đánh giá sức sản xuất và theo dõi tình hình dịch bệnh trên đàn bò lai hướng sữa nuôi ở xã phù đổng – gia lâm – hà nội - Pdf 24

Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất nước ta đang trên đà phát triển kinh tế - xã hội. Mức sống của nhân
dân không ngừng được tăng lên. Vì vậy nhu cầu về thực phẩm của người dân
không chỉ dừng lại ở thịt, trứng, cá… mà còn thêm cả sữa. Để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng, từng bước thay thế sữa nhập ngoại, tăng thu nhập cho nông
dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và phát triển nông thôn; ngày
26/10/2001 Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 167/2001/QĐ-TTg về
“Một số biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam thời
kỳ 2001 - 2010”. Mục tiêu: Khai thác triệt để tiềm năng hiện có để phát triển
đàn bò sữa, tạo sản lượng sữa lớn cung cấp cho thị trường, tăng thu nhập cho
nông dân, đưa chăn nuôi bò sữa thành một nghề trong sản xuất nông nghiệp
góp phần đẩy nhanh tỉ trọng chăn nuôi sớm đạt 30 – 35% so tổng giá trị
ngành nông nghiệp.
Quyết định của Chính phủ đã thúc đẩy phong trào chăn nuôi bò sữa
trong cả nước, từ 35.000 con năm 2000 tăng lên 114.000 con năm 2006. Bò
sữa được phát triển trong các nông hộ là chính, chiếm khoảng 95%; còn 5%
đàn bò sữa chăn nuôi tập trung tại các cơ sở của địa phương. Đàn bò được
nuôi tập trung ở hai vùng: Đông Nam Bộ chiếm 81,5% đàn bò miền Nam và
58,41% chăn nuôi đàn bò cả nước, đồng bằng sông Hồng chiếm 42,94% đàn
bò miền Bắc.
Phù Đổng – Gia Lâm – Hà Nội là xã có nghề chăn nuôi bò sữa tại các
nông hộ tương đối phát triển. Với truyền thống chăn nuôi bò sữa từ năm 1991
nên đã tạo ra số lượng bò sữa tương đối lớn với sức sản xuất khá tốt, tuy
-1-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
nhiên hai năm qua đàn bò sữa ở Phù Đổng cũng như các địa phương khác
trong cả nước đã có sự biến động cả về số lượng và chất lượng. Do kỹ thuật
chăm sóc nuôi dưỡng của các nông hộ còn hạn chế, mặt khác điều kiện khí

nhiên trung tâm sản xuất sữa là vùng khí hậu ôn đới, đặc biệt ở Tây Bắc Âu,
Đông Âu, Nga, Bắc Mỹ và châu Đại Dương. Do điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia khác nhau nên sự phát triển chăn nuôi bò sữa cũng
khác nhau. Những nước có số lượng bò sữa lớn như: Ấn Độ: 35.900.000 con,
Braxin: 16.9045.000 con… nhưng năng suất sữa trung bình không cao, Ấn
Độ là 1.010 kg/con/chu kỳ, Braxin là 1.407 kg/con/chu kỳ. Một số nước có số
lượng bò sữa không nhiều như Nhật Bản có 971.000 con, Đài Loan có 110.00
con… nhưng năng suất sữa trung bình lại rất cao, Nhật Bản đạt 8.548
kg/con/chu kỳ, Đài Loan đạt 7.000 kg/con/chu kỳ. Mỹ vừa là nước có số
lượng bò sữa lớn 9.125.000 con, vừa có năng suất sữa trung bình cao đạt
8.227 kg/con/chu kỳ và vừa có sản lượng sữa cao nhất thế giới là: 71.000.000
tấn năm. Trong khi đó, Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới
nhưng sản lượng sữa chỉ đạt 8,66 triệu tấn, năng suất bình quân đạt 3688
kg/chu kỳ 305 ngày (Hoàng Kim, 2003).
Trong thời gian tới nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm sữa ngày một tăng
cao do thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng vì vậy sẽ hạn chế xuất
khẩu sữa tới các nước đang phát triển do các nước này thiếu ngoại tệ mạnh.
Vấn đề đặt ra với các nước đang phát triển là tự sản xuất sữa bằng cách tạo ra
-3-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
những giống bò sữa thích nghi với khí hậu từng vùng, nhân đàn, áp dụng cá
kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản xuất, đồng thời chăm sóc, nuôi dưỡng,
quản lý và khai thác hợp lý nhằm nâng cao năng xuất, chất lượng sữa.
2.1.2. Tình hình chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
Ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta ra đời tương đối muộn và chỉ mới thực
sự phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây. Cụ thể là bắt đầu vào những năm
1920 trong thời kỳ thuộc địa, khi thương nhân Pakistan và Ấn Độ đưa giống bò
sữa Zebu Ấn Độ (Red Sind, Ongle, Sahiwal và Thaparkar) vào Việt Nam.
Khoảng năm 1920 – 1923, bò sữa Red Sind được đưa vào Việt Nam
nuôi ở trại bò Lò Đúc, trại Mursen ở Ba Vì – Hà Tây và một số đồn điền ở

