cái tôi trữ tình trong tập thơ những bông hoa không chết của lưu quang vũ - Pdf 24

Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Lưu Quang Vũ đã ra đi trọn hai mươi năm (1988 – 2008). Hai mươi năm
chưa đủ để đi hết nửa đời người, nhưng đã là một quãng thời gian dài cho người
sau nhìn lại và đánh giá một sự nghiệp văn chương một cách chín chắn hơn, trọn
vẹn hơn.
Lưu Quang Vũ nổi tiếng nhờ kịch, có thể nói, anh là một trong những nhà
viết kịch lớn nhất của nghệ thuật kịch Việt Nam. Từ khi Lưu Quang Vũ bước
vào làng kịch Việt Nam đến ngày anh ra đi, hơn năm mươi vở kịch đã được viết,
đã trở thành tài sản vô giá của nền sân khấu dân tộc, trong đó, hàng chục vở đã
đạt Huy chương vàng hội diễn sân khấu toàn quốc. Anh đã từng được mệnh
danh là “Moliere ở Việt Nam”. Thế nhưng, không hẹn mà gặp, nhiều nhà nghiên
cứu cùng đồng tình với Anh Ngọc ở điểm này: “Có người khẳng định vinh
quang của anh là ở kịch, nhưng riêng tôi, tôi vẫn cho rằng Vũ là một nhà thơ
nhiều hơn và anh sẽ tồn tại với mai sau như một nhà thơ”. Kỉ niệm hai mươi
năm ngày mất của vợ chồng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh, người ta nhớ câu
nói ngậm ngùi của nhà văn Nguyễn Khắc Phục: "Đi hết đường thơ, Lưu Quang
Vũ sẽ trở thành nhà thơ vĩ đại nhất của thời đại mình". Những gì mà Lưu Quang
Vũ để lại cho nền thi ca Việt Nam hiện đại đã cho thấy sự tài hoa, những phẩm
chất độc đáo tuyệt vời của một tâm hồn thơ giàu xúc cảm. Thế nhưng, do cái
bóng của chính anh quá lớn, bị phần kịch che khuất, phần thơ của Lưu Quang
Vũ còn là một bí ẩn chưa được nhìn nhận đầy đủ trong nghiên cứu phê bình.
Sự nghiệp thơ Lưu Quang Vũ quả thực là đồ sộ. Tập thơ đầu tay của Lưu
Quang Vũ in chung với Bằng Việt - Hương cây – bếp lửa - ra đời đã là một hiện
tượng đẹp của văn học nước nhà. Năm đó Lưu Quang Vũ mới chỉ tròn hai mươi
tuổi. Sau đó, dẫu sáng tác rất nhiều, mãi đến khi anh qua đời, các tập Mây trắng
của đời tôi (1989) và Bầy ong trong đêm sâu (1993) mới được gia đình và bạn
hữu tiến hành xuất bản. Sau đó là tập Lưu Quang Vũ – Thơ và đời (1997). Tuy
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà

Vũ “già đi” trước cuộc đời, “mang rất nhiều dằn vặt, nhiều nghĩ ngợi chiêm
nghiệm, có phấn đấu và cũng có thất vọng”. Đặc biệt, Vũ Quần Phương đã nhận
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
2
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
ra, trong những năm đó, Lưu Quang Vũ “nhận thức xã hội sâu lên nhiều, nhất là
anh nhận thức ra chính anh, khám phá ra chính anh”.
Sau Vũ Quần Phương có thể kể đến nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân
Nguyên với bài viết Lưu Quang Vũ - tâm hồn trở gió. Trong bài viết này, nhà
nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên đã có những cảm nhận rất sâu sắc về thơ Lưu
Quang Vũ, nhận ra một số điểm cơ bản trong thơ Lưu Quang Vũ, đặc biệt là
những cảm nhận tinh tế và khá chính xác trong việc nhận chân cái tôi trữ tình Lưu
Quang Vũ trong thơ: “Như con tàu luôn bồn chồn ra đi. Thơ anh tất bật, hối hả
như đời anh, suốt đời vội đi, suốt đời nóng ruột… Cảm hứng mạnh nhất trong thơ
anh là cảm hứng khai phá, tìm kiếm, dẫu sau vô biên sẽ chỉ có vô biên.”
Công trình nghiên cứu về cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ, từ trước đến
nay, chỉ có khóa luận của Hà Thị Hạnh - Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang
Vũ giai đoạn 1971-1973 - là đi nghiên cứu công phu và tỉ mỉ về cái tôi trữ tình
Lưu Quang Vũ. Trong công trình này, tác giả đã đi khảo sát tác phẩm đã công
bố của Lưu Quang Vũ trong các tập Hương cây, Mây trắng của đời tôi, Bầy ong
trong đêm sâu, Lưu Quang Vũ – thơ và đời. Tuy nhiên, trọng tâm nghiên cứu
của công trình này chỉ là đi sâu tìm hiểu khảo sát cái tôi trữ tình trong thơ Lưu
Quang Vũ ở một giai đoạn có tính chất bước ngoặt trong đời thơ của anh: năm
1971-1973.
Những thành tựu của các bài viết, công trình nghiên cứu này có ý nghĩa lớn
lao cho chúng tôi định hướng trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu về
cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ.
Năm 2008, nhân dịp kỉ niệm 20 năm ngày mất của vợ chồng Xuân Quỳnh –

Trong bài tập này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1. Phương pháp phân tích
2. Phương pháp so sánh
3. Phương pháp khảo sát thống kê
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
4
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
LƯU QUANG VŨ – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
I. Cuộc đời
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 – 4 – 1948 tại huyện Hạ Hòa – tỉnh Phú Thọ,
cũng là nơi Lưu Quang Vũ sẽ sống những năm tháng đầu tiên của tuổi thơ cho
đến ngày hòa bình lập lại chuyển về Hà Nội.
Về Hà Nội, gia đình Lưu Quang Vũ sống nhờ một người bà con trong một
tòa nhà ở phố Trần Quang Khải, về sau chuyển về căn phòng 96A Phố Huế. Đây
là căn phòng Lưu Quang Vũ đã lớn lên, “sống suốt thời thơ ấu, trải qua thời
thanh niên lận đận, đã trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, đã sống những
ngày cuối của đời mình” (Hồi ức của bà Vũ Thị Khánh – mẹ Lưu Quang Vũ).
Theo gia đình anh kể lại, Vũ sớm có tư chất nghệ thuật. Năm 1961, mới
13 tuổi, Lưu Quang Vũ đã có truyện ngắn Đám trẻ con làng Á được in, giành
giải thưởng của thành phố. Có một người cha rất say mê văn chương truyền cho
tình yêu với nghệ thuật từ thưở bé, tài năng Lưu Quang Vũ ngày càng phát lộ
trên nhiều lĩnh vực.
Năm 1965 – mới 17 tuổi – Lưu Quang Vũ nhập ngũ.
Lưu Quang Vũ có hai đời vợ. Lần thứ nhất, anh lấy vợ là diễn viên điện
ảnh Tố Uyên – cô diễn viên tài hoa nổi tiếng với vai diễn trong phim Con chim
vành khuyên. Hai người có một người con là Lưu Minh Vũ. Sau đó, rời quân

Sự nghiệp anh tuy trên nhiều lĩnh vực nhưng cô đọng nhất có lẽ là ở kịch và thơ.
Năm 1980, Lưu Quang Vũ bước vào làng kịch. Cho đến năm 1988, khi
Lưu Quang Vũ qua đời, sự nghiệp viết kịch của anh đã rất dày dặn với hơn 50
vở, trong đó, hàng chục vở đã đạt Huy chương vàng hội diễn sân khấu toàn
quốc, đã được dàn dựng hàng trăm lần. Lưu Quang Vũ từng được mệnh danh là
“Moliere ở Việt Nam”.
