BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HẠN CHẾ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG PHÁP TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
DẦU KHÍ TOÀN CẦU
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hải Tùng
Mã sinh viên : A16244
Chuyên nghành : Tài Chính –Ngân Hàng
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tại trường Đại học Thăng Long cũng như trong suốt thời
gian thực tập tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu khí Toàn cầu chi nhánh Thăng
Long, em đã học hỏi được nhiều kiến thức cơ bản và những kinh nghiệm bổ ích cho
bản thân mình, đó chính là nền tảng vững chắc để em bước vào công việc thực tế một
cách tốt đẹp.
Để hoàn thành bài luận văn này, trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn đến Ban
Giám Hiệu nhà trường và cùng toàn thể các Thầy Cô trường Đại học Thăng Long, đặc
biệt là các Thầy Cô trong khoa Kinh tế Quản lý đã dậy dỗ cho em trong suốt quá
trình học tập.
Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Đốc Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long cùng các anh chị
phòng Thanh toán Quốc tế, những người đã giúp đỡ em trong việc thu thập, tìm tài liệu
cũng như những lời khuyên quý giá để luận văn có được những số liệu cập nhật, đầy
đủ.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Thị Thúy – người đã đồng hành
giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
này.
dụng chứng từ 11
1.2.3. Biểu hiện của rủi ro thanh toán thư tín dụng 17
1.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng
từ 18
1.2.5. Ý nghĩa của việc hạn chế rủi ro tín dụng chứng từ 19
1.2.6. Các nguyên nhân gây ra rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN DẦU KHÍ TOÀN CẦU CHI
NHÁNH THĂNG LONG 23
2.1. Tổng quan về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu 23
2.1.1. Những nét chính về Ngân Hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu
23
2.1.2. Các thành tựu đạt được 25
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban 25
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu
Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 30
2.2.1. Hoạt động huy động vốn 30
2.2.2. Hoạt động sử dụng vốn 32
2.2.3. Các hoạt động khác tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long 34
2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh 34
2.3. Thực trạng rủi ro theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 35
2.3.1. Quy trình thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân
hàng GP. Bank 35
2.3.2. Hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu Khí
Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long 42
2.3.3. Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng
3.4.2. Phòng ngừa rủi ro hối đoái 63
3.4.3. Phòng ngừa rủi ro đạo đức 63
3.4.4. Tăng cường hợp tác quốc tế trong thanh toán quốc tế 64
3.4.5. Phòng ngừa rủi ro về kinh tế, chính trị, pháp lý 65
3.4.6. Thành lập quỹ dư phòng rủi ro cho hoạt động thanh toán quốc tế 65
3.5. Một số kiến nghị 66
3.5.1. Kiến nghị đối với chính phủ 66
3.5.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt
Tên đầy đủ
BCT
Bộ chứng từ
ISP98
International Standby Practice 98
Quy tắc thực hành thư tín dụng dự phòng Quốc tế
98
L/C
Thư tín dụng
NH
Ngân hàng
NK
Nhập khẩu
XK
Xuất khẩu
XNK
Xuất nhập khẩu
MT 799
MT 999
5. Thông báo sai biệt
MT 750
MT 999
(Nguồn: Giáo trình thanh toán quốc tế của ThS. Thân Tôn Trọng Tín)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1. So sánh giữa thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng 7
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của GP.Bank chi nhánh Thăng Long 26
Bảng 2.1. Hoạt động huy động vốn giai đoạn 2011 – 2013 30
Bảng 2.2. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu theo loại tiền 30
Bảng 2.3. Tình hình cho vay giai đoạn 2011 – 2013 32
Bảng 2.4. Tỷ trọng cho vay theo các chỉ tiêu 32
Bảng 2.5. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Thăng Long 34
Bảng 2.6. Bảng phí dịch vụ của Ngân hàng GP.Bank đối với L/C xuất khẩu 37
Bảng 2.7. Bảng phí dịch vụ của Ngân hàng GP.Bank đối với L/C nhập khẩu 41
Bảng 2.8. Hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn 2011- 2013 42
Biểu đồ 2.1. Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế giai đoạn 2011 – 2013 43
Biểu đồ 2.2. Diễn biến tỷ giá USD/VNĐ năm 2012 48
Bảng 2.9. Bảng chỉ tiêu về mức ký quỹ 51
Bảng 2.10. Tình hình nợ quá hạn L/C tại Ngân hàng GP.Bank chi nhánh Thăng Long
52
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia đang gia sức phát triển
nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập cả bề rộng lẫn bề sâu, trong bối cảnh đó thanh
toán quốc tế nổi lên như một chiếc cầu nối giữa kinh tế trong nước và nước ngoài, có
tác dụng bôi trơn hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ, đầu tư nước ngoài. Hoạt động
thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói
chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc biệt hơn trong bối cảnh hiện nay,
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là đưa ra một cái nhìn về rủi ro trong thanh toán
quốc tế bằng phương thức Tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Dầu
khí Toàn cầu chi nhánh Thăng Long và đề xuất một số giải pháp để nhằm hạn chế và
phòng ngừa những rủi ro đó xảy ra.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu các rủi ro trong phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ và đưa ra
một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro khi sử dụng phương thức này tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long từ giai đoạn 1/1/2011
đến 31/12/2013
4. Phương pháp nghiên cứu
Đảm bảo tính khoa học và khách quan, các phương pháp được sử dụng song
hành và đan xen lẫn nhau:
Phương pháp thống kê: thu thập số liệu, làm cơ sở phân tích và xử lý số liệu.
Phương pháp quan sát để hiểu rõ hơn các bước thực hiện khi khách hàng đến
giao dịch tại chi nhánh Thăng Long
5. Kết cấu của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ.
Chương 2: Thực trạng rủi ro thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh Thăng Long.
Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín
dụng chứng từ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Dầu Khí Toàn Cầu chi nhánh
Thăng Long.
Do thời gian tìm hiểu và kiến thức còn hạn chế, cũng như kinh nghiệm thực tế
chưa tích lũy được nhiều, chắc chắn luận văn của em sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy, em mong nhận được ý kiến đánh giá và những lời nhận xét, góp ý chân
thành của Quý Thầy Cô, và các anh chị tại Chi nhánh Thăng Long để giúp em có thêm
cơ hội học hỏi nhằm vận dụng vào thực tế tốt hơn.
1
sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp người NK không hề ký quỹ, thì một
khoản tín dụng thực sự chỉ xảy ra khi ngân hàng phát hành L/C tiến hành trả tiền cho
nhà XK và ghi nợ nhà NK. Như vậy, thuật ngữ “Tín dụng” trong phương thức thