SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
GIÚP HỌC SINH LỚP 8 NHẬN BIẾT DẤU HIỆU
CÁC LOẠI TỨ GIÁC THÔNG QUA HÌNH ẢNH
TRỰC QUAN
I. Đặt vấn đề :
1. lý do chọn đề tài :
A. Cơ sở lý luận
Xuất phát từ mục tiêu Giáo dục hiện nay là phải đào tạo ra con
người có trí tuệ phát triển, giàu tính sáng tạo và có tính nhân văn cao.
Để đào tạo ra lớp người như vậy thì nghị quyết TW 4 khóa 7 năm 1993
đã xác định: phải áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng
cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Nghị
quyết TW 2 khóa 8 tiếp tục khẳng định: phải đổi mới giáo dục đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nề nếp tư duy sáng
tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến,
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, dành thời gian tự học, tự
nghiên cứu của hoc sinh.
Đinh hướng này đã được pháp chế hóa trong luật giáo dục:
phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh, phải phù hợp với đặc điểm của từng môn học,
rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lạ niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
B. Cơ sở thực tiễn:
Trong chương trình giáo dục của nước ta hiện nay nhìn chung tất
cả các môn học đều cho chúng ta tiếp cận với khoa học hiện đại và
khoa học ứng dụng. Đặc biệt bộ môn toán,các em được tiếp thu kiến
thức xây dựng trên tinh thần toán học hiện đại. Trong đó có nội dung
Trang 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
xuyên suốt quá trình học tập của các em đó là tứ giác. Ở cấp tiểu học,
các em đã làm quen, nhận biết với các loại tứ giác thông dụng: hình
lý thuyết.
Ít tiếp xúc, vận dụng các loại tứ giác trong thực tế.
Kỹ năng chứng minh tứ giác của các em còn hạn chế,chậm. Các
em ít quan tâm đến ý nghĩa thực tế của bài toán.
Trang 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
Ý thức học tập của nhiều học sinh còn hạn chế. Chưa xác định
được mục đích học tập.
Trong quá trình giảng dạy toán ở trường THCS tôi thấy dạng toán
chứng minh tứ giác luôn luôn là một trong những dạng toán cơ bản.
Dạng toán này không thể thiếu được trong các bài kiểm tra 1 tiết, kiểm
tra học kỳ. Nó chiếm khoảng 2 đến 3 điểm trong những bài kiểm tra
định kỳ.
Vì vậy, nhiệm vụ của người giáo viên phải rèn cho học sinh kỹ năng
giải được dạng toán này.
Bằng những kinh nghiệm rút ra được sau nhiều năm giảng dạy lớp
8, tôi mạnh dạng viết đề tài: “Giúp học sinh lớp 8 nhận biết dấu hiệu
các loại tứ giác thông qua hình ảnh trực quan”
2. Lịch sử đề tài :
Học sinh nhận biết các loại tứ giác: hình chữ nhật, hình vuông thông
qua hình ảnh ở cấp tiểu học.
Thực tế có rất nhiều giáo viên nghiên cứu phương pháp dạy dạng
toán: chứng minh tứ giác. Song chỉ dừng lại ở việc yêu cầu học sinh
học thuộc dấu hiệu nhận biết các loại tứ giác, thường xuyên làm bài
tập, chứ chưa khắc sâu dấu hiệu nhận biết các loại tứ giác thông qua
hình ảnh thật.
Một số giáo viên ứng dụng các phần mềm:powerpoint, violet…
trong giảng dạy dạng toán này, điều này rất hữu ích cho học sinh.Tuy
nhiên số lượng giáo viên ứng dụng được hạn chế, điều kiện nhà trường
chưa cho phép,đầu tư rất nhiều thời gian cho việc soạn giáo án….
2. Thực trạng tình hình :
Trang 5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
Học sinh lớp 8A, 8B, 8C trường THCS Vĩnh Thịnh, Hòa Bình, Bạc
Liêu năm học 2011-2012, tổng số 3 lớp có: 102 học sinh. Chất lượng
đầu năm về học lực bộ môn toán thấp cụ thể thông qua kết quả điểm
khảo sát chất lượng đầu năm học thấp, cụ thể:
Lớp
Sĩ
số
Điểm khảo sát chất lượng đầu năm học
Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
8A 37 10 27.1 7 18.9 14
37.
8
6 16.2 0 0
8B 32 0 0 2 6.3 6
18.
8
16
50.