Tuy nhiên, bên cạnh một Lưu Quang Vũ – nhà viết kịch tài năng đã được
hiển nhiên công nhận còn là một Lưu Quang Vũ – gương mặt thơ độc đáo.
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
6
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
Tập thơ đầu tiên của Lưu Quang Vũ – Hương cây – in chung với Bằng Việt
trong Hương cây bếp lửa – đã trở thành một hiện tượng đáng quan tâm của văn học
nước nhà. Các nhà nghiên cứu phê bình đã nhận xét: “chỉ riêng hai mươi bài trong
tập này thôi, Lưu Quang Vũ đã là một trong những đỉnh cao của thơ ca chống Mĩ
và vẫn là một hồn thơ được nhiều ưu ái nhất” (Vũ Quần Phương).
Sau đó, Lưu Quang Vũ vẫn sáng tác rất nhiều. Anh viết thơ như một cách
viết nhật kí, viết để kí thác nỗi niềm tâm sự, viết mặc dầu bị từ chối in trong điều
kiện khách quan thời đó, viết chỉ để thỏa mãn duy nhất một nhu cầu là được
sáng tạo – theo ý nghĩa chân chính nhất của từ “sáng tạo nghệ thuật”. Thơ Lưu
Quang Vũ viết những ngày đó chỉ “sống im lặng trong sổ tay và trí nhớ bạn bè”
nhưng đã được tất cả những người phê bình sành sỏi và tinh đời nhất công nhận,
ví như Hoài Thanh từng nhận xét: “đúng nó là vàng thật, đúng nó là thơ” khi
đọc những bài thơ của anh. Nhà thơ Vũ Quần Phương thì cho rằng, dù ở lĩnh
vực sáng tác nào, cốt cách của anh vẫn là “cốt cách thi sĩ”, và “về lâu dài, sự
đóng góp của Lưu Quang Vũ về thơ còn lớn hơn về kịch”.
Sau này, khi Lưu Quang Vũ đã ra đi, những tập thơ tiếp theo mới được
biên soạn và công bố: Mây trắng của đời tôi (1989), Bầy ong trong đêm sâu

nghệ thuật riêng biệt mang dấu ấn đậm nét của nhà sáng tạo. Với Lưu Quang Vũ
– một con người luôn không hòa lẫn giữa mọi người, một bản năng nghệ thuật
luôn tách biệt khỏi những khuynh hướng chung, phủ nhận mọi sự lí tưởng hóa
để tìm về một chân lí bất diệt phía trước của nhân loại – cái tôi trữ tình trong thơ
anh lại càng hiện lên sắc sảo, sống động. Có thể nói, bắt rễ từ cái tôi nhà thơ đầy
cá tính, cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ mang những giá trị riêng giữa
giá trị chung của nền thơ trẻ chống Mĩ lúc bấy giờ.
