skkn dạy phép chia với số thập phân cho học sinh lớp 5 - Pdf 24

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I/ Lí do chọn đề tài:
Bước vào thế kỷ XXI, giáo dục Vịêt Nam đã trải qua hơn mười năm đổi mới và
thu được nhiều thành quả tốt đẹp. Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được,từng
bước thực hiện các mục tiêu của xã hội.
Đất nước ta hiện nay đang trong thời kỳ CNH, HĐH nên rất cần những con người
có tri thức, có khoa học kĩ thuật. Trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi
nền giáo dục phải thay đổi mục tiêu đào tạo, xét lại nội dung và phương pháp giảng dạy
học. Thực hiện Nghị quyết 40/QH khoá X đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
triển khai đại trà từ năm học 2001- 2002 bắt đầu từ bậc Tiểu học.
Bậc tiểu học là bậc học cơ bản, là bậc nền tảng cung cấp, những cơ sở ban đầuvề
tri thức đặt nền tảng cho việc hình thành phát triển nhân cách học sinh, mục tiêu giáo
dục toàn diện học sinh
Đối với bậc Tiểu học năm học 2007 - 2008 cũng là năm thứ sáu thực hiện triển
khai chương trình SGK mới từ lớp 1 đến lớp 5. Cũng là năm có cái nhìn tổng quát nhất
về chương trình sách giáo khoa một cách toàn diện để đúc rút kinh nghiệm sau 5 năm
dạy chương trình sách giáo khoa mới và đóng góp ý kieens về các nhà soạn sách.
Năm học này toàn ngành giáo dục thực hiện vận động" Nói không với tiêu cực
trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục" và “ Học tập và làm theo gương đạo
đức cách mạng Hồ Chí Minh” được các thầy cô, học sinh hưởng ứng tích cực, nhân dân
cả nước đồng tình ủng hộ.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục đề ra thì yếu tố người thầy, là rất
quan trọng. Chương trình mới đặt ra yêu cầu người thầy giáo phải thực sự chủ động
trong kế hoạch giảng dạy, luôn tìm tòi khám phá những phương pháp dạy học để phát
huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Với yêu cầu xã hội hiện nay là dạy
thực chất , học thực chất đừng vì thành tích mà ta quên đi chất lượng thực chất. Làm
cách nào đem đến cho các em kiến thức của nhân loại để các em tiếp nhận một cách nhẹ
nhàng, hiệu quả.
Qua tìm hiểu việc dạy môn Toán lớp 5 chương trình SGK mới, đây là một môn
học khó, cần nhiều thời gian, khối lượng kiến thức nhiều vậy đòi hỏi độ chính xác và
vận dụng vào thực tiễn cao.Tuy là chương trình mới song xuyên suốt chương trình vẫn

vậy cũng là đủ đối với học sinh. Cấu trúc kiến thức SGK còn chưa chặt chẽ, lôgíc và
chưa có sự thống nhất trong các bài dạy. Một số qui tắc đưa ra còn khó hiểu và chưa
phù hợp với nhận thức của trẻ.
VD: Dạy tiết 66 chia 1 số tự nhiên cho 1 số tự nhiên mà thương tìm được là 1 số
thập phân" việc thêm 0 vào số bị chia trong phép chia 43: 52. trước khi thêm 0 vào bên
phải số bị chia cần phải đánh dấu phẩy như sau: 43,0 : 52, nhưng đến tiết 68 " chia 1 số
thập phân cho 1 số thập phân" việc thêm 0 vào số bị chia trong phép chia: 57: 9,5 không
cần đánh dấu phẩy mà chỉ bỏ dấu phẩy ở số chia như vậy là không nhất quán. SGK
trình bày như sau:
570 9
x
5
Nhìn về hình thức nhiều phụ huynh và học sinh lầm tưởng là 570: 9
,
,5. Nếu phép
chia mà có dư thì rất khó tìm số dư.
Tiết 70 " Chia 1 số thập phân cho 1 số thập phân" phép chia 23,56: 6,2 chuyển
dấu phẩy đổi thành chia 1 số số thập phân cho 1 số tự nhiên
23
x
5,6 6
x
2
Qui tắc: Khi chuyển đổi dấu phẩy của cả số chia và số bị chia song không nói tới
bỏ dấu phẩy đầu của số bị chia. Trường hợp phép chia có dư SGK có đưa phần kiến
thức mới này vào luyện tập song còn chưa cụ thể, học sinh rất khó tìm số dư.
SGK chưa chú ý việc dạy phép chia nhẩm chia số thập phân cho 0,1; 0,01:
0,001 mà chỉ đưa ra một số phần nhỏ lồng ghép trong bài tập.
2) Giáo viên:
Khi dạy phép chia với số thập phân trên cơ bản dựa vào phép chia 2 số tự nhiên.

biết thêm chữ số 0 đằng trước số bị chia nên dẫn đến sai.)
Học sinh trên cơ sở thực hiện thành thạo phép chia với số tự nhiên, vận dụng vào
phép chia với số thập phân nhưng các em vẫn còn lúng túng quên dấu phẩy ở thương và
không biết phép thử lại phép chia bằng phép nhân.
II/ LẬP KẾ HOẠCH THỰC HIỆN
1) Nghiên cứu kĩ chương trình phần phép chia với số thập phân gồm có các bài
- Chia số thập phân cho số tự nhiên
- Chia số thập phân cho 10,100,1000
- Chia số tự nhiên cho số tự nhiên mà thương tìm được là 1 số thập phân
- Chia số tự nhiên cho số thập phân
- Chia số thập phân cho số thập phân
2) Tìm hiểu yêu cầu cơ bản của phần phép chia với số thập phân.
- Học sinh biết thực hiện phép chia thương là số tự nhiên hoặc số thập phân không
quá 3 chữ số phần thập phân trong một số trường hợp.
- Biết chia nhẩm số thập phân cho 10 , 100, 1000 hoặc 0,1; 0,01 ; 0,001
- Biết tính giá trị biểu thức số thập phân có đến 3 dấu phép tính.
- Biết tìm 1 thành phần chưa biết của phép nhân hoặc phép chia số thập phân
3) Qua tìm hiểu chương trình SGK và mục tiêu cần đạt, cách dạy của giáo viên,
cách học của học sinh, phân loại đối tượng học sinh tôi đưa ra các ý tưởng, cách
dạy.
Trước hết qua nghiên cứu phép chia với số thập phân. Ở các dạng bài tựu
chung đều đưa về dạng phép chia số thập phân cho số tự nhiên.
VD: Bài Chia số tự nhiên cho số tự nhiên thương tìm được là số thập phân(SGK trang
67)
27 : 4 thực chất ta chuyển số 27 thành số thập phân mà phần thập phân là những
chữ số 0
27,00 : 4
VD: Bài Chia số tự nhiên cho số thập phân(SGKtrang 69)
57 : 9,5 ta chuyển 57,0: 9,5 dẫn đến 57
x

Bước 2 : Chuyển sang chia phần thập phân số bị chia cho số chia( lưu ý: trước
khi chia sang phần thập phân ta viết dấu phẩy vào bên phải thương vừa tìm được) rồi
tiếp tục chia như bình thường.
*Viết dấu phẩy vào bên phải 2
Hạ 4, 4 : 4 được 1 viết 1
1 nhân 4 bằng 4, 4 trừ 4 bằng 0, viết 0
Vậy 8, 4: 4 = 2,1
Thử lại : 2,1 x 4 = 8,4( tôi đưa ra phép thử để học sinh biết cách kiểm tra kết quả)
Học sinh tự tìm ra quy tắc theo cách hiểu của các em , sau đó cho mỗi em tự tìm
một ví dụ về phép chia 1 số thập phân cho 1 số tự nhiên
Chính điều này dẫn đến nảy sinh các phép chia
V D: Phép chia số thập phân cho số tự nhiên. nhưng phần nguyên của số bị chia nhỏ
hơn số chia
1,72: 4 ( 1<4 )
Đối với trường hợp này giáo viên giải thích chia phần nguyên : 1: 4 được 0 dư 1,
rồi chia đến phần thập phân .Ta có 2 cách trình bày như sau
Cách 1: 1,72 4 1: 4 được 0, viết 0
17 0,43 0 x 4 bằng 0, 1 trừ 0 bằng1, viết 1
12 *Viết dấu phẩy vào bên phải 0
0 Hạ 7 được 17, 17 : 4 được 4 viết 4
4 x 4 bằng 16, 17 trừ 16 bằng 1, viết 1
Hạ 2 được 12, 12 : 4 được 3, viết 3
3 x 4 bằng 12, 12 trừ 12 bằng 0, viết 0
Cách 2: 1,72 4 1 : 4 được 0, viết 0
12 0,43 * Viết dấu phẩy vào bên phải 0
0 Ta lấy 17 : 4 được 4, viết 4
4 x4 bằng 16, 17 trừ 16 bằng 1, viết 1
Hạ 2 được 12, 12 : 4 được 3, viết 3
3 x 4 bằng 12, 12 trừ 12 bằng 0, viết 0
Đối với em nào chưa thuần thục phép chia nên làm theo cách 1sẽ không bị nhầm,

