PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp nước ta giữ một vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển
kinh tế quốc dân, trong nông nghiệp trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành giữ vai
trò chủ đạo, hỗ trợ lẫn nhau cùng nhau phát triển nhằm đưa nông nghiệp chuyển
dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
công cuộc đổi mới đất nước góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo của nhiều địa
phương. phấn đấu vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn
minh.
Trong chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi trâu, bò nói riêng thì yếu
tố ảnh hưởng đến sự phát triển cơ cấu đàn , số lượng và chất lượng đàn vật nuôi
là dịch bệnh. Đây là một yếu tố khách quan, nó ảnh hưởng không ít tới sự phát
triển của ngành chăn nuôi, bên cạnh đó yếu tố chủ quan có sự tham gia của con
người cũng rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc bất lợi cho nhiều căn
bệnh phát triển, có khi thành ổ dịch gây thiệt hại lớn đến số lượng của đàn vật
nuôi. Đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm làm giảm năng suất trong chăn nuôi ảnh
hưởng đáng kể đến nền kinh tế nông nghiệp nông thôn về mặt lâu dài.
Do đó việc điều tra và chẩn đoán dịch bệnh truyền nhiễm trên đàn gia súc,
gia cầm là một vấn đề cần thiết. Mục đích để nắm được tình hình dịch bệnh và
tác hại của bệnh truyền nhiễm trong công tác chăn nuôi, từ đó cập nhật thông tin
về tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc của địa phương để có kế hoạch tổ chức
thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh, nhằm ổn định phát triển chăn nuôi
theo hướng chuyên môn hóa và sản xuất hàng hóa phù hợp với công cuộc đổi
mới của nền kinh tế nông nghiệp hiện nay.
Xã Đông Minh của huyện Yên Minh là một xã miền núi gần trung tâm
huyện lỵ, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp là chính. Trong những năm gần đây
nhờ chủ chương chính sách của Đảng đã khuyến khích người nông dân phát triển
1
ngành chăn nuôi nên ngành chuyên nuôi của huyện Yên Minh nói chung và của xã
Đông Minh nói riêng ngày càng tăng nhanh về số lượng cũng như cơ cấu đàn.
Do việc chăm sóc nuôi dưỡng, khai thác, sử dụng và phòng chống bệnh
dịch của người dân vẫn còn hạn chế kèm theo thời tiết phức tạp nóng ẩm về mùa
(Nguồn: số liệu thống kê của xã tháng năm 2010)
Xã có diện tích tự nhiên là 2.52085 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là
2.27452ha, chiếm 4,79% là điều kiện thuận cho phát triển chăn nuôi và trồng trọt. Bên cạnh
đó xã vẫn còn đất chưa sử dụng là 32,43 ha, chiếm 0,07% diện tích đất tự nhiên. Đây là một
nguồn tài nguyên cần được khai thác và sử dụng.
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội là một trong những nhân tố thức đẩy hoặc kìm
3
hãm những mặt khác trong hoạt động kinh tế của xã và cũng ảnh hưởng đến việc
khai thác tiềm năng môi trường tự nhiên của vùng. Qua bảng số liệu điều tra
tổng hợp của xã, chúng tôi thu được số liệu sau:
Bảng 2.2. Điều kiện kinh tế xã hội của xã Đông Minh
Yên Minh –Hà Giang
Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng
Tổng số dân Người 3.210
Tổng số hộ gia đình Hộ 475
Tổng số lao động chính Người 1.985
Mật độ dân cư Người/km 1
Gia tăng dân số tự nhiên % 1,84
Thu nhập bình quân người /năm Triệu 4.500
(Nguồn số liệu thống kê của xã tháng 6 năm 2010)
Với 1.985 lao động chính, chiếm 61,84%, có thể nói đây là nguồn nhân lực dồi dào
cho phát triển sản xuất đa ngành đa nghề. Người dân sản xuất nông nghiệp chỉ mang tính chất
thời vụ, do đó sau khi thu hoạch sản phẩm xong có một lực lượng rất lớn lao động nhàn rỗi.
Với mức gia tăng dân số (1,84%) là yếu tố rất tích cực cho sản xuất nông nghiệp, tuy
nhiên nó cũng làm tăng áp lực dân số dẫn đến giảm diện tích đất canh tác trong xã. Dân số ổn
định mới là chìa khóa để phát triển kinh tế và phát triển văn hóa xã hội ở địa phương.
Mặt khác, cán bộ phòng khuyến nông của huyện luôn mở các lớp tập huấn ở xã hướng
dẫn kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt, phổ biến kinh nghiệm của các hộ gia đình làm kinh tế giỏi
các biện pháp về khuyến nông, tín dụng xã cố gắng thực hiện xóa đói giảm nghèo nâng cao
khác do không có chỗ chăn thả nên số lượng trâu, bò giảm.
Đối với gia cầm: chăn nuôi gia cầm chiều hướng tăng lên do dịch bệnh ít xảy ra. Năm
2008 có 10.445 con đến năm 2009 số lượng giảm do bệnh Newcastle xảy ra và lây lan nhanh
5
làm chết nhiều gia cầm, nhưng đến năm 2010 số lượng gia cầm lại tăng lên 10.757 con. Hiện
nay, cùng với sự giúp đỡ của các cấp các ngành nên số lượng gia cầm sẽ dần được tăng lên
trong các năm tới.
Bên cạnh việc đánh giá số lượng đàn vật nuôi chung trên toàn xã, chúng tôi đồng thời
thống kê được số lượng vật nuôi của từng thôn trong xã. Kết quả được trình bày ở bảng 4.
Bảng 2.4. Tình hình chăn nuôi trâu bò, gia cầm tại các thôn bản của xã
Đông Minh –Yên Minh –Hà Giang
STT Thôn
Số lượng gia súc Số lượng gia cầm
2008 2009 2010 2008 2009 2010
1 Bó mới 637 810 734 1547 1460 1524
2 Khâu nhịu 230 301 235 827 740 823
3 Đông mơ 197 260 194 724 640 725
4 Bản xương 108 171 105 587 500 855
5 Bản lò 250 322 256 707 620 713
6 Lùng vải 170 233 167 517 430 425
7 Bản uốc 220 290 224 606 520 615
8 Khâu lí 277 352 276 917 830 925
9 Nà noong 207 270 207 626 540 540
10 Tu đóc 180 248 182 397 310 390
11 Nà báng 75 138 75 387 300 395
12 Tàng rêu 174 247 181 617 530 625
13 Nà cọ 55 116 50 397 310 405
14 Nà trò 149 218 152 497 410 506
15 Nà pà 168 231 165 497 410 504
16 Nà nhuông 235 303 231 595 510 605
phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Lợn được người dân chủ yếu nuôi để cung cấp thực phẩm hàng ngày cho con người.
Do nhu cầu cung cấp thực phẩm ngày càng tăng nên trong các năm gần đây số lượng chăn
nuôi lợn đang được tăng nhanh về số lượng năm 2008 số lượng gia cầm là 1545 con đến năm
2009 lại tăng lên 2.705 con cho đến năm 2010 số lượng giảm còn 1677 con.
Gia cầm là con vật dễ nuôi vì có diện tích đất tự nhiên rộng thuận tiện cho việc chăn
thả nên số lượng đàn gia cầm đang tăng dần cụ thể năm 2008 so lượng đàn gia cầm toàn xã là
7
10.545 đến năm 2009 là 9.060 năm 2010 lại tăng lên 10.757 con.
2.2.3. Phương thức và tập quán chăn nuôi
Do đặc điểm dân cư của xã Đông Minh chủ yếu là người dân tộc Giấy
chiếm 53.2% còn lại là các dân tộc khác như người Nùng chiếm 15.5%, người
Dao chiếm 13.2%, người Tày chiếm 10%, người Hoa chiếm 7.3%, người Pu Péo
chiếm 0.5% cho nên các tiến bộ kỹ thuật về chăn nuôi chưa được người dân tiếp
cận. Trâu, bò, gia cầm nuôi chủ yếu theo phương pháp nhỏ lẻ, thả rông gia súc,
gia cầm trên rừng và ngoài đồng ruộng.