Lưu Quang Vũ bắt đầu sáng tác thơ từ năm anh còn rất ít tuổi và sự
nghiệp sáng tác đó còn kéo dài đến cuối cuộc đời anh. Trong suốt con đường dài
và nhiều trăn trở ấy, có thể thấy, thơ Lưu Quang Vũ luôn có sự vận động, đổi
thay. Tiếp nhận quan điểm của tác giả Hà Thị Hạnh trong công trình nghiên cứu
Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ giai đoạn 1971-1973, chúng tôi chia
hành trình thơ Lưu Quang Vũ ra làm ba giai đoạn:
1. Từ năm 1963-1970
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
8
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
2. Từ năm 1971-1973
3. Từ năm 1974-1988
Ba chặng đường thơ, đánh những dấu mốc trưởng thành trong thơ Lưu
Quang Vũ không chỉ về nội dung mà còn về phương thức biểu hiện. Cái tôi trữ
tình trong ba chặng đường đó cũng có những thay đổi lớn lao. Sự thay đổi vận
động đó có thể được khái quát thành những điểm lớn như sau: 1. Từ năm 1963
đến năm 1970, cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Quang Vũ là cái tôi giàu cảm xúc
tin yêu, mơ mộng với cuộc đời, giọng thơ “nồng nàn đắm đuối”. 2. Từ 1971-
1973, giai đoạn này đánh dấu sự trưởng thành của cái tôi trữ tình Lưu Quang
Vũ, trong đó, những cảm xúc mộng mơ và tin yêu đã dần khuất lấp, nhường chỗ
cho những hoài nghi, trăn trở trước cuộc đời và nghệ thuật. Cái tôi trữ tình trong

thơ Lưu Quang Vũ viết trong khoảng những năm từ 1971 – 1976, tuy nhiên, qua
khảo sát, chúng tôi nhận thấy, trong tập này chỉ có một bài sáng tác năm 1971:
Những bông hoa không chết, còn lại đều được sáng tác trong khoảng những năm
1974-1976. Đây là một thời điểm đặc biệt: nằm ở giai đoạn sáng tác thứ ba của
anh nhưng lại nằm ở khoảng đầu, nghĩa là giai đoạn bắt đầu có những bước
chuyển tiếp, những đổi thay, những biểu hiện độc đáo của một hồn thơ đang dần
chuyển từ thái cực này sang thái cực khác. Cái tôi trữ tình thể hiện trong tập thơ
này vì thế mà có những nét riêng, những vẻ đẹp riêng trong sự nghiệp thi ca Lưu
Quang Vũ nói chung.
Trong bài tập niên luận này, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát, tìm hiểu, phân tích
cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ trong tập thơ này, dựa trên những ý kiến nhận
định có tính chất định hướng của người đi trước.
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
10
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
CHƯƠNG II
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ NHỮNG BÔNG HOA
KHÔNG CHẾT CỦA LƯU QUANG VŨ
Tập thơ Những bông hoa không chết được viết ra trong một thời điểm đặc
biệt của hành trình thơ Lưu Quang Vũ, cũng là một thời điểm đặc biệt của lịch
sử dân tộc. Đó là thời điểm đất nước đang đứng trước cửa ngõ và rồi bước vào
thời kì hòa bình lập lại, thống nhất Nam Bắc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây
dựng lại cuộc sống sau những năm tháng khốc liệt của chiến tranh. Những năm
tháng đó là những thời khắc kì diệu mà lịch sử mãi mãi ghi nhận như một dấu
son trong quá khứ dân tộc. Thế nhưng, đứng trong hiện thực bề bộn và phong
phú để nhìn nhận, hòa bình không chỉ được nhìn từ góc độ ngợi ca, hân hoan,
khẳng định. Vẫn còn những góc nhìn khác, không hẳn trái chiều nhưng sâu hơn,
mờ khuất hơn. Ví như cái nhìn về tâm thức con người thời mới trở về trạng thái

hiểu khảo sát về cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ trong tập thơ này, chúng tôi sẽ
luôn có sự đối chứng và phân biệt với cảm thức chung của văn học chống Mĩ
cùng thời. Ở đây, chúng tôi tạm xét cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ trong hai bình
diện: cái tôi thế sự và cái tôi sử thi dù rằng sự phân chia này trong thơ Lưu
Quang Vũ chỉ mang tính tương đối, trong đó, chúng tôi sẽ cố gắng nhìn nhận
những cảm thức của cái tôi đó theo đúng mạch vận động và dạng tồn tại của nó
ở trong tập thơ và trong hành trình thơ Lưu Quang Vũ.
I. Cái tôi sử thi
Cái tôi sử thi là cái tôi được hình thành từ tư cách công dân và cảm hứng
lãng mạn. Trong thời kì chiến tranh, đứng trước sự mất còn của dân tộc, đối diện
với những vấn đề quốc gia trọng đại, con người chủ yếu sống cho lí tưởng,
hướng về những sự kiện lớn của lịch sử. Bởi thế, cái tôi sử thi lấn át cái tôi thế
sự đời tư là điều dễ hiểu.
Cái tôi sử thi của văn học chống Mĩ (hay gọi tên chính xác hơn là văn học
thời chống Mĩ vì thuật ngữ này chỉ nhấn mạnh vào thời gian chứ không chủ ý
chỉ đến nội dung) chủ yếu đi về cảm nhận và bày tỏ thái độ ngợi ca với cuộc
kháng chiến anh hùng bất khuất của nhân dân, ngợi ca dân tộc vững vàng trong
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
12
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
khói lửa với cảm hứng sử thi làm nên âm hưởng chủ đạo cho dàn đồng ca “Tổ
quốc bao giờ đẹp thế này chăng” (Chế Lan Viên), “Tổ quốc tôi như một thiên
đường” (Tố Hữu), cái tôi đó tự hào tin tưởng ngay cả những ngày gian khổ: “tôi
xẻ mình ra ngang dọc chiến hào/ cho liền sông núi vạn đời sau/ Việt Nam chín
vạn ngày lửa đạn/ cho ngàn năm nhân loại ngẩng cao đầu” (Chế Lan Viên).
Hiện thực hào hùng của thời chống Mỹ được cái tôi sử thi cảm nhận trên chiều
kích của cảm hứng lãng mạn và con người đứng trên tư cách công dân để phát
ngôn cho thời đại.

Là người có kiến thức dày dặn về lịch sử và văn hóa, Lưu Quang Vũ đã
có những cảm nhận thật sâu sắc về dân tộc trong chiều sâu của văn hóa, chiều
dài của lịch sử. Cái tôi ấy nhìn một dòng sông không đơn thuần là dòng sông,
cũng không phải là địa danh anh hùng trong kháng chiến mà được hiểu như một
“hiện vật” gắn bó thiết thân với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, là
con sông lắng đọng phù sa của đất nước qua bao năm tháng. Nhìn dòng sông,
cái tôi đó nhìn ra những lớp trầm tích lịch sử với bao nhiêu tầng sâu và giá trị
mà không thể đo đếm chỉ bằng một lát cắt dọc của một thời đại riêng biệt. Đâu
phải ngẫu nhiên mà nòi giống của một dân tộc bao giờ cũng gắn với “thủy tổ”,
trên hành tinh này, có bao nhiêu nền văn minh không sinh ra ở một dòng sông?
Sông Hồng – nơi đã sinh ra nền văn minh Bắc hà, con sông chảy qua thủ đô –
trái tim của cả nước, cũng là con sông mà trong cái nhìn của cái tôi trữ tình Lưu
Quang Vũ chính là cội nguồn của dân tộc, của tiếng nói và giống nòi. Sông
Hồng trong cảm thức của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ đã là biểu tượng của sự
sống, của niềm vui, của hạnh phúc mới đang mở ra cho dân tộc hồi sinh, lớn
mạnh:
Máu ta mang sắc đỏ sông Hồng
nỗi khổ và niềm vui bất tận
luôn luôn mới đến, luôn luôn ra đi
luôn già nhất và luôn trẻ nhất
sông để lại trước khi về với biển
không phải máu đen độc ác của quân thù
không phải gươm đao ngàn năm chiến trận
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
14
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
không phải nghẹn ngào tiếng nấc
sau sụp đổ hưng vong thù hận sóng trào

Ánh
Ngọn đèn con leo lắt đêm đông
soi gương mặt một người thức trắng
Nguyễn Trường Tộ cô đơn đôi mắt sáng
viết tờ trần dâng vua
muốn trị thủy Hồng Hà
không thể dùng đê quai tạm bợ
phải đào hồ to khai thông đường sá
đến lúc cần trọng toán lí hơn văn…
Cái tôi Lưu Quang Vũ nhập thân mình vào những con người vô danh của
những ngày tăm tối ấy để cất lên tiếng nói về lịch sử, về những sự kiện bi
thương của dân tộc một thời:
Tôi là người lính già tóc bạc
Đi theo vua Hàm Nghi
Trong ngàn sân Quảng Trị xanh rì
Nhìn nhà vua trẻ măng
Tôi ôm đầu im lặng
Tôi quặn lòng nghẹn khóc
Nước mất rồi chúng ta đi đâu?
