điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo mẹ và thực hành thú y tại trại vinh sơn_ việt long – sóc sơn – hà nội - Pdf 24

[Type a quote from the document or the summary of an interesting point. You can position the text box
anywhere in the document. Use the Text Box Tools tab to change the formatting of the pull quote text box.]

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
khoa
***
kho¸ luËn tèt nghiÖp
Đề tài:
“ Điều tra tình hình mắc bệnh lợn con phân trắng ở đàn lợn con theo
mẹ và thực hành thú y tại trại Vinh Sơn_ Việt Long – Sóc Sơn – Hà Nội”
Người thực hiện :
Lớp : NTTS – K52
Người hướng dẫn : 1.
2.
3.
Bộ môn:
Khoa
Hà Nội 2014Phần I
MỞ ĐẦU
1.1ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nền kinh tế chủ yếu dựa vào hai
ngành trồng trọt và chăn nuôi. Trong những năm gần đây khi mà đời sống được
nâng cao, đòi hỏi những sản phẩm chất lượng. Ngành chăn nuôi lợn cũng không
nằm ngoài xu thế đó.
Ngành chăn nuôi lợn từ rất lâu đời được coi là nghề truyền thống trong
sản xuất nông nghiệp của nước ta. Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, chăn nuôi lợn ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về qui mô và số lượng,
chuyển đổi cách chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại khép kín. Hình thức

2.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, bệnh phân trắng lợn con đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các
cơ sở chăn nuôi tập trung.
Năm 1962, Hùng Cao đã nhận xét bệnh có thể xảy ra quanh năm ở những
nơi chăn nuôi tập chung, bệnh phát mạnh vào mùa đông sang hè ( từ tháng 11
đến tháng 5 ) khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ nóng sang lạnh )
Đào Trọng Đạt và cộng sự (1964) nhận định nguyên nhân gây bệnh do ảnh
hưởng các nhân tố bên ngoài (sự thay đổi thời tiết đột ngột lợn con bị lạnh thức
ăn lợn mẹ kém phẩm chất hoặc thay đổi đột ngột, chuồng trại ẩm ướt …) gây rối
loạn thần kinh dẫn đến rối loạn tiêu hoá.
Năm 1970, Nguyễn Vĩnh Phước kết hợp với xí nghiệp thuốc thú y phân lập
và giám định E.coli trong bệnh bợn con tiêu chảy ở Quang Trung, Kiều Thị,Cầu
Ngãi, Yên Sở. Đến năm 1974 ông đã xác định được tỷ lệ nhiễm bệnh phân trắng
lợn con xảy ra ở mọi lưá tuổi và ở lợn sơ sinh
Năm 1966, Cù Xuân Dần nghiên cứu một chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu của
lợn bệnh và so sánh với lợn bình thường.
Nguyễn Văn Lượng 1963 bệnh lợn con ỉa phân trắng là do thiếu nguyên tố
vi lượng nên khi ông dùng hợp chất như đồng, sắt bổ xung cho lợn mẹ và lợn
con thì khỏi bệnh. Năm 1977 Vũ Văn Ngữ và Nguyễn Hữu Nhạ cho rằng bệnh lợn con ỉa phân
trắng là do hiện tượng loạn khuẩn.
Sử An Ninh và cộng sự 1981 cho rằng : nguyên nhân phân phản ứng thích
nghi của cơ thể đối với các yếu tố stress biểu hiện qua sự biến động về hàm
lượng một số thành phần trong máu như đường huyết, sắt, kali, natri,…
Năm 1996 Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho khi theo dõi tính kháng thuốc của
E.coli phân lập từ lợn con ỉa phân trắng cho biết: số chủng E.coli kháng thuốc từ
năm 1978 đến 1988 tăng khá mạnh, nhất là các loại kháng sinh
Chloramphenicol, Tetracyline.

chỉ khi môi trường thay đổi là các vi sinh vật có hại ở đường ruột nhân cơ hội
này phát triển làm con vật ỉa chảy nặng.
Các yếu tố liên quan gián tiếp là khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng,
khẩu phần thức ăn thay đổi đột ngột làm mất cân bằng trong cơ thể, quá trình
tiêu hoá bị rối loạn dẫn đến quá trình loạn khuẩn trong đương tiêu hoá. Đây Là
môi trường thuận lợi cho vi khuẩn có hại phát triển mạnh cả về số lượng cũng
như độc lực gây bệnh.
2.2.1. Đặc điểm tiêu hoá của gia súc non.
Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Phát
triển nhanh thể hiện sự tăng lên về dung tích dạ dày, ruột non và ruột già. Nhưng
cơ quan tiêu hoá của lợn con chưa được hoàn thiện là do một số mem tiêu hoá
thức ăn chưa có hoạt tính mạnh, nhất là ở ba tuần tuổi đầu.
Lúc đầu ở dạ dày có nồng độ ion H
+
rất thấp, thậm chí không có , khả năng
diệt trùng rất thấp, sau một thời gian bú sữa mẹ làm nồng độ HCL bắt đầu tăng
lên. Các tuyến tiêu hoá dần dần được phát triển và khả năng tiêu hoá tốt hơn.
Nhìn chung bộ máy tiêu hoá của lợn con biến đổi theo tuổi, còn ở giai đoạn
lợn con theo mẹ độ PH rất thấp ở dạ dày (Trần Cừ 1972)
2tuần tuổi: PH =2,82
9tuần tuổi :PH=4,96Theo Đào Trọng Đạt, Lê Ngọc Mỹ, Phan Thanh Phương, Huỳnh Văn
Kháng (1996), lợn con trên 14-16 ngày tuổi tình trạng thiếu axit HCL tự do
trong dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa. Do đó việc
tập cho lợn con ăn sớm, đặc biệt là việc cai sữa sớm đã rút ngắn được giai đoạn
thiếu HCL, hoạt hoá hoạt động miễn dịch, tăng khả năng đáp ứng miễn dịch của
cơ thể.
2.2.2. Hệ vi sinh vật đường ruột ở gia súc non

ruột.
-Kbsiella: là vi khuẩn không di động, không hình thành nha bào, thường sinh
giáp mô. Vi khuẩn Klebsiella có ba loại kháng nguyên: kháng nguyên K, kháng
nguyên O dạng S, kháng nguyên O dạng R.
-Proteus: thường kí sinh trong đường ruột, bình thường với số lượng ít
không gây bệnh. Nhưng khi có các yếu tố bất lợi tác động vào cơ thể làm cho
sức đề kháng của cơ thể giảm thì vi khuẩn trỗi dậy gây bệnh và gây tổn thương
tại nơi cư trú.
-Shigella: không có khả năng di động, cư trú tại ruột già, là một trong những
tác nhân gây viêm dạ dày-ruột.
Lợn con theo mẹ thích ứng kém với môi trường: hệ thống miễn dịch chưa
phát triển, hệ thống enzim tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, dự trữ năng lượng cơ thể
rất ít, thiếu sắt, điều hoà thân nhiệt kém.
2.2.3. Đặc điểm thích nghi ở lợn con
* Hệ thống miễn dịch chưa phát triển: lợn con sơ sinh nhận từ sữa đầu một
lượng kháng thể đặc hiệu (IgG) có hiệu quả trong 10 ngày đầu. Nhưng sự hấp
thu Immuglobin của sữa đầu cũng giảm nhanh trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
Do đó tất cả các tác nhân, yếu tố hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ
nhiễm bệnh, tỷ lệ tử vong sau khi sinh Miễn dịch chủ động được thực hiện bắt
đầu từ 3 tuần tuổi.
* Hệ thống enzim tiêu hoá chưa hoàn chỉnh: Ở lợn 15-21 ngày hệ thống
enzim chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa (chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá
protein sữa, lipaza cho lipid và lactoz). Bắt đầu từ 3 tuần tuổi, hoạt tính enzim tiêu hoá. Vì vậy, việc cho lợn con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển đầy đủ
các loại enzim tiêu hoá.
Dự trữ năng lượng rất ít: khi mới sinh, cơ thể lợn con chứa 80% nước và
20% chỉ có lipid, còn ở 3 tuần có 65% là nước và 12% là lipid. Ngoài chất dự
trữ là lipid cơ thể cồn có glycogen. Tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen)

loạn trao đổi chất, hấp thu dinh dưỡng kém. Do vậy, các mầm bệnh như E.coli,
Samonella, dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh.
Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozin được tổng
hợp còn ít, khả năng thực bào với các thành phần lạ là rất kém. Vì vậy, việc cho
lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có chứa nhiều globulin miễn
dịch, những chất bảo vệ lợn con mới đẻ chống nhiễm mầm bệnh. Hai giờ sau khi
đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin miễn dịch từ
sữa đầu vào máu trong thời gian 24-36 giờ, nhờ đó có đủ kháng thể trong 5 tuần
đầu tiên(Trương Lăng,2007 ).
2.3. BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON
Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng tiêu chảy phân trắng ở lợn con
đang theo mẹ, đặc biệt từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi. Bệnh xảy ra quanh năm
nhưng hay găp nhất khi thời tiết thay đổi: nóng lạnh bất thường, mưa nhiệt độ và
độ ẩm cao,…cũng có nhiều nguyên nhân khác rây ra bệnh như bệnh truyền
nhiễm, bệnh kỹ sinh trùng, do các yếu tố ngoại cảnh, thức ăn thay đổi đột
ngột…
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý dặc thù của đường tiêu
hóa. Hiện tượng lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tính chất diễn biễn, tùy theo độ
tuổi nhất định, tùy theo yếu tố được xem là nguyên nhân chính mà nó còn gọi
với nhiều tên khác nhau: Bệnh lợn con phân trắng, chứng khó tiêu, tiêu chảy sau
cai sữa, chứng rối loan tiêu hóa…Tuy nhiên, thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi
cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5-6 lần trở đi) và nước ở tron phân từ
75-76% trở lên được gọi là tiêu chảy. Tiêu chảy là một hội chứng bệnh lý liên
quan đến nhiều yếu tố, cho dù là yếu tố nào đi thì hậu quả của tiêu chảy là mất
nước, chất điện giải, kiệt sức, trường hợp lợn khỏi bệnh thường còi cọc chậm
lớn do niêm mạc đường tiêu hóa bị tổn thương làm giảm quá trình tiêu hóa hấp
thụ thức ăn, tỷ lệ tử vong tương đối cao.

bá trong đường tiêu hóa của lợn con sơ sinh làm tăng nhu động ruột, làm quá
trình tiêu hóa được thuận lợi. Đặc biệt trong sữa đầu còn có hàm lượng kháng
thể làm tăng nhu động ruột, làm quá trình tiêu hóa được thuận lợi. Đặc biệt trong
sữa đầu còn có hàm lượng kháng thể làm tăng nhu động ruột, làm quá trình tiêu
hóa được thuận lợi. Đặc biệt trong sữa đầu còn có hàm lượng kháng thể
globullin, vì vậy việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết để cung cấp hàm
lượng kháng thể đáng kể chống lại sự sâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh,
đồng thời tăng sức đề kháng cho cơ thể.
Do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu chất
dinh dưỡng nhất là thiếu sắt, Khi còn bú mẹ. lợn con rất cần nước, thiếu nước
chúng sẽ uống nước bẩn…vì vậy ta không chi cho lợn con bú sữa đầy đủ mà còn
phải cung cấp đủ nước uống cho lơn con.
* Do đặc điểm sinh lý lợn con
Khi mớ sinh, cơ thể lợn con chưa phát triển về hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch.
Trong dạ dày lợn con thiếu a xit HCL (Clo hi đờ rích) nên pepsinnozen tiết ra
không chở thành men pepsin hoạt động được. Khi thiếu pepsin, sữa mẹ không
được tiêu hóa và bị kết tủa dưới dạng cazein, gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy
phân màu trắng (màu của cazein chưa được tiêu hóa). Hơn nữa khi mới sinh vỏ
não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, do vậy nó
không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu. Hơn nữa
lượng mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1%. Lúc khí hậu thay
đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt. Đặc điểm
này đã lý giải tại sao bệnh này lại hay sảy ra hàng loạt, ồ ạt khi khí hậu thời tiết
thay đổi thất thường.
Vì vậy ta cần bổ sung lượng sắt ít nhất là 200-250ml trên con để lợn con
tránh hiện tượng thiếu máu, trong sữa mẹ không chỉ thiếu sắt mà còn Coban, vitamin B
12

(K
987P
) và F
41
F
17
,F
18
hoặc một số yếu tố bám dính
khác mà cho đến nay cấu trúc của chúng vẫn chưa được xác định dõ dàng.
Chính các yếu tố bám đinh này cùng với độc tố đường ruột Sta, STb, TL đã gây
nên quá trình sinh bệnh của E.coli.
E.coli sâm nhập và lây chuyền khắp cơ thể bằng con đường tiêu hóa (ruột
non) và đường máu. Sức đề kháng của cơ thể con vật sẽ quyết định sự lây truyền
khắp cơ thể nhanh hay chậm, nặng hay nhẹ.Đào Trọng Đạt và cộng sự (1964) đã xác định được số lượng E.coli ở lợn
bệnh lớn hơn lợn khỏe.
Tại Việt Nam các nghiên cứu về vi khuẩn E.coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn
nói chung cũng có nhiều tác giả quan tâm và tiến hành. Bệnh do trực khuẩn
E.coli gồm các type: O
143
, O
149
, O
141
, O
117
, O

trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, có 3 loại kháng nguyên đó là O, H, và
K.
- Kháng nguyên O (kháng nguyên thân) : là kháng nguyên vách tế bào, nó 2
đặc tính : chịu nhiệt ở 100
o
C sau 2giờ mới bị phá hủy, kháng cồn và bị phá hủy
bởi fomon 5%. Kháng nguyên O rất độc, chỉ cần 1/20mg là có thể cho chuột
nhắt chết sau 24 giờ. - Kháng nguyên H (kháng nguyên lông) : là kháng nguyên có trên lông vi
khuẩn, đó là một protit có cấu trúc miozin của cơ. Nó có đặc điển là kém bền,
kém chịu nhiệt, bị cồn và các enzim tiêu hóa protein phá hủy.
- Kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt) : gồm 3 loại L, A, B. Bản chất
hóa học là một loại polisaccarit bao quanh tế bào vi khuẩn. Người ta đã xác định
được 13 loại kháng nguyên K khác nhau.
E.coli không chịu được nhiệt, đun 55
o
C bị diệt trong 1 giờ, 60
o
C bị diệt trong
30 phút, đun sôi sẽ chết ngay. Các chất hóa học thông thường như axit phennic
fomon… diệt trong 5 phút. Sống ở môi trường ngoài vi khuẩn có thể tồn tại lâu
tới 4 tháng.
* Do các yếu tố ngoại cảnh trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân
bằng giữa sức đề kháng của cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh. Khi sức đề
kháng của cơ thể giảm thì cân bằng này mất đi làm cho cơ thể rơi vào tình trạng
bệnh lý.
Do cấu tạo, chức năng sinh lý nhiều cơ quan của gia súc nói chung và lợn
con nói riêng chưa hoàn chỉnh làm cho khả năng thích nghi và bảo vệ cơ thể rất

Theo Sử An Ninh (1991)[14]: Bệnh phân trắng lợn con có mối liên quan đến
trạng trái stress lạnh, ẩm làm cho lợn con không giữ được mối cân bằng hoạt
động của hệ thống: Hạ khẩu não – tuyến yên – tuyến thượng thận làm biến đổi
hàm lượng Fe
2+
, Na
+
và K
+
trong máu làm giảm sức đề kháng.
Đối với các cơ sở chăn nuôi tập chung, công tác vệ sinh cần phải quan tâm
nhiều hơn nữa. Lợn con mới đẻ ra, sau khi thực hiện các thao tác lau nhớt, buộc
rốn, bấm răng nanh…phải được được sưởi ấm bằng đèn hồng ngoại để bù đắp
được sự mất nhiệt của cơ thể lợn con, đồng thời phải cho lợn con bú sữa đầu
ngay để tăng sức đề kháng cho lợn con, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, vệ sinh vòi
nược uống tự động tránh rỉ sắt trong nước, thường xuyên vệ sinh các máng ăn,
để lợn con tránh ăn phải thước ăn ôi thiu.
Nếu trong công tác nuôi dưỡng, người chăn nuôi tuân thủ được qui trình trên
thì sẽ hạn chế được các yếu tố bất lợi của thời tiết và lợn con ít mắc bệnh hơn.
* Do virut.Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của vrut.
Bohl EH và cộng sự (1978) : khi nghiên cứu chứng viêm ruột ỉa chảy ở lợn con
đã tìm thấy Rota virut. O.Nilsson, Mantinson.K và Elisabeth-Peson (1984) đã
thấy Rota virut kết hợp với Isospora suis gây tiêu chảy ở lợn con. Ở nước ta cho
đến nay chưa có tài liệu nào công bó tác nhân gây bệnh phân trắng lợn con theo
hướng visrut.
2.3.2. Cơ chế sinh bệnh
Lợn con theo mẹ dưới 21 ngày tuổi có sự gay gắt giữa qui luật sinh trưởng

