giữa các DN khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ
về công nghệ, tạo thành một liên hợp sản xuất-kinh doanh-thương mại hoàn
chỉnh.
- Công ty mẹ là công ty có tiềm lực kinh tế mạnh nhất, nắm giữ các bộ
phận then chốt nhất trong dây chuyền công nghệ, đồng thời thực hiện chức năng
quản lý, điều phối và định hướng chung cho cả tập đoàn.
Liên kết hỗn hợp đa ngành, đa lĩnh vực:
- Liên kết các DN trong nhiều ngành, nghề và lĩnh vực, có mối quan hệ
chặt chẽ về tài chính.
- Công ty mẹ không nhất thiết trực tiếp sản xuất kinh doanh mà chủ yếu
làm nhiệm vụ đầu tư, kinh doanh vốn; điều tiết, phối hợp kinh doanh bằng chiến
lược, kế hoạch phát triển, kinh doanh thống nhất.
1.3. Các đặc trưng cơ bản của TĐKT

độc lập, có cơ quan quyền lực cao nhất như hội đồng thành viên (với công ty
TNHH), đại hội cổ đông (với công ty cổ phần). Theo thỏa thuận giữa các thành
viên của tập đoàn, chủ tịch hội đồng thành viên, hội đồng quản trị các công ty
trong tập đoàn tập hợp lại thành hội đồng chủ tịch tập đoàn. Hội đồng chủ tịch
bầu ra chủ tịch tập đoàn. Hội đồng chủ tịch không thực hiện chức năng điều
hành cụ thể đối với quá trình sản xuất, kinh doanh và tổ chức của các công ty
thành viên, do đó, không có chức danh tổng giám đốc tập đoàn.
Sở hữu vốn trong các tập đoàn kinh tế cũng rất đa dạng. Trước hết, vốn
trong tập đoàn là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu, bao gồm cả vốn tư
nhân và vốn nhà nước. Quyền sở hữu vốn trong tập đoàn cũng tùy thuộc vào
mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên vào công ty mẹ và thông thường ở
hai cấp độ:
Cấp độ thấp hay còn gọi là liên kết mềm, vốn của công ty "mẹ", công
ty"con", công ty "cháu" là của từng công ty.
Cấp độ cao hay còn gọi là liên kết cứng là công ty "mẹ" tham gia đầu tư
vào các công ty con, biến các công ty "con", công ty "cháu" thành công ty
TNHH một thành viên do công ty "mẹ" làm chủ sở hữu hoặc công ty "mẹ"
9
chiếm trên 50% vốn điều lệ (với công ty TNHH), giữ cổ phần chi phối (với công
ty "con","cháu" là công ty cổ phần). Trên thực tế, không một tập đoàn kinh tế
nào chỉ có quan hệ về sở hữu vốn theo một cấp độ mà đan xen cả hai cấp độ tùy
theo từng trường hợp trong quan hệ giữa công ty "mẹ" và công ty "con", "cháu".
[4]
2. Tập đoàn kinh tế nhà nước.
2.1. Đặc điểm riêng của tập đoàn kinh tế nhà nước
Khi ra đời, tập đoàn kinh tế mang những đặc điểm riêng biệt mà tập đoàn
kinh tế tư nhân không có.
- Tập đoàn kinh tế nhà nước thường hoạt động mang tính chất độc
quyền do được Chính phủ nhượng quyền khai thác một thị trường nào đó. Hay
do sở hữu được một nguồn lực rất khan hiếm, những loại hàng hóa có tính chất

nay.
2.2. Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của TĐKTNN
Mô hình Tập đoàn kinh tế thuộc sở hữu nhà nước xuất hiện lần đầu tiên
vào khoảng đầu thế kỷ thứ 19 (khoảng từ 1830) tại một số nước châu Âu (chủ
yếu là Tây Âu) trong giai đoạn công nghiệp hóa phát triển bùng nổ ban đầu.
Nguyên nhân chính của sự xuất hiện này là một số sản phẩm hay ngành kinh tế
tự nó mang tính chất độc quyền rất cao, nếu để nằm trong khu vực tư nhân mà
mục đích hàng đầu của nó là lợi nhuận sẽ có nguy cơ dẫn tới những chiều hướng
phát triển thiên lệch có hại cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế cả
nước, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của cả nước với các nước xung
quanh.
Vì vậy mà các tập đoàn kinh tế nhà nước thường hoạt động trong những
lĩnh vực giữ vị trí rất quan trọng, then chốt trong nền kinh tế của một nước. Các
tập đoàn này thường tập trung vào các lĩnh vực như các ngành cung cấp than,
điện, hàng không, bưu chính viễn thông, một số sản phẩm trong lĩnh vực kết cấu
hạ tầng khác như cung cấp nước, giao thông vận tải thủy và bộ (ví dụ đường sắt,
các cảng biển) Ngoài ra một số đòi hỏi nhất định về an ninh và quốc phòng
11
khiến cho Nhà nước cần trực tiếp nắm lấy, ví dụ ngành hàng không, ngành bưu
chính viễn thông
[5]
II. Cạnh tranh và cạnh tranh trong tập đoàn kinh tế nhà nước.
1. Cạnh tranh.
1.1. Cạnh tranh là gì?
Cạnh tranh là một quy luật kinh tế khách quan. Và là quy luật kinh tế
đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường theo lí thuyết bàn
tay vô hình của A.Simth.
Với cách hiểu đó, cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị
trường tự do dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhu
cầu và mong muốn của người tiêu dùng. Khi có cạnh tranh, không một chính