sữa và mở rộng các hoạt động của ngành sữa ra các tỉnh khác ngoài vùng sản
xuất sữa truyền thống. Năm 1976 khi chuyển 255 con bò sữa từ Mộc Châu
vào Đức Trọng (Lâm Đồng) để nuôi nhân đàn, là năm đánh dấu sự mở đầu
các hoạt động sản xuất sữa ở miền Trung (ACI & VSF – CIDA, 2005). Đàn
bò HF thuần chủng Cuba nuôi ở Mộc Châu nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
chăn nuôi bò sữa, có chuyên gia cuba hướng dẫn giúp đỡ kỹ thuật nên sản
lượng sữa chu kỳ đạt tới 3.900 - 4.215kg, còn ở Đức Trọng sản lượng sữa chu
kỳ đạt 3.318kg. Từ kết quả trên cho thấy nước ta có thể nuôi bò sữa cao sản
ôn đới ở các vùng cao nguyên có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân năm
thấp dưới 21
0
C. Sau khi miền Nam giải phóng năm 1975, đàn bò sữa ở miền
Nam giảm sút nhanh chóng, quanh Sài Gòn chỉ còn 298 bò sữa, trong đó bò
vắt sữa 198 con với sản lượng rất thấp (Lê Đăng Đảnh, Vũ Văn Nội, 1977).
Trước trình hình đó, Bộ Nông nghiệp đề ra kế hoạch phát triển nhanh đàn bò
sữa ở miền Đông Nam Bộ, dựa trên đàn bò lai Sind có tầm vóc lớn, để lai tạo
với các giống bò sữa cao sản ôn đới (HF, Jersey, Brown Swiss…) (Nguyễn
Quốc Đạt, 1998) nhằm đẩy mạnh công cuộc tạo giống bò sữa ở miền Nam.
-5-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
Giữa những năm 1970 và 1980, chăn nuôi bò sữa Việt Nam tập trung vào
một số ít các nông trường quốc doanh lớn tại Mộc Châu (Sơn La), Ba Vì (Hà
Tây), Phù Đổng(Hà Nội), Phụng Thượng (Ninh Bình), Đức Trọng (Lâm Đồng).
Từ năm 1980 – 2000, nhờ có chăn nuôi bò sữa ở nông hộ và áp dụng kỹ
thuật thụ tinh nhân tạo mà đàn bò sữa trong giai đoạn này tăng cả về số lượng
và chất lượng. Bên cạnh đó là Hợp tác xã chăn nuôi bò sữa ở ngoại thành Hà
Nội là Từ Liêm, Gia Lâm(ACI & VSF – CIDA, 2005). Tổng số đầu con năm
1993 là 11.150 con, so với năm 1978 tăng 14 lần. Đặc biệt ở Thành phố Hồ
Chí Minh phát triển rất nhanh, tốc độ tăng đàn nhanh từ 1978 – 1993, bình
quân mỗi năm tăng 60%. Từ số liệu trên cho thấy vai trò của con người, khoa

giống bò sữa trong nước; bên cạnh việc nâng cao số lượng và chất lượng đàn
bò giống, cũng có kế hoạch tăng cường các dịch vị (thụ tinh nhân tạo, khuyến
nông, thú y) và cải thiện công nghiệp chế biến sữa, sản xuất thức ăn tinh, sản
xuất thức ăn xanh, tăng cường hệ thống thu mua sữa; hỗ trợ kinh phí mua
giống, ưu đãi trong vay vốn để nông dân phát triển chăn nuôi bò sữa.
Bảng 2.1. Số lượng bò, sản lượng sữa, tốc độ tăng trưởng hàng năm
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Số lượng đàn bò
(con)
41200 55800 80000 95800 104120
Tốc độ tăng đàn
(%)
17,71 35,44 43,37 19,75 8,68
Tổng sản lượng
sữa (tấn)
64703 78453 126000 151314 197679
Tốc độ tăng sản
lượng sữa (%)
2574 2125 6060 2009 3064
(Nguồn: Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2006)
-7-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
Nhờ đó tốc độ tăng trưởng hàng năm tăng nhanh(Bảng 2.1), tốc độ tăng
trưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2005 của đàn bò sữa là 26,7%, sản lượng
sữa là 33%, tốc độ tăng sản lượng sữa cao hơn tốc độ tăng của đàn bò do năng
xuất, chất lượng của đàn bò sữa được nâng lên rõ rệt (Bảng 2.2)
Bảng 2.2. Năng suất sữa trên chu kỳ (kg)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Bò lai HF 3.100 3.200 3.300 3.350 3.500
Bò lai HF thuần 3.900 4.200 4.400 4.500 4.600

1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
9.000
9.300
11.500
13.600
15.000
17.200
20.500
23.050
25.650
27.800
33.000
38.000
40.500
72.000
79.950
90.600
2.100
2.200
2.200
2.250
2.300

+ Đông Bắc Bộ
+ Đồng bằng sông Hồng
+ Bắc Trung Bộ
3.471
328
4.533
1.599
83
588
5.110
280
16
58
2.798
91
Miền Nam 15.631 21.887 33.835
+ Duyên hải miền Trung
+ Tây Nguyên
+ Đông Nam Bộ
+ Đồng bằng sông Cửu Long
2.880
96
10.732
1.923
456
56
19.016
2.359
211
23

cái Lai Sind. Bò F1 thường có màu đen tuyền, đôi khi đen xám và nâu đen.
Bò có tầm vóc lớn, bò cái trưởng thành có trọng lượng từ 350 - 500 kg. Bò có
bầu vú phát triển, thích nghi tốt với điều kiện môi trường chăn nuôi Việt
Nam. Năng suất trung bình khoảng 8 - 9 kg/ngày, năng suất một chu kỳ bình
quân 2.700 kg. Cá biệt có một số bò HF F1 nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh
có sản lượng sữa trên 4.000 kg/chu kỳ.
-11-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
2.2.3. Bò lai hướng sữa F2 (3/4 HF)
Bò lai lai hướng sữa F1 được tiếp tục lai với bò đực Holstein Frisien để
tạo ra bò lai hướng sữa F2. Bò F2 thường có màu lang trắng đen. Bò có tầm
vóc lớn, bò cái trưởng thành có khối lượng khoảng 400 - 500kg. Bò lai hướng
sữa F2 có bầu vú phát triển, thích nghi tốt với điều kiện môi trường chăn nuôi
Việt Nam. Năng suất sữa của bò này trung bình khoảng 10 - 12 kg/ngày, có
thể đạt 15 kg/con/ngày.
2.2.4. Bò lai hướng sữa F3 (7/8 HF)
Bò F3 được tạo ra bằng cách cho bò đực HF thuần phối với bò lai
hướng sữa F2. Bò lai F3 thường có màu lang trắng đen. Bò cái trưởng thành
có trọng lượng từ 400 - 550 kg. Bò có bầu vú phát triển, bò thích nghi kém
hơn bò lai hướng sữa F1 và lai hướng sữa F2 nhưng nếu được chăm sóc nuôi
dưỡng tốt thì vẫn cho năng suất cao. Năng suất sữa trung bình khoảng 13 -
14kg/ngày.
2.3. KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA BÒ LAI HƯỚNG SỮA
Quá trình sinh sản là một hiện tượng tự nhiên nhưng cũng là một quá trình
chọn lọc hết sức phức tạp và chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Sinh vật muốn
duy trì, ổn định và phát triển nòi giống cần phải có quá trình sinh sản.
Trong chăn nuôi, sinh sản không những duy trì nòi giống, mà còn để
tạo ra sản phẩm. Con người đã lợi dụng quá trình sinh sản của vật nuôi để
khai thác sản phẩm (sữa, trứng, con giống…) phục vụ nhu cầu cuộc sống. Vì
vậy, sinh sản là một trong những tính trạng được chú ý cải tạo, nó ảnh hưởng

-13-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
gian mang thai của bò ít biến đổi nên tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào tuổi phối
giống lần đầu có chửa. Tuổi đẻ lứa đầu của giống bò lai có khuynh hướng tăng
dần theo sự gia tăng tỷ lệ máu bò ôn đới. Theo Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị
Thơm (2004) thì tuổi đẻ lứa đầu của bò lai F1, F2, F3 Hà Ấn vào khoảng 27 – 28
tháng. Mai Thị Thơm (2004) nghiên cứu trên đàn bò lai (lai Sind x HF) ở xã
Vĩnh Thịnh - Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc cho kết quả tuổi đẻ lứa đầu của bò F1 là
31,6 tháng và của F2 là 30,3 tháng. Trong khi đó, Nguyễn Quốc Đạt (1998)
nghiên cứu trên đàn bò lai (HF x Lai Sind) nuôi ở thành phố Hồ Chí Minh cho
biết tuổi đẻ lứa đầu của bò lai F1, F2, F3 lần lượt là 26,8; 27,17 và 26,8 tháng.
Như vậy tỷ lệ máu HF trong con lai không ảnh hưởng đến tuổi đẻ lứa đầu, kết
quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy: tuổi đẻ lứa đầu cảu con lai (lai Sind x
HF) muộn hơn so với bố mẹ chúng và có khoảng biến thiên khá rộng.
2.3.3. Khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá
khả năng sinh sản. Độ dài thời gian mang thai là một hằng số sinh lý và không
thể rút ngắn được. Cho nên khoảng cách lứa đẻ chủ yếu do thời gian có chửa
lại sau khi đẻ quyết định.
Bò mang thai thường ổn định trong khoảng 270 – 285 ngày, thông
thường chu kỳ khai thác sữa đúng khoa học là 10 tháng, thời gian cạn sữa là 2
tháng, do vậy khoảng cách lứa đẻ lý tưởng là 12 tháng. Tuy nhiên theo nghiên
cứu của Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004) trong thực tế do nhiều
nguyên nhân như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, đặc biệt phẩm giống, thời
gian động dục trở lại sau khi đẻ, kỹ thuật phối giống, văt sữa, cạn sữa… làm
cho khoảng cách lứa đẻ thường kéo dài 390 – 420 ngày hoặc hơn. Khoảng
cách lứa đẻ dài ảnh hưởng đến toàn bộ thời gian cho sản phẩm, tới tổng sản
lượng sữa và số bê con sinh ra trong một đời gia súc.
Nguyễn Xuân Trạch (2003) nghiên cứu trên đàn bò lai HF nuôi tại Phù
-14-

2.4. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT SỮA
Trong chăn nuôi bò sữa sản phẩm thu được sẽ quyết định mức thu nhập
của người chăn nuôi bò sữa. Sản phẩm thu được ở đây chính là sữa và bê. Sữa
rạo ra lợi nhuận tức thì, thu nhập từ sữa chiếm phần lớn tổng thu bán sản
phẩm. Do vậy sữa được người chăn nuôi bò sữa quan tâm hàng đầu. Sức sản
sữa được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
2.4.1. Thời gian cho sữa
Thời gian cho sữa trong chu kỳ tiết sữa là chỉ tiêu thể hiện sức sản xuất
dẻo dai của gia súc hướng sữa. Thời gian cho sữa thực tế cùng với năng xuất
sữa/ngày quyết định sản lượng sữa. Chu kỳ cho sữa chuẩn của bò sữa là 300 –
305 ngày, nhưng biến động trong khoảng rất lớn 100-1000 ngày, bởi vì chỉ tiêu
này phụ thuộc nhiều vào giống, môi trường, trong đó các yếu tố ảnh trực tiếp
nhất là đặc điểm sinh vật của cá thể, thức ăn thời gian có chửa lại sau khi đẻ…
Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) nghiên cứu trên đàn bò lai HF ở Hà
Nội cũng cho thấy thời gian cho sữa dài nhất ở bò F2 là 326,8 ngày, sau đó bò
F3 là 320,9 ngày, ngắn nhất ở bò F1 là 303,7 ngày. Nguyễn Quốc Đạt (1998)
nghiên cứu đàn bò lai hướng sữa (HF x Lai Sind) nuôi ở Thành phố Hồ Chí
Minh cho rằng thời gian cho sữa dài nhất ở bò F2 là 307,54 ngày, sau đến bò
F1 là 306,02 ngày, còn ngắn nhất ở bò F2 là 302,40 ngày.
Khan (1986) nghiên cứu đàn bò lai HF và jersey với bò Sahiwal và Red
Sind ở Pakisan cho biết hệ số di truyền và thời gian cho sữa từ 0,2 – 0,6.
Tajane và Rai (1989) khi nghiên cứu về đàn bò lai HF với Sahiwal ở Ấn Độ
lại cho rằng hệ số di truyền về thời gian cho sữa chỉ bằng 0,01 – 0,16 tuỳ
thuộc vào tỷ lệ máu HF trong con lai. Như vậy thời gian cho sữa của bò sữa
có hệ số di truyền biến động lớn, các nhân tố bên ngoài (chăm sóc, dinh
dưỡng, khí hậu, quản lý…) ảnh hưởng lớn đến thời gian cho sữa.
-16-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
2.4.2. Sản lượng sữa
Sản lượng sữa là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá khả năng sản xuất

chúng. Mỗi yếu tố khác nhau có sự ảnh hưởng khác nhau đến khả năng sinh
sản và sức sản xuất của bò sữa.
2.5.1. Giống
Các giống khác nhau có khả năng sinh sản và sức sản xuất sữa khác nhau.
Khả năng sinh sản của bò có hệ số di truyền rất thấp, theo Nguyễn Văn
Thiện (1995) hệ số di truyền về khoảng cách giữa hai lứa đẻ của bò h
2
= 0,1.
Cho nên sự khác nhau về sinh sản chủ yếu do ngoại cảnh chi phối. Những
giống có khả năng thích nghi cao với khí hậu, chống đỡ bệnh tật tốt trong một
môi trường cụ thể sẽ có khả năng sinh sản cao hơn.
Giống có ảnh hưởng lớn đến năng xuất và chất lượng sữa. Tuy vậy hệ
số di truyền về năng xuất sữa lại tương đối thấp, theo Panda và Sudhu (1983)
hệ số di truyền về sản lượng sữa bò lai HF và Jersey với bò Hariana và
Bengal h
2
= 0,07 ± 0,06 - 0,49 ± 0,43, cho nên sản lượng sữa chịu ảnh hưởng
rất nhiều của yếu tố bên ngoài. Chất lượng sữa có hệ số di truyền cao.
Giống chuyên môn hoá theo hướng sữa có năng suất sữa cao, thường tỷ lệ
mỡ và protein sữa thấp; giống kiêm dụng có năng suất sữa thấp, nhưng tỷ lệ mỡ
và protein sữa cao; con lai giữa bò chuyên sữa với bò kiêm dụng có năng suất
sữa, tỷ lệ mỡ sữa và protein sữa ở mức trung bình giữa hai giống bố và mẹ.
2.5.2. Dinh dưỡng
Mức độ dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn có ảnh hưởng tới khả năng
sinh sản, năng suất và chất lượng sữa. Nuôi dưỡng thấp sẽ kìm hãm sinh
trưởng của bò cái tơ làm chậm thời gian đưa vào sử dụng và giảm khả năng
-18-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
sinh sản về sau, đồng thời kèm theo sự kém phát triển của bầu vú, vì thế sau
này năng suất sữa thấp.

thức ăn. Do đó ở nước ta năng suất và chất lượng sữa thường giảm trong vụ
đông xuân do thiếu cỏ, khả năng sinh sản lại giảm vào mùa hè.
Sức sản xuất sữa của bò sữa chịu ảnh hưởng rõ rệt của nhiệt độ và độ
ẩm môi trường. Ở bò, sản lượng sữa không ảnh hưởng trong phạm vi nhiệt độ
từ 0 - 21
0
C, nhiệt độ thấp hơn -5
0
C và từ 26 - 27
0
C sản lượng sữa giảm từ từ,
khi nhiệt độ trên 27
0
C sản lượng sữa giảm rõ rệt; tỷ lệ mỡ sữa giảm trong
nhiệt độ môi trường từ 21 - 27
0
C, khi nhiệt độ tăng hơn 27
0
C tỷ lệ mỡ sữa có
xu hướng tăng. Độ ẩm môi trường tăng cao làm sản lượng sữa giảm rõ rệt,
một số thành phần của sữa như nitơ protein, palmetic và axits stearic có xu
hướng tăng; trong khi đó các thành phần khác như mỡ sữa, vật chất khô
không mỡ, nitơ tổng số, axít béo mạch ngắn và axít oleic có xu hướng giảm
thấp (Nguyễn Xuân Trạch, Mai Thị Thơm, 2004).
Nhiệt độ môi trường thích hợp của bò sữa phụ thuộc vào giống và khả
năng chịu nóng và lạnh của con vật. Trong khi đó, nhiệt độ tối đa và tối thiểu
cho sức sản xuất ở mỗi giống bò cũng khác nhau. Sức sản xuất sữa của bò HF
giảm đi nhanh chóng ở nhiệt độ trên 21
0
C, bò Brown swiss và Jersey nhiệt độ

Sản xuất nhiệt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sức sản xuất, chất
lượng thức ăn và môi trường sống của bò sữa. Cơ thể càng lớn nhu cầu năng
lượng càng nhiều, sinh nhiệt ra càng nhiều. Khả năng sản xuất cao, gia nhiệt
sản xuất tăng. Thức ăn chất lượng kém, khó tiêu hoá làm tăng gia nhiệt. Nhiệt
độ môi trường ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận vào, sức sản xuất và
điều hoà nhiệt ở bò có tác động lớn đến tốc độ và quá trình sản xuất nhiệt.
2.6.2. Thoát nhiệt
Nhiệt độ thoát ra của cơ thể thông qua các công thức: Bốc hơi nước,
dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ nhiệt. Bốc hơi nước qua da(đổ mồ hôi) và phổi(thở)
là con đường chủ yếu thoát nhiệt.
-21-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
Quá trình thải nhiệt ra khỏi cơ thể bò sữa phụ thuộc và các yếu tố:
Nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt, lưu thông gió của môi trường và diện tích bề
mặt da của cơ thể. Độ ẩm môi trường cao, cản trở bốc hơi nước của gia súc,
làm cho quá trình thải nhiệt gặp khó khăn. Nhiệt độ môi trường cao lại cản trở
thải nhiệt của cơ thể qua con đường dẫn nhiệt. Bức xạ nhiệt của môi trường
cao, lưu thông gió kém, làm cho quá trình thải nhiệt thông qua bức xạ nhiệt và
đối lưu kém. Bò gốc ôn đới khả năng thải nhiệt hạn chế hơn bò nhiệt đới
2.6.3. Stress nhiệt
Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể lớn hơn khả năng thải nhiệt vào môi
trường thì thân nhiệt tăng, bò xuất hiện stress nhiệt. Stress ở bò được hiểu là
trạng thái mà tại đó do tác động của nhiệt độ, độ ẩm… bắt đầu xuất hiện các
điều chỉnh ở mức độ mô bào và toàn cơ thể gia súc giúp nó tránh được các
chức năng sinh lý và làm cho gia súc thích nghi tốt với môi trường ngoài.
Nhiệt độ và độ ẩm có tầm quan trọng đặc biệt với khả năng thích nghi
của bò với các vùng khí hậu khác nhau. Cho nên người ta đã sử dụng chỉ số
nhiệt ẩm THI làm chỉ thị về stress nhiệt. Chỉ số nhiệt ẩm được tính theo công
thức sau:
Trong đó: W là nhiệt độ của nhiệt kế ướt tính bằng

quá trình tổng hợp Vitamin nhóm B, axít béo bay hơi trong dạ cỏ giảm làm
cho nhu động dạ cỏ và dạ múi khế giảm, làm tăng thời gian lưu thức ăn trong
đường tiêu hóa, các chất dinh dưỡng tăng lên đôi chút.
Đối với thức ăn, đặc biệt là thức ăn thô ở các nước nhiệt đới nhiệt cũng
như Việt Nam thường có chất lượng không cao như ở các nước ôn đới. Thức
ăn thô giàu xơ, nghèo đạm và khoáng, tỷ lệ tiêu hoá thấp, nên bò không thu
được nhiều năng lượng từ thức ăn này.
Stress nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của gia súc, bò đẻ vào
-23-
Báo cáo tốt nghiệp Trịnh Văn Điền – K47TYA
các tháng mùa hè gây viêm tử cung nhiều hơn đẻ vào các mùa khác, tỷ lệ sát
nhau cao hơn, và thời gian chửa ngắn hơn. Nguy hiểm hơn nữa, là các loại ký
sinh trùng, mầm bệnh thường phát triển mạnh vào mùa hè, đây cũng là những
nhân tố ảnh hưởng đến sức khoẻ của gia súc, mùa hè các bệnh truyền nhiễm
dễ phát sinh và lan truyền mạnh.
Mặt khác, các đáp ứng stress nhiệt phụ thuộc vào giống, thông thường
bò ôn đới mẫn cảm hơn bò nhiệt đới, bò HF mẫn cảm hơn bò Jersey, bò F2
mẫn cảm hơn bò F1. Bò F1 có ảnh hưởng stress nhiệt nhưng không lớn,
chứng tỏ khả năng thích nghi của bò F2 kém hơn bò F1 được nuôi tại các
vùng nhiệt đới.
2.7. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở BÒ SỮA
Hiện nay nước ta có khoảng 114.000 con bò sữa. Theo kế hoạch phát
triển chăn nuôi bò sữa đến năm 2010 nước ta sẽ có khoảng 200.000 bò sữa
nhằm tăng lượng sữa cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng, hạn chế việc nhập khẩu
sữa từ nước ngoài.
Trong chăn nuôi bò sữa chúng ta đã có nhiều thành tựu về lai tạo một
số giống bò sữa cao sản nhập ngoại với bò nội và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật
mới trong nuôi dưỡng, nâng cao phẩm giống đàn bò sữa, nâng cao sản lượng
và chất lượng sữa nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế. Bên cạnh đó, chúng ta còn
có nhiều khó khăn về mặt chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trừ dịch bệnh. Bò

lây truyền do người vắt sữa.
- Strep.dysgalactiae và Strep.uberis: Có thể nhân lên và phát triển ở bên
ngoài mô tuyến vú. Vì vậy rất khó loại trừ chúng. Trong những điều kiện
-25-

Trích đoạn Kết quả điều tra, theo dõi bệnh ngoại khoa và bệnh truyền nhiễm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status