cũng như vậy, chỉ khác dấu phẩy để chuyển sang bên trái 1 chữ số
* Khi chia 1 số thập phân cho 10 ta chỉ cần chuyển dịch dấu phẩy của số đó sang trái 1
chữ số
Cách làm bài này giống bài toán nào ở phép nhân mà các em đã học?( Mục đích
của tôi muốn củng cố kiến thức trước sau )
Nhân 1 số thập phân với 0,1
Giáo viên lấy VD: 213,8 x 0,1 = 21,38
Tại sao phép chia: 213,8 : 10 = 213,8 x 0,1 để học sinh tư duy và giải thích?
Giáo viên gợi ý các em hãy chuyển 0,1 thành phân số thập phân.
(0,1 = 1/10 )
213,8 x 0,1 thực chất là 213,8 : 10.
Như vậy: Học sinh sẽ hiểu sâu kiến thức, có mối quan hệ trước sau giữa ,mạch kiến
thức dẫn đến học sinh dễ dàng tìm ra kết quả phép chia số thập phân cho 100, 1000
Học sinh tự rút ra qui tắc.
Khi dạy như vậy sẽ phát huy tính chủ động của học sinh và khơi gợi tính tò mò ham
hiểu biết của các em.
3) Dạng 3: CHIA 1 SỐ TỰ NHIÊN CHO 1 SỐ TỰ NHIÊN MÀ THƯƠNG TÌM
ĐƯỢC LÀ 1 SỐ THẬP PHÂN
Các em đã học phép chia số thập phân cho số tự nhiên ta vận dụng giải bài toán SGK
27 : 4
GV gợi ý các em chuyển thành phép chia số thập phân cho số tự nhiên rồi thực
hiện phép chia.
( học sinh tự làm)
Muốn chuyển số tự nhiên thành số thập phân ta chỉ cần đánh dấu phẩy bên phải
số tự nhiên rồi thêm những chữ số 0 thì giá trị số đó không thay đổi ta làm như sau:
27 = 27,0 = 27,00 = 27,000
Sau đó các em thực hiện phép chia 1 số thập phân cho 1 số tự nhiên
27,00 4
30 6,75
20

tự nhiên bằng cách nhân cả số bị chia và số chia với 10.
Ta được: 570 : 95
Ta đặt tính như sau.
57,0 9,5 khác với SGK 570 9
x
5
Hai bên số bị chia và số chia đều có số chữ số phần thập phân bằng nhau ta bỏ
dấu phẩy rồi chia như hai số tự nhiên. Giáo viên hướng dẫn như sau:
57
x
0 9
x
5
0 6
Với cách làm này học sinh không nhầm khi tìm số dư đối với phép chia có dư, và
đảm bảo sự nhất quán việc thêm chữ số 0 vào số bị chia. Với cách dạy này học sinh
thuận tiện khi học phép chia số thập phân cho số thập phân.
5) Dạng 5: CHIA SỐ THẬP PHÂN CHO SỐ THẬP PHÂN
VD1(SGk trang 71)
23,56 : 6,2
Cách 1: Vận dụng kiến thức đã học ở bài trước nhân SBC và SC với 10 để đưa
về dạng phép chia số thập phân cho số tự nhiên( cách làm như SGK nhưng tôi lưu ý học
sinh chuyển dấu phẩy rồi đánh dấu bỏ dấu phẩy đầu của SBC ) học sinh thực hiện chia:
Bước 1: Đếm chữ số phần thập phân của số chia bao nhiêu chữ số, ta chuyển dấu phẩy
ở số bị chia sang bên phải bấy nhiêu chữ số sau đó bỏ dấu phẩy ở số bị chia và số chia
(thực chất bỏ dấu phẩy là hình thức nhân cả số bị chia và số chia với 10,100,1000 )
Bước 2: Chia như chia số thập phân cho số tự nhiên.
Cách 2: Tôi hướng dẫn các em đưa về dạng phép chia số tự nhiên cho số tự
nhiên.
Bước 1: Thêm vào SBC hoặc SC những chữ số 0 vào bên phải phần thập phân để số