Tuy nhiên, cũng cần thấy được những thất bại trên thị trường cạnh tranh
gây nên tổn thất xã hội, nó đòi hái sự can thiệp đúng mức của chính phủ để điều
chỉnh các thi trường một cách tốt nhất.
2. Cạnh tranh trong tập đoàn kinh tế nhà nước.
Trong một số bối cảnh, sức mạnh của thị trường không bảo vệ được sự
cạnh tranh trong kinh doanh và lợi Ých mà sự cạnh tranh đó đem lại cho người
tiêu dùng, những bối cảnh như vậy rất phổ biến ở các nước đang phát triển, nơi
các doanh nghiệp trước kia là của nhà nước thường khống chế một nền công
nghiệp và các nhà quản lý ở các khu vực đã được tư nhân hoá thường thích hợp
tác hơn là cạnh tranh.
[7]
Điều này thấy rõ nhất trong các tập đoàn kinh tế nhà nước, do bản chất sở
hữu nhà nước của những tập đoàn này khiến chúng chậm thích nghi hoặc không
thể thích nghi với sự biến động năng động của môi trường kinh tế - thể hiện tập
trung ở sự giảm sút khả năng cạnh tranh của nhóm tập đoàn này; Nó đặt ra yêu
cầu cấp bách: Cần phải xây dựng những tập đoàn kinh tế có tính cạnh tranh cao
để đảm bảo vai trò là những “quả đấm thép” trong nền kinh tế.
• Cơ sở của sự cạnh tranh trong một tập đoàn kinh tế nhà nước.
Xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước cạnh tranh là một tất yếu khách
quan. ở các tập đoàn kinh tế nhà nước thường cũng chính là một ngành, một thị
trường riêng biệt đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế. Quy luật cạnh tranh
13
trong một ngành đòi hỏi phải xây dựng tính cạnh tranh ngay trong những tập
đoàn này.
Có quan điểm cho rằng, có những thị trường, trong đó cạnh tranh không
đem lại ý nghĩa kinh tế nào. Chúng ta không muốn các công ty nước đang cạnh
tranh đào các đường ống dẫn dưới các phố để những người tiêu dùng có thể
chọn lựa trong số các nhà cung cấp nước. Có một vài lĩnh vực như vậy thường
được gọi là "những lĩnh vực độc quyền tự nhiên", trong đó, như bản thân thuật
ngữ này cho thấy, lợi Ých của việc cạnh tranh không đáng với cái giá phải bỏ ra.

• Tập đoàn kinh tế cạnh tranh như thế nào?
- Thứ nhất, xuất phát từ chức năng của các tập đoàn kinh tế là đóng vai trò
chủ đạo ở các lĩnh vực then chốt, là những quả đấm thép trong nền kinh tế nên
nó cần chịu sự quản lí điều tiết vĩ mô từ phía nhà nước.Vừa đảm bảo được vai
trò của mình, đồng thời phát huy được sự chủ động về hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh.
- Thứ hai, các tập đoàn kinh tế nhà nước với vai trò là các thành viên
trong nền kinh tế, hoạt động không nằm ngoài các quy luật kinh tế khách quan:
cạnh tranh, cung cầu, giá trị và chịu tác động trước những biến động của môi
trường như các thành phần kinh tế khác.
Như vậy, tập đoàn kinh tế cũng sẽ cạnh tranh theo cơ chế của thị trường
và cạnh tranh trong sự điều tiết của chính phủ. ở đó, cạnh tranh diễn ra giữa:
Các tập đoàn kinh tế với các các thành viên kinh tế khác trong nền kinh
tế.
Cạnh tranh giữa các tập đoàn kinh tế với nhau.
Cạnh tranh ngay trong nội bộ tập đoàn.
• Câu hỏi đặt ra: Có mâu thuẫn không khi phải cạnh tranh ngay trong một
tập đoàn? Có thể hiểu rõ hơn về câu trả lời khi xem xét các luận điểm
dưới đây:
- Tập đoàn kinh tế cũng là doanh nghiệp với mục tiêu lợi nhuận. Cạnh
tranh để nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh ở tập đoàn. Đó là
một tất yếu.
- Tập đoàn kinh tế nhưng lại là một lĩnh vực đặc thù, một nghành, một thị
trường. Vì vậy không có gì lạ khi cạnh tranh diễn ra trong một ngành, trên một
thị trường để giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm dịch vụ của ngành Êy
trên thị trường đó.
15
- Và đa phần,các tập đoàn kinh tế nhà nước đều thuộc lĩnh vực độc quyền
tự nhiên. Nhưng độc quyền tự nhiên không phải ở tất cả các khâu của ngành,
cạnh tranh ở các khâu bộ phận không phải độc quyền tự nhiên là cần thiết để hạn