Đối diện với những sự kiện lớn của quá khứ để bàn về vấn đề sống còn
của mỗi cá nhân, mỗi thân phận người trong cơn bão táp lịch sử, cái tôi Lưu
Quang Vũ là cái tôi sử thi – nhân văn, hướng tới con người và vì con người.
Cảm hứng ấy khiến cho cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ chỉ nhìn về một điểm
độc sáng:
Năm 72! Có thể thế được chăng
Hãy mở mắt ra trông
Vụ thảm sát chưa nay chưa từng có
Năm trái đất phóng bao tàu vũ trụ
Không nơi nào nói đến tình thương
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà

Sẽ mọc lên chiếc liềm hái khổng lồ
Sẽ lớn dậy những thiên tài mới mẻ
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
17
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
Những ban mai không tả tơi đạn xé
Không ai phải chôn giấu điều mình nghĩ
Không còn ai đạp lên những mối tình
Không còn hàng rào, biên giới, nhà giam
(Những đám mây ban sớm)
Nhịp điệu của ngày mới mở ra cho đất nước âm vang:
Những vua Hùng tóc râu bạc phới
Những em bé la khóc chào đời
ống điếu dài nghi ngút khói bay
chân người dậm dập dồn trên mặt trống
điệu múa lớn của một ngày đang mọc
ngọn lửa lớn của muôn đời náo động
tâm hồn ta như sóng tới chân trời
Cái tôi suy tưởng về dân tộc, cái tôi hào khởi tươi vui trong những ngày
độc lập đầu tiên của dân tộc, đó là những khía cạnh lớn của cái tôi sử thi Lưu
Quang Vũ trong tập Những bông hoa không chết.
2. Cái tôi thế hệ
Cái tôi thế hệ là một gương mặt khác của cái tôi sử thi. Cái tôi sử thi của
văn học giai đoạn này là tiếng nói tự ý thức, tự biểu hiện của thế hệ trẻ về sứ
mệnh của thế hệ mình: “cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai”, quan niệm
về nghệ thuật đơn giản mạnh mẽ: “không có sách chúng tôi làm ra sách/ chúng
tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời”. Trong tập thơ Những bông hoa không chết, cái tôi
này góp mặt với những cảm thức rất sâu sắc về sứ mệnh của thế hệ mình:

thời đại – của thế hệ một cách chính xác và thấm thía. Phải có một cái nhìn sâu
và rộng thì mới có thể cảm thấy được rằng, thế hệ mình là “Một thế hệ cứng đi
như thỏi sắt/ Nhưng xoáy ngầm vẫn cuộn ở lòng sông”. Chiến tranh đã khiến
con người thành những thứ quả “chín ép”, họ phải tự gồng mình lên, lao vào
chiến tranh ngay khi “vừa hết trẻ con” để, ở đó, học lấy cho mình những bài học
cay đắng của cuộc đời có khi phải trả giá bằng cái chết. Và chiến tranh, bản thân
nó không thể che đậy bằng bất cứ một mĩ từ “hào nhoáng” nào, tội ác của nó
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
19
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
hiện lên trong từng số phận con người: “tuổi trẻ ta đã qua/ bạn bè ta đã chết”.
Từ tư cách chứng nhân lịch sử, Lưu Quang Vũ đã đối mặt và viết về chiến tranh,
về thời đại và thế hệ mình với những chi tiết tàn khốc nhất và chân thực nhất.
Tóm lại, cái tôi thế hệ là một khía cạnh hết sức độc đáo của cái tôi sử thi
Lưu Quang Vũ trong tập Những bông hoa không chết. Đó là cái tôi có những
cảm xúc chân thành và sâu sắc nhất trong tâm thức của một con người sống
trong chiến tranh, tuy nhiên lại không đi theo dòng chung ngợi ca mà rẽ sang lối
riêng, suy ngẫm và triết lí về thế hệ mình, về số phận con người trong cuộc
chiến tàn khốc, ác liệt, máu nhiều hơn hoa, chết chóc nhiều hơn chiến công.
Cái tôi sử thi là một yếu tố mới và đặc sắc trong thơ Lưu Quang Vũ thể
hiện rõ nét trong Những bông hoa không chết. Cái tôi sử thi với những góc cạnh
độc đáo của nó làm cho gương mặt thơ Lưu Quang Vũ càng trở nên độc đáo
hơn, đa diện hơn. Nhưng có lẽ, cái tôi sử thi vẫn chỉ là một phần mới mẻ, còn
cái ẩn sâu đằng sau tâm hồn Lưu Quang Vũ, cái tôi chìm khuất nhưng đã là bản
chất thơ Lưu Quang Vũ vẫn là một cái tôi thế sự đời tư. Tập thơ Những bông
hoa không chết cũng không ngoại lệ.
II. Cái tôi thế sự đời tư
Cái tôi thế sự vốn là một cái tôi không nổi trội trong dòng văn học chống

thi lúc bấy giờ. Luôn là tiếng thơ từ chối lí tưởng hóa, chỉ đi theo một cách nhìn
– cách nhận thức – cách cảm thụ đời sống như riêng mình muốn, cái tôi trữ tình
Lưu Quang Vũ trong tập thơ Những bông hoa không chết nhận thức về chiến
tranh ở những mất mát, đau thương, chiến tranh ở góc độ tàn khốc và vô nhân
tính của nó. Cảm hứng về thời đại của cái tôi trữ tình Lưu Quang Vũ chỉ hướng
về nỗi đau khổ và chết chóc, mất mát trong chiến tranh, sự đảo lộn của những
giá trị người, sự tha hóa của những giá trị nhân bản. Đó là cái nhìn về chiến
tranh, về thời đại từ góc nhìn thế sự - đời tư.
Bởi thế, cái tôi đó luôn có một cái nhìn khác về chiến tranh, cái nhìn trực
diện và sắc sảo vào những mặt tối, nhìn chiến tranh chỉ ở khía cạnh bất thường,
phi lí và vô nghĩa của nó:
Tôi yêu trái đất này sao được
Người ta ném bom xuống làng xóm chúng tôi
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
21
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
Những máy bay nhanh hơn tiếng động
Những người trai của một thành phố khác
Cày nát đất tôi rồi
Bao đứa trẻ con đã chết
Dưới mặt trời ô nhục
Trái đất mình đẹp lắm phải không em?
(Hoa cẩm chướng trong mưa)
Hình ảnh những đứa trẻ con bị chết trở đi trở lại trong những bài thơ này
như biểu hiện đau xót nhất của những mất mát trong chiến tranh. Đất đai bị tàn
phá, người chết thảm thương, cái đẹp cái tốt bị hủy diệt, chiến tranh phơi bày bộ
mặt phi nhân tính của nó đến tận cùng trong thơ Lưu Quang Vũ.
Không chỉ nhìn thấy khía cạnh bi kịch ở sự giết chóc, tàn sát con người,

hoảng hốt: Con người ngồi trên những máy điều khiển học/Tiếp tục nhổ vào mặt
nhau”. Cùng một cảm thức này, mãi đến những năm 80, các nhà văn mang tâm
thức thời hậu chiến mới bắt đầu nói đến như một trọng tâm của văn học, ví như
Nguyễn Huy Thiệp trong “Thương nhớ đồng quê”, Bảo Ninh với “Nỗi buồn
chiến tranh”, … Lưu Quang Vũ đã là người đi sớm, với một cái tôi trữ tình
mang những cảm thức bén nhạy và sâu xa về thời đại.
Nhà văn Tàn Tuyết, một trong những tác giả lớn nhất của văn học Trung
Quốc hiện đại đã nói: “Trong mắt tôi, những tác phẩm vĩ đại là những tác phẩm
có tính vĩnh cửu. Tức là các tác phẩm của những nhà văn, mà dù trải qua bao
nhiêu thế kỷ, cũng vẫn khơi gợi những điều mới mẻ cho người đọc ở các thế hệ
sau. Những nhà văn như vậy thường có “linh tính”, gần giống với sự tiên tri”.
Đối sánh cái nhìn ấy với thơ Lưu Quang Vũ, chúng tôi cho rằng, anh đã tiếp cận
với sự vĩ đại ở phương diện đó, khi mà những tác phẩm của anh không chỉ là
văn học của một thời. Những bài thơ ngập tràn dự cảm về thời hậu chiến – một
thời kì vẫn còn chưa kết thúc và có lẽ còn rất lâu nữa mới kết thúc trên đất nước
Việt Nam – mỗi lần đọc lại, vẫn là một lần ám ảnh. Những vần thơ ấy không
bao giờ cũ, bởi cứ khi nào con người có tâm trạng hoang mang, dao động, khủng
hoảng trước những biến động bất thường đầy đe dọa của đời sống, cái tâm thức
đó lại hiện lên như một niềm ám ảnh khó phai mờ.
Nhận thức về cuộc đời, cái tôi đó đặt ra những vấn đề đầy ý nghĩa nhân sinh:
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
23
Bài tập niên luận Nguyễn Thị Ngọc
Ánh
Anh có nhớ Macxen Macsô
Cái ông hề tóc bạc
Có gương mặt buồn rất cô đơn
Anh có nhớ con người đùa bỡn
Với cái mặt nạ cười

Luthơkinh, Agienđê, Panmơ…
Những người cự tuyệt dùng súng
Đều đã chết vì súng
Nền văn minh lầm lạc
Tôn sùng đồ vật và bạo lực
Thế giới xấu xa thế giới đê hèn
Nền văn minh và thế giới tôn sùng bạo lực chỉ biết có lũ chúng ta và lũ
chúng nó, trong khi cuộc đời thực lại còn có những người khác, và số đó mới là
số nhiều. Con người tự bịa đặt ra những thần linh, rồi bị chính cái mình bịa đặt
ra ràng buộc, hủy diệt sự sống của chính mình. Những niềm tin ngây thơ, những
ảo tưởng vĩ đại, tất cả đã khiến con người biến thành điên loạn, mất nhân tính.
Con người nhìn đâu cũng thấy kẻ thù nên máu đổ đầu rơi mà không tự biết. Cái
tôi ấy là kẻ đi trước để nhìn ra bi kịch của nhân loại:
Người ta vác đá tạc tượng thần
Dâng cho tượng những đồ ăn quý nhất
Dâng cả máu trẻ con tinh sạch
Sau một đêm mưa thần vỡ tan tành
Ngơ ngác nhìn lại tay mình
Anh không giết kẻ thù, nó sẽ giết anh
Nhưng máu đổ ra vẫn là máu người đặc quánh
Đó là những nhận thức đi trước của một nhà thơ – một người nghệ sĩ có
linh cảm rất sâu xa về tồn tại. Phải đến bao nhiêu năm sau, chúng ta mới nghe
nói đến tâm thức hậu hiện đại, với việc khám phá ra những đại tự sự và thuyết
giải thiêng. Phải đến bao lâu sau ở Việt Nam mới biết đến một học thuyết, một
chủ nghĩa có tên là Hậu hiện đại (postmodernism). Trong đó, những người được
xem là cha đẻ của học thuyết đó như Jean Francois Lyotard đã chỉ ra rằng, tất cả
những tự sự lớn mà con người tôn thờ như lịch sử, tôn giáo,… đều là những điều
Líp: CLC - K55 Ngữ văn Trường ĐHSP Hà
Nội
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status