chia có dư song nhược điểm số chia có nhiều chữ số )
Ở dạng toán này tôi đưa thêm phần kiến thức chia số thập phân cho 0,1; 0,01;
0,001 cách làm dựa trên phép chia số thập phân cho 10,100,100 suy ra phép chia số
thập phân cho 0,1; 0,01; 0,001 chính là nhân với 10,100,1000 giáo viên mở rộng cho
các em hiểu:
Chia cho 0,1 hay chia cho 1/10 là một, mà chia cho 1/10 chính là nhân nghịch đảo hay
nhân với 10 cũng là một.Sau đó đưa ra qui tắc chia cho 0,1; 0,01; 0,001 chính là
chuyển dấu phẩy ở số bị chia sang bên phải 1,2, 3 chữ số 0.(Phần này SGK không đưa
ra song mục tiêu của môn học thì có ).
4) Thực nghiệm:
Sau khi hình thành quy trình dạy các dạng toán tôi lập kế hoạch giảng dạy có bàn
bạc lấy ý kiến từ tổ chuyên môn, sau đó tôi tiến hành dạy thực nghiệm dưa trên những
định hướng đưa ra. Trong quá trình dạy tôi vận dụng nhiều phương pháp dạy học để
phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh.Quan trọng là học sinh được tự làm việc,
tự đưa những ý kiến nhận xét, trao đổi với thày, với bạn tìm ra cách làm dễ hiểu và nắm
được bản chất vấn đề.
Kết quả:
Về tiết dạy: Nội dung kiến thức đủ, khai thác sâu, mạnh dạn đổi mới phương pháp,
giáo viên chủ động với kế hoạch giảng dạy.
Về học sinh: Các em tiếp thu nhanh, nắm chắc kiến thức, phát huy các đối tượng học
sinh.
Để kiểm tra kết quả giảng dạy tôi cho các em làm bài kiểm tra ở 2 lớp, lớp 5A tôi dạy
thực nghiệm, lớp 5B lớp đối chứng.
Đề bài ( thời gian 30 phút)
Bài 1(3 điểm) Đặt tính rồi tính
3 : 6 1,904 : 8
243,6 : 1,2 65,625 : 6,25
Bài 2(2 điểm) Khoanh vào chữ chỉ số dư đúng của bài toán sau:
Bác Hà có 21,15 m vải, bác may thành các bộ quần áo, mỗi bộ quần áo may hết
2,5 m. Hỏi bác Hà may còn dư bao nhiêu vải ?