vi sinh vật đường ruột. Vi khuẩn có men gây thối phát triển mạnh làm cho quá
trình bệnh càng thêm trầm trọng.
Như vậy quá trình sinh bệnh phân trắng lợn con đã đưa lợn con vào 3 trạng
thái rối loạn :
- Rối loạn chức năng tiêu hóa hấp thu.
- rối loạn cân bằng muối, nước và các chất điện giải. do lợn con tiêu chảy
quá nhiều, lợn con dễ rơi vào trạng thái nhiễm độc, trụy tim mạch mà chết.
- Rối loạn cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột.
2.3.3. Triệu chứng – bệnh tích
*Triệu chứng
Bệnh thường sảy ra ở lợn con, có con mắc rất sớm, ngay sau khi 2-3 giờ và
mắc muộn nhất khi lợn con được 21 ngay tuổi.
Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì sau 2-3 ngày là
hạ, cũng có con thi thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy mất nhiều nước.
Lợn con mắc bệnh trong 1-2 ngày đầu lợn con vẫn bú và chạy nhảy như
thường. sau đó con vật ít bú dần và ngừng bú hẳn. Gầy tóp nhanh chóng, lông sù
đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân run rẩy và dúm lại, đuôi và kheo dính
đầy phân. Khi con vật đi ỉa thi rặn nhiều làm lưng uốn cong, bụng tóp lại, thể
trạng đờ đẫn, nằm nhiều hơn, có con ỉa chảy mất nước nhiều thì hố mắt trũng
xuống, niêm mạc mắt, mũi nhợt nhạt, chân lạnh. Thần kinh co giật từng cơn, da
bị mất sự đàn hồi. Con vật bị bệnh khoảng 5-7 ngày cơ thể sẽ kiệt sức rồi sẽ
chết, nếu con vật có khỏi thi cũng còi cọc chậm lớn.
Ngài việc chẩn đoán dựa vào các triệu chứng trên thì bệnh còn được xác
định chủ yếu dựa vào các trạng thái thay đổi của phân qua các giai đoạn bệnh.
- Giai đoạn đầu từ 12-14 giờ trước khi bị bệnh lợn con đi ỉa khó khăn, phân
táo, đen đỏ như hạt đỗ.
-Giai đoạn tiếp theo, phân táo bón chuyển sang dạng sền sệt màu vàng, sau
2-3 ngày phân chuyển sang màu trắng hay sám trắng, sau có thể là vàng xanh.
Như vậy các tác giả đều nhận thấy hạn chế cá tác nhân stress có hại và đảm
bảo nhu cầu dinh dưỡng cho lợn mẹ và lợn con có tác dụng hạn chế tiêu chảy ở
lợn con.
Hoàng Danh Dự (1983-1993)[1], Lê Thị Tài (1993)[23] đã dùng Dextran-Fe
để phòng và trị bệnh phân trắng lợn con.
Đỗ Trung Cừ (2004) cho lợn con uống Biolactyl. Sử An Ninh (1991)[14] khi
tiêm ACTH, Presnisolon.
Các biện pháp phòng và trị cần hướng vào 3 mục tiêu :
- Phải thực hiện tốt khâu vệ sinh (chuồng trại, thiết bị, dụng cụ chuồng nuôi,
nhà ở) nhằm hạn chế E.coli gây bệnh. Đồng thời phải thiết lập độ thông thoáng
hợp lý để duy trì và đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai
đoạn. Đặc biệt phải ấm ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, vệ sinh sạch sẽ
có đèn sưởi ấm cho lợn. Nếu phát hiện lợn con bị tiêu chảy thì cần nhanh chóng
điều trị bằng thuốc.
- Phải chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn con và lợn mẹ nhằm nâng cao sức đề
kháng cho lợn con, phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt, phải đảm
bảo các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn.
- Dùng vacxin phòng bệnh cho lợn con.
Ở nước ta, Nguyễn Thị Nội (1986) đã sản xuất vacxin phòng bệnh cho lợ nái
và kết quả cho thấy tiêm vacxin cho lợn nái chửa có tác dụng làm cho lợn chậm
bị bệnh hơn những con lợn con do lợn mẹ không được tiêm đẻ ra.
Lê Văn Tạo và cộng sự (1993)[24] dùng 7chủng E.coli đã xác định được yếu
tố gây bệnh chế tạo vacxin chế dạng Bactein để phòng bệnh cho kết quả tốt.
Gần đây một số công ty đã đưa vacxin có chứa kháng nguyên bám dính tiêm
vacxin cho lợn nái hậu bị và nái chửa kỳ cuối, kháng thể chống E.coli xâm nhập
vào thành ruột.* Trị bệnh
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đều đi đến kết luận:

E.coli mẫn cảm mạnh với cácc loại kháng sinh: Amicacin, Apramycin, Ceftiofur
Nhiều tác giả khac cho rằng việc lạm dụng kháng sinh còn phá huỷ cân bằng
cần thiết của hệ vi khuẩn đường ruột, làm giảm đáng kể các vi khuẩn có lợi
trong đường tiêu hoá.
Ngoài ra khâu hộ lý, chăm sóc, bổ sung nước và chất điện giải là cần thiết để
cơ thể bệnh nhanh chóng hồi phục.Phần III
NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, NGUYYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tôi thực hiện đề tài này nhằm tiến hành ngiên cứu nội dung sau:
-Điều tra tình hình lợn con ỉa phân trắng trên đàn lợn con theo mẹ từ măm
2008-2010
-Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi của lợn con
-Thử nghiệm và so sánh một số phác đồ điều trị bệnh lợn con phân trắng
-Thực hành công tác thú y tại trại
3.2.ĐỐI TƯỢNG VÀ NGUYÊN LIỆU NGHIÊN CỨU
3.2.1. Đối tượng
Lợn con theo mẹ từ 1-21 ngày tuổi ở trại Việt Long-Sóc Sơn-Hà Nội.
3.2.2. Nguyên liệu
Trong thời gian thực tập chúng tôi sử dụng một số kháng sinh và thuốc bổ
trợ sức trợ lực theo yêu cầu đề tài.
a/Biocolistin
*Thành phần: trong 100ml chứa
-Ampicillin trihydrate …………5.2g
Clistine sulfate……………… 15.000.000UI
Chlophenỉamine malrate……….0.25g
-Tá dược vừa đủ……………….100ml

Gentamycin sulfate 5500mg
Tylosin tatrate 11000mg
ách dùng Heo, Dê, Cừu 1ml/10kgP/ngày
Vị trí : tiêm bắp thịt, tiêm trong 3-5 ngày* Công dụng :
Heo, Trâu, Bò, Dê cừu trị viêm phổi, sốt cấp tính, viêm ruột tiêu chảy phân
trắng, phân xanh, phân có máu, tụ huyết trùng, nhiễm trùng vết thương, viêm
khớp, long móng, viêm tử cung, viêm vú.
Sản xuất tại công ty liên doanh Anova
3.3.Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Điều tra tình hình chung của trại: dựa vào số liệu do trại cung cấp và
qua quan sát trực tiếp.
3.3.2. Xác định bệnh dựa vào dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích
khi mổ khám gia súc chết.
3.3.3. Xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo lứa tuổi
Chúng tôi tiến hành trên những đàn lợn con đồng đều, cùng thời điêm sinh,
cùng lứa đẻ, giống nhau về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi ở 3 giai
đoạn: 1,2,3 tuần tuổi.
3.3.4. Xác định tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng đang theo mẹ
Chúng tôi tiến hành trên những đàn lợn con đồng đều, cùng thời điểm sinh
ra, cùng lứa đẻ, giông nhau về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và theo dõi ở 3 giai
đoạn : 1,2,3 tuần tuổi.
3.3.5. thử nghiệm thuốc điều trị
Chúng tôi tiến hành 3 lô để điều trị, những lô này đồng đều nhau, cùng thời
điểm,cùng lứa đẻ, giống nhau về chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng.
Gồm ba loại thuốc được sử dụng đó là:
- Biocolistin
- Martrill 5%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status