0
8 24.9
8C 33 0 0 3 9.1 4 12.1 17
51.
8
9 27.0
Qua thực trạng, ta thấy đại đa số học sinh chưa xác định đúng mục đích
học tập. Chất lượng đầu vào thấp, học sinh không có sự ôn luyện trong
đặc biệt đồ dùng trực quan dễ tạo cảm giác chán nản trong học sinh, học
sinh ít thấy được mối quan hệ giữa toán học với thực tế.
Những thực trạng nói trên tồn tại dẫn đến việc tiếp thu kiến thức
mới của học sinh gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt kiến thức hình
học.Học sinh không thích thú khi học phần hình học
3. Giải pháp :
Qua thực trạng nêu trên, để khắc phục những khó khăn của học sinh
gặp phải khi học phần hình học lớp 8, chương I, SGK Toán 8, tập 1, tôi
xin đưa ra một giải pháp : “Giúp học sinh lớp 8 nhận biết dấu hiệu các
loại tứ giác thông qua hình ảnh trực quan.” Giải pháp này theo tôi rất hữu
Trang 7
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
hiệu khi dạy bài mới hay dạy nội dung dâu hiệu nhận biết các loại tứ
giác.
Hình ảnh trực quan ở đây là đồ dùng dạy học có hình ảnh như sau:
Hình 1: Đây là dụng cụ gồm 4
đỉnh (A,B,C,D) có thể co giãn. Tại
một đỉnh nào đó (A) có dụng cụ
tạo góc vuông. Ở hình 1 này ta có
thể dạy bài hình bình hành rất tốt. Học sinh có thể tìm được rất nhiều
hình bình hành trong thực tế.
Sau khi co giãn:
Như vậy trong quá trình co
giãn, học sinh sẽ nhận thấy có
nhiều hình ảnh là hình bình
hành. Các em có thể nhìn thấy
được hình chữ nhật mà sau này các em tìm hiểu kỹ hơn cũng là hình bình
hành.
Ở bài học hình chữ nhật ta sẽ có hình ảnh
sau: Hình 1.b.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
Hình 2: Đây là dụng cụ gồm 4 đỉnh (A,B,C,D) có thể co giãn,4 đoạn
thẳng bằng nhau. Tại một đỉnh nào đó (A) có dụng cụ tạo góc vuông. Ở
hình 1 này ta có thể dạy bài hình thoi.
Sau khi co giãn:
Như vậy trong quá trình co giãn,
học sinh sẽ nhận thấy có nhiều hình ảnh
là hình thoi. Các em có thể nhìn
thấy được hình thoi cũng là
hình bình hành.
Trong bài hình vuông có dấu hiệu: “ Hình
thoi có 1 góc vuông là hình vuông”. Đối với
dấu hiệu này ta có thể sử dụng hình 2, bổ xung yếu tố góc vuông là sẽ
giúp học sinh nhận dạng nhanh dấu hiệu này.
III. Kết luận :
Trang 9
A
B
D
C
A D
B C
A
D
C
B
Hình 2.a
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
1. Kết quả:
Sau khi thực nghiệm đề tài tại trường THCS Vĩnh Thịnh, tôi thấy
Trang 10
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM GV: VÕ HỮU NGHĨA
Do điều kiện, năng lực bản thân còn hạn chế, các tài liệu tham khảo
chưa thật sự đầy đủ nên chắc chắn còn những điều chưa chuẩn, nhưng tôi
mong đề tài này sẽ được đồng nghiệp sử dụng rộng rãi, nhằm giúp ích
trong học tập phần hình học trong học sinh. Rất mong được sự góp ý của
đồng nghiệp, sự chỉ bảo của tổ trưởng tổ chuyên môn, ban giám hiệu,các
đồng chí chuyên môn của Phòng giáo dục để đề tài này hoàn chỉnh hơn,
sâu sắc hơn, đạt hiệu quả giảng dạy tốt nhất.
• Kiến nghị :
1. Đề nghị hội đồng tuyển sinh quan tâm hơn nữa chất lượng
đầu vào.
2. Đề nghị Phòng giáo dục mở thêm các chuyên đề để chúng tôi
có điều kiện trao đổi và học hỏi thêm.
3. Đề nghị phụ huynh học sinh quan tâm hơn nữa đến việc học
tập của con em mình.
Hòa Bình, ngày … tháng … năm 20…
Người viết đề tài
VÕ HỮU NGHĨA
Trang 11