giáo viên không phải nhất thiết tuân thủ theo chương trình SGK mà giáo viên có quyền
tự chủ quyết định thời lượng, thời gian dạy kiến thức cho học sinh, có quyền thay đổi
kiến thức SGK đưa ra nếu cảm thấy chưa phù hợp với học sinh.
- Giáo viên cần linh hoạt trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức
tiết học vui , nhẹ nhàng, hiệu quả, ngôn ngữ chắt lọc, dễ hiểu, câu hỏi theo hướng gợi
mở, nêu vấn đề, thường xuyên động viên khuyến khích khi các em tìm ra kiến thức ở
nhiều cách khác nhau, các đối tượng học sinh đều được đưa ra các ý tưởng của mình.
- Giáo viên cần nghiên cứu sáng tạo làm đồ dùng, cách sử dụng đồ dùng để kích
thích sự thích thú học tập của học sinh.
- Giáo viên kiên trì vượt khó tìm tòi, sáng tạo lòng say mê nghề nghiệp có tinh
thần trách nhiệm cao, luôn đặt chất lượng thực chất lên hàng đầu, thông qua môn học
hình thành nhân cách tốt đẹp cho các em.
II/ HẠN CHẾ KHI LÀM ĐỀ TÀI
Do thời gian nghiên cứu ngắn, mặt khác chương trình SGK lớp 5 còn mới mẻ,
vừa dạy vừa tìm tòi nên chưa nghiên cứu được nhiều. Thực tế đề tài này mới chỉ được
triển khai ở lớp tôi đang dạy đã có kết quả song chưa vận dụng rộng rãi ở các lớp khác
trong trường.
III/ HƯỚNG TIẾP THEO
Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu đề tài này ở các môn học để từ đó thấy được giáo viên
chủ động với kế hoạch giảng dạy là rất quan trọng góp phần làm nên thành công của tiết
dạy. Sau đó tôi sẽ đề xuất cùng ban giám hiệu tổ chuyên môn nghiên cứu nếu có tính
khả thi sẽ thực hiện vận dụng rộng rãi trong trường và mạnh dạn đề xuất với Phòng
Giáo dục để triển khai trong huyện .
IV/KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
1) Về phía học sinh
Được sự quan tâm đúng mức của gia đình.
Có ý thức tự giác học tập, ham tìm tòi khám phá, có quan điểm lập trường vững
vàng, biết cách lập luận sắc bén.
2) Về phía giáo viên
Điều tra nắm chắc trình độ học toán của học sinh. Nghiên cứu xuyên suốt chương

1- 2
B. Nội dung:
I/Tìm hiểu thực trạng
II/Lập kế hoạch thực hiện
III/ Định hướng đổi mới
2-10
C. Kết luận :
I/ Bài học kinh nghiệm.
II/ Hạn chế khi làm đề tài.
III/ Hướng tiếp theo.
IV/ Kiến nghị, đề xuất.
10-11
Dạy văn miêu tả cho học sinh lớp 4
Kiểu bài: Tả cây cối:
A: Phần mở đầu
I/ Lý do chọn đề tài.
Tập làm văn là một phân môn có vị trí quan trọng trong môn học Tiếng Việt. Nó
góp phần rèn cho các em năng lực xử dụng Tiếng Việt giúp các em giao tiếp trong cuộc
sống hàng ngày và có thể học tốt các môn học khác và góp phần hoàn thiện tốt phân
môn tập làm văn. Học tốt phân môn tập làm văn là đã hoàn thiện cả 4 kĩ năng
nghe,nói,đọc, viết mà mộ Tiếng Việt đã đặt ra. Thông qua môn tập làm văn cũng giáo
dục bồi dưỡng và phát triển con người chất nhân văn.
Thực tế phân môn tập làm văn là phân môn khó, nó yêu cầu tổng hợp việc vận
dụng kiến thức kĩ năng, sự hiểu biết giàu vốn sống, óc thẩm mĩ, cảm xúc do yêu cầu đổi
mới chương trình SGK phân môn tập làm văn trong môn Tiếng Việt đã có nhiều cải tiến
trong cách học của học sinh: Dạy học theo định hướng giao tiếp, các em luyện tập thực
hành nhiều không phải đi sâu vào những bài lí thuyết khó khăn.
Năm học 2006 - 2007 là 5 thứ 2 đổi mới chương trình SGK lớp 4 trong đó phân
môn TLV cũng có những kiến bước đột phá trong cách trình bày trong SGK, trong cách
dạy của giáo viên và học của học sinh.

2. Giáo viên: khi dạy phần miêu tả đồ vật ở học kì giáo viên tương đối thuận lợi vì các
em dễ hiểu, dễ nhớ và gần gũi với các em. Song đến phần miêu tả cây cối các em gặp
khó khăn bởi các em học sinh chưa có nhiều vốn sống và không có thời gian nghiên cứu
tìm hiểu thời kì phát triển của 1 loại cây, sự biến đổi theo mùa, theo mưa nắng, có khi
biến đổi theo ngày giờ. Hoặc tả từng bộ phận của cây.
Giáo viên chưa hiểu rõ về việc hình thành từng kĩ năng, chưa phát huy tính khám
phá ham hiểu biết của các em.
Học sinh: Các em học sinh ngại viết văn, viết văn lủng củng, bài văn thiều tính
thực tiễn còn dựa vào tài liệu không sáng tạo, dùng từ thiếu tính chính xác,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status