Xuất phát từ nhu cầu của nền kinh tế về việc nhà nước cần phải có những
doanh nghiệp đủ mạnh, làm đầu tàu chủ đạo cho nền kinh tế quốc dân, tiến tới
về lâu dài những doanh nghiệp này phải trở thành các tập đoàn kinh tế hùng hậu,
đủ sức hội nhập và cạnh tranh trong khu vực và trên toàn thế giới. Các tập đoàn
kinh tế nhà nước đã ra đời, đóng những vai trò then chốt để đảm bảo nền kinh tế
phát triển. Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) là một tập đoàn kinh tế nhà nước
hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực chính là sản xuất điện nhằm cung
cấp và đáp ứng đủ nhu cầu điện của quốc gia.
Tổng Công ty Điện lực Việt Nam được chuyển đổi thành Tập đoàn Điện
lực Việt Nam – EVN từ năm 2006 theo Quyết định số 48/2006/QĐ-TTg của
Thủ tướng Chính phủ. EVN kinh doanh đa ngành. Trong đó, sản xuất, kinh
doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực là ngành nghề kinh
doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công
nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo.
2. Cơ cấu tổ chức của tập đoàn điện lực Việt Nam.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hoạt động theo mô hình Công ty mẹ
- Công ty con.
EVN được hình thành trên cơ sở đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là
chi phối, bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp đa
sở hữu, được sắp xếp, tổ chức lại từ Tổng công ty Điện lực Việt Nam và các đơn
vị thành viên.
17
Mối quan hệ giữa Công ty mẹ trong Tập đoàn EVN với chủ sở hữu nhà
nước và các công ty con, công ty liên kết được thực hiện theo pháp luật và quy
định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ.
EVN là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân, con dấu, biểu tượng,
điều lệ tổ chức và hoạt động; được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước, ngân
hàng theo quy định của pháp luật; được tự chủ kinh doanh; có trách nhiệm kế
thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Tổng công ty #iện lực Việt Nam.
Chính phủ thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ

hình Nhà nước độc quyền quản lý tất cả các khâu của quá trình: Sản xuất - Truyền
tải - Phân phối điện năng. Mô hình này dẫn đến nhiều hạn chế về quản lý cũng như
hiệu quả đầu tư, không thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh điện năng.
Giá bán điện cho từng loại khách hàng được tính trên cơ sở chi phí cận
biên dài hạn và do Chính phủ quy định áp dụng thống nhất trong cả nước. Giá
bán điện vẫn còn mang nặng tính “bù chéo” giữa các nhóm khách hàng.
Hoạt động kinh doanh điện năng hiện nay chưa tách bạch rõ ràng chức
năng kinh doanh và hoạt động công Ých của các công ty phân phối điện.
[11]
5. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn điện lực Việt Nam.
Tập đoàn EVN ra đời từ tổng công ty điện lực Việt Nam, EVN đã có
những đóng góp to lớn trong nền kinh tế quốc dân.
• Các thành tựu mà tập đoàn đạt được:
EVN có mức tăng trưởng liên tục về sản lượng điện qua các năm. Chia làm
hai giai đoạn: 2000 – 2006 và 2006 – 2008. Đồng thời số lượng khách hàng mua
điện trực tiếp từ EVN tăng lên đáng kể qua các năm. Cô thể qua các bảng sau:
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Điện phát ra Tr.kwh 26683
30673,1
15%
35888
17%
40546
13%
46202
14%
52078
12,7%
59050
13,4%

trực tiếp của EVN
(tính đến cuối tháng 9)
9,000,000 10,180,000 11,877,342
Nguồn: Tài liệu tổng hợp của nhóm nghiên cứu.
Bảng 2. Sản lượng điện và số khách hàng mua điện trực tiếp của EVN
(từ 2006-2008 )
20
Ngoài ra, thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ về thực hiện phúc lợi xã hội,
diện tích mở rộng vùng được sử dụng điện trong cả nước tăng lên đáng kể. EVN
thực hiện đưa điện về các vùng sâu, vùng xa, các vùng miền núi, nông thôn.
Phát triển điện tại khu vực nông thôn để đáp ứng yêu cầu về công bằng xã
hội luôn được Chính phủ quan tâm và có chính sách tổng thể. Thực hiện phương
châm Nhà nước, chính quyền địa phương và nhân dân cùng đóng góp nguồn lực
để đưa điện về nông thôn, đến nay công cuộc đưa điện về nông thôn đã đạt được
những thành tựu đáng khích lệ.

Nguồn: Số liệu từ EVN.
Bảng 3. Số liệu về phát triển điện khu vực nông thôn 2006 – 2008.
• Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồn tại những hạn chế rất lớn:
Năm
Số huyện có điện
luới quốc gia.
Số xã có điện
lưới quốc gia.
Số hộ có điện lưới quốc
gia.
2006 100%
96%
91,53%
2007 100% 96.95% 93,35%

bảng số sau:
23
Nước GDP
(TỷUSD)
GDP/đầu
người(1.000USD)
Điện tiêu
thụ(TỷkWh)
GDP/điện tiêu
thụ(USD/kWh)
Iran 105 1,5 99 1,1
BồĐàoNha 105 10,5 36 2,9
Ixrael 110 18,3 34 3,2
Hy Lạp 113 10,6 41 2,8
Phần Lan 121 23,3 75 1,6
Vênêzuêla 120 4,9 60 2,0
Thái Lan 122 1,9 85 1,6
Nam Phi 126 2,9 163 0.8
Inđônêxia 153 0,7 73 2,1
Ba Lan 158 4,1 92 1,7
Đan Mạch 162 30,5 32 5.1
Na Uy 162 36,0 109 1,5
HồngKông 163 23,5 36 4,5
Arập xêút 173 8,5 96 1,8
áo 189 23,3 50 3,8
ThổNhĩ Kỳ 200 3,0 93 2,1
Trungbình 143 73 2,4
Việt Nam
*
27,6 0,363 26,683 1,03

nhà nước.
• Nguyên nhân của những hạn chế.
Hạn chế lớn nhất của tập đoàn điện lực Việt Nam là: Dù là một tập đoàn
kinh tế nhà nước, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi, được sử dụng những
nguồn lực kinh tế dồi dào nhưng lại không hoàn thành tốt chức năng trong lĩnh
vực sản xuất kinh doanh chính của mình – không đáp ứng đủ yêu cầu về điện
cho nền kinh tế quốc dân, để diễn ra tình trạng thường xuyên cắt điện luân phiên
gây ra những tổn thất nhất định cho nền kinh tế.
Nguyên nhân trực tiếp của tình trạng này là thiếu nguồn cung về điện
trong ngành. Nhưng đó lại chỉ là bề nổi của vấn đề. Nguyên nhân sâu xa của nó
thì tồn tại trong cơ chế, thể hiện rõ nhất khi trả lời câu hỏi: “Nguồn cung về
điện không đủ cho nền kinh tế nhưng tại sao lại có nhiều nhà máy điện sau khi
xây dựng lại không thể đi vào vận hành?”
Nghiên cứu mô hình hoạt động nội tại của EVN để làm rõ vấn đề. Khi
trên thị trường chỉ tồn tại một người mua duy nhất là công ty mua bán điện trưc
thuộc EVN, đồng thời đó cũng chính là đơn vị nắm giữ đến hơn 70% sản lượng
toàn ngành điện trên thị trường phát điện cạnh tranh nội bộ thì việc Ðp giá đối
với các doanh nghiệp bên ngoài EVN là điều đương nhiên. Và như thế, tất yếu
không thể thu hút đầu tư từ bên ngoài vào thị trường phát điện để giải quyết
được bài toán về nguồn cung.
25
Rõ ràng, để có đủ nguồn cung về điện thì có hai cách làm:
Một là, thu hút đầu tư từ bên ngoài, nhưng điều này bị hạn chế về giá cả
mua bán là của công ty mua bán điện duy nhất trên thị trường chi phối, không
hấp dẫn các nhà đầu tư.
Hai là, EVN sẽ tiến hành đầu tư xây dựng các nhà máy phát điện nhằm
đáp ứng đủ nguồn cung. Thế nhưng việc làm này lại rất thiếu khả thi khi chính
EVN trả lại chính phủ 13 dự án điện vì lÝ do không huy động đủ nguồn vốn để
thực hiện các dự án này.
Vậy, nguyên nhân cơ bản nhất chính là cơ chế nội tại của thị trường điện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status