Trong chăn nuôi chuồng trại đóng vai trò hết sức quan trọng, là môi
trường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của vật nuôi. Nhìn chung về tình hình
chuồng trại chăn nuôi gia súc cũng như gia cầm thì người dân đều tận dụng các
vật liệu tự có ở địa phương của mình làm chuồng trại chưa có hộ gia nào đầu tư
làm chuồng trại kiên cố. Để nắm được thực trạng chuồng trại chăn nuôi gia súc
của nhân dân trong xã chúng tôi tiến hành khảo sát các hộ gia đình ở trong toàn
xã và thu được kết quả như sau.
Bảng 2.6. Tình hình chuồng trại trong các hộ gia đình tại xã Đông Minh
Chỉ tiêu
Số hộ khảo sát (n = 475)
Số hộ Tỷ lệ %
Chất lượng chuồng
Tốt 0 0
Trung bình 410 86
chuồng trại, mở rộng diện tích đất trồng cỏ, tận dụng hết phế phụ phẩm trong
nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc đăc biệt là công tác chăm sóc nuôi dưỡng
và phòng chống bệnh tật cho đàn gia súc, gia cầm còn nhiều hạn chế.
9
2.2.5. Tình hình sử dụng vacxin cho đàn gia súc, gia cầm của các hộ nông
dân tại xã Đông Minh.
Việc sử dụng vacxin phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm đặc biệt là trên
đàn gia súc đã được chú trọng. Hàng năm việc tiêm phòng cho gia súc gia cầm
được tiến hành làm hai đợt chính là tháng 3-4 và tháng 9-10. Ngoài ra còn có
các đợt tiêm bổ sung nên ít có dịch xảy ra.
Bảng 2.7. Tình hình tiêm phòng đàn gia súc, gia cầm ở xã Đông Minh
Năm Tổng đàn
Loại
vacxin
Số gia súc
tiêm
Số lần
tiêm /năm
Liều tiêm
(ml)
Tỷ lệ(%)
2008
Trâu, bò
(n=1507)
THT 896 2 2 59
LMLM 1445 2 2-3 95.8
Lợn
(1545)
THT lợn 882 2 2-3 57
DTL 840 2 1 54.3
vẫn có một số dịch bệnh xảy ra và gây tổn thất cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn
của xã. Qua điều tra tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm chúng tôi các
bệnh thường gặp: Lở mồng long móng, Tụ huyết trùng, chướng hơi dạ cỏ trâu,
bò và bệnh Newcastle của gia cầm.
2.3.2 Mạng lưới thú y và hoạt động thú y xã
Cơ cấu thú y xã gồm 2 người trong đó có 1 người có bằng trung cấp và 1
người có bằng sơ cấp. Ban thú y xã hoạt động dưới sự chỉ đạo của ủy ban nhân
dân xã và trạm thú y huyện.
Ban thú y xã không có tủ thuốc nên không có thuốc dự trữ tại xã, do đó
các thuốc chữa bệnh cho vật nuôi chủ yếu ở các cửa hàng thuốc thú y ở thị trấn.
11
Hàng năm có hai đợt tiêm phòng cho đàn vật nuôi vào tháng 4-5 và tháng 9-10
đều do cán bộ của thú y xã đảm nhiệm, qua mỗi đợt tiêm phòng đều có báo cáo
đánh giá rút kinh nghiệm cho các năm tiếp theo.
Nhìn chung đa số các đàn vật nuôi đã được phòng bệnh bằng vacxin xong
do các khâu vận chuyển, bảo quản và quá trình tiêm phòng chưa đúng lịch, chưa
đủ liều cộng với công tác chăm sóc nuôi dưỡng vệ sinh chuồng trại và khí hậu
khắc nghiệt đã làm giảm sức đề kháng của vật nuôi từ đó tạo điều kiện cho mầm
bệnh phát sinh và phát triển thành dịch.
Hiện nay công tác thú y xã vẫn chưa kiểm soát được việc xuất, nhập gia
súc, gia cầm của các hộ nông dân trong xã. Đa số các con vật ốm, bị bệnh đều
do nhân dân tự điều trị lấy nên việc sử dụng thuốc còn chưa đúng, còn tùy tiện
dẫn đến lãng phí thuốc mà hiệu quả điều trị không cao
2.4. Kết quả đạt được trong thời gian thực tập
Để nắm được tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi của xã, chúng tôi tiến
hành điều tra trên đàn gia súc, gia cầm các hộ từ 16/12/2010- 14/02 /2011.
Trong quá trình thực tập tại xã Đông Minh, huyện Yên Minh cùng với cán
bộ cơ sở chúng tôi tiến hành xuống các thôn trong xã hướng dẫn người dân quây
kín chuồng trại cho trâu bò trong đợt dài kéo dài trong hai tháng cuối năm và
gặp một số ca bệnh và tham gia trực tiếp chữa trị một số ca bệnh:
chủ yếu là khâu vệ sinh chồng trại và chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo. Ở
một số hộ vì phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ nên người dân vẫn chưa chú trọng
nhiều vào khâu chăm sóc để nâng cao sức đề kháng của con vật, mặt khác vào
những tháng cuối năm điều kiện thời tiết lạnh đột ngột và kéo dài làm cho đàn
vật nuôi rất dễ mắc bệnh do sức đề kháng giảm.
Cùng với các cán bộ thú y xã xuống các thôn hướng dân người nông dân
thực hiện các biện pháp chống rét cho trâu bò như quây chuồng trại kín xung
quanh, không cho người dân thả trâu bò vào rừng trong những ngày nhiệt độ
dưới 5°C cung cấp đầy đủ thức ăn nước uống cho trâu bò trong các ngày rét đậm
13
rét hại.
14
PHẦN III. CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi trâu bò từ lâu đã chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
hộ gia đình của ngơười dân nước ta. Trong những năm gần đây ngoài việc chăn
nuôi trâu, bò phục vụ sức kéo cho sản xuất thì chăn nuôi trâu bò còn trở thành
hàng hoá góp phần xoá đói giảm nghèo cho nhiều hộ gia đình của toàn huyện.
Xã Đông Minh huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang là một xã có điều kiện tự
nhiên tương đối thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi
trâu, bò nói riêng. Tuy nhiên, một số dịch bệnh vẫn xảy ra ở trên đàn trâu, bò tại
xã gây thiệt hại không nhỏ cho chăn nuôi. Một trong những bệnh đã được biết từ
rất lâu trên thế giới gây ảnh hưởng tới số lượng đàn gia súc, gia cầm nói chung
và đàn trâu, bò nói riêng là bệnh tụ huyết trùng. Bệnh xảy ra ở trâu, bò nhiều lứa
tuổi diễn biến ở thể cấp tính gây chết nhanh, nguyên nhân do vi khuẩn
Pasteurella boviseptica ngoài ra còn do biến đổi thời tiết, chăm sóc nuôi dưỡng
và vệ sinh thú y.
Yêu cầu đặt ra là làm sao kiểm soát được dịch bệmh trên địa bàn xã đặc
biệt là bệnh tụ huyết trùng trâu, bò. Từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu giúp đỡ
người chăn nuôi trong việc phòng chống dịch
hàng tháng có thể hàng năm.
Bệnh lây lan trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ thông qua tiếp xúc, chung
đụng nguồn thức ăn, nước uống, nhốt cùng chuồng, chăn cùng bãi chăn thả hoặc
dùng chung các dụng cụ chăn nuôi. Bệnh cũng có thể lây lan do việc mổ thịt, da. chó
mèo chuột, côn trùng hút máu như ruồi, mòng là các môi giới truyền bệnh đi xa.
17
Trong chăn nuôi nông hộ của xã Đông Minh, do tính chất chăn nhỏ lẻ, tận
dụng, chuồng trại không đảm bảo vệ sinh, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng kém.
Đồng thời, trong các tháng cuối năm thời tiết thay đổi thất thường lạnh đột ngột
nên bệnh xảy ra với tỷ lệ cao.
2.2. Dịch tễ học
* Loài vật mắc bệnh :
- Trâu, bò cảm thụ mạnh nhất, trâu bò rừng cũng mắc bệnh và có thể
truyền ngang cho ngựa, chó và lợn. Vì vậy trong ổ dịch tụ huyết trùng trâu bò
cần chú ý phòng bệnh cho các loài động vật này. Bê nghé đang bú mẹ ít mắc.
- Trâu bò 2-3 tuổi hay mắc bệnh
- Ở nước ta trâu thường mắc bệnh nhiều hơn bò
- Tỷ lệ mắc bệnh không cao nhưng tỷ lệ chết cao.
Mùa vụ mắc bệnh:
- Xảy ra quanh năm nhưng tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 6-9.
- Bệnh xảy ra khi điều kiện vệ sinh, khai thác sử dụng không hợp lí, chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng kém.
Đường lây lan :
- Bệnh lây trực tiếp từ con ốm sang con khoẻ
- Các nhân tố trung gian truyền bệnh làm mầm bệnh phát tán đi xa hơn
Chất chứa mầm bệnh :
- Vi khuẩn có sẵn trong đất được nước mưa đưa lên mặt đất dính vào rơm
cỏ và nước mưa có nhiều vi khuẩn gây bệnh.
- Vi khuẩn xâm nhập vào hạch lâm ba, hạch vai, hạch trước đùi làm cho
hạch sưng và thuỷ thũng.
dịch trong xoang bụng.
19
Trong trường hợp gây bệnh thực nghiệm, bệnh xảy ra ở thể cấp tính triệu
chứng thường thấy là sốt 39.4° -40.1°C, con vật mệt mỏi, kém ăn, sau 36 giờ có
con sốt cao tới 41.5°C. Phân táo, sau đó con vật có hiện tượng ho, khó thở tần số
hô hấp tăng, phân loãng dần có lẫn máu. Nước mũi đặc nhầy, có lẫn máu, phù
thũng xuất hiện ở một số vùng, điển hình là vùng đầu, vùng yếm, vùng bẹn. Con
vật chết thường bụng chướng to, chết trong trạng thái ngạt thở, trụy hô hấp, trụy
tim (Đỗ Tuấn Cương và cộng sự 2004).
- Thể mãn tính :
Bệnh tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng thể hiện ở mức độ nhẹ. Nếu
ghép với một số bệnh khác thì con vật sẽ chết, nếu không con vật sẽ khỏi bệnh,
nhưng thường gầy yếu và cho năng suất thấp.
2.4. Bệnh tích
- Tụ huyết và xuất huyết niêm mạc mắt mồm mũi tổ chức dới da điều có
tụ huyết đỏ sẫm và xuất huyết từng mảng.
- Thịt màu tím hồng thấm nhiều nước
- Hệ thống hạch lym pho sưng to, thuỷ thững và xuất huyết, rõ nhất là
hạch sau hầu vai, trước đùi.
- Tim sưng to, trong bao tim, màng phổi xoang ngực và xoang bụng đều
có tương dịch (nước vàng).
Nếu con vật bị bệnh ở thể đường ruột thì thấy chùm hạch ruột sưng to có
xuất huyết, niêm mạc ruột tụ huyết, xuất huyết nặng và niêm mạc ruột bị bong
chóc ra lẫn vào phân.
2.5. Biện pháp phòng và trị
+ Phòng bệnh : Cần thực hiện các biện pháp phòng sau :
- Mua và nhập gia súc ở những vùng không có dịch bệnh
- Chuồng trại phải mát về mùa hè và ấm về mùa đông
20
- Thực hiện vệ sinh chuồng trại, định kỳ tẩy uế, tiêu độc bằng nước vôi
Công tác chẩn đoán, điều trị các ca bệnh tụ huyết trùng tại xã.
3.3. Phương pháp nghiên cứu :
Chuyên đề được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Dựa vào nguồn số liệu thống kê xã Đông Minh
Dựa vào nguồn số liệu thông kê của ban thú y xã
Dựa vào phương pháp điều tra thực tế tại cơ sở, hỏi trực tiếp người nông
dân.
Kết quả được xử lí theo phương pháp thống kê sinh học, phần mềm Excel.
IV. KẾT QUẢ THU ĐƯỢC
Trong quá trình thực tập tại địa phương tôi nắm được tình hình dịch bệnh
trên đàn trâu bò nuôi tại xã Đông Minh dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra như
tụ huyết trùng, Lở mồng long móng, bệnh tiên mao trùng,làm ảnh hưởng đến giá
tri đàn giống hiệu quả sử dụng trong sản xuất thấp.Cùng thời tiết lạnh kéo dài
cũng làm chết một số bê nghé và trâu bò già tại địa bàn xã trong những ngày
cuối năm.
4.1. Tỷ lệ mắc bệnh tụ huyết trùng nuôi tại xã Đông Minh
Qua điều tra bệnh tụ huyết trùng chúng tôi nhận thấy trâu bò từ 3-4 tuổi
trở lên hay mắc bệnh tụ huyết trùng. Tình hình mắc bệnh tụ huyết trùng trên đàn
trâu bò nuôi tại xã Đông Minh trong thời gian thực tập.
22
Bảng 2.8 Tỷ lệ mắc bệnh tụ huyết trùng trâu bò nuôi tại xã
Stt Thôn
Số trâu bò
điều tra
Số trâu bò
bị bệnh
Số trâu bò
chết (con)
Tỷ lệ chết
(%)
VitaminC 5% 30mg/100Kg TT
VitaminB1 1,5% 25Kg/100Kg TT
Tiêm bắp ngày 1 lần
Liệu trình: điều trị 4-5 ngày liên tục.
Phác đồ 2: Tôi điều trị tại thôn Tàng Rêu xã Đông Minh.
Ampi-Kana 10mg/Kg TT/ngày
Analgin 30% 15ml/10Kg TT/ngàyTT
Tiêm bắp 2 lần/ngày
Cafein 30% 10ml/100kg/TT
VitaminC 5% 30mg/100kg TT
Vitaminb1 2.5% 25ml/100kg TT
Pilocarpine………….03ml/100kgTT
Ringerlactac…………500-1000ml truyền tĩnh mạch .
Tiêm bắp ngày 2 lần/ ngày.
Liệu trình: 3- 5 ngày
Sau khi điều trị trâu bò ở hai thôn khác nhau bằng hai phác đồ điều trị tôi
thu được kết quả điều trị như sau: thân nhiệt hạ đã giảm xuống 38,5
o
C, con vật
tỉnh táo ăn uống trở lại các triệu chứng dã mát dần, sau 4 ngày con vật ăn uống
tốt cơ thể lại bình thường con vật khỏi hoàn toàn. Tuy nhiên ở thôn bó mới có
một con trâu chết do trâu mắc bệnh ở thể cấp tính.
24
V. KẾT LUẬN
5.1. Kết luận
Từ kết quả điều tra, theo dõi tình hình chăn nuôi ở đàn gia súc gia cầm
trong các hộ của xã Đông Minh –yên Minh –Hà Giang chúng tôi rút ra được kết
luận sau :
1. Điều kiện tự nhiên –kinh tế xã hội của xã Đông Minh rất thuận lợi cho
viêc phát trién số lượng đàn gia súc, gia cầm đặc biệt là tăng số lượng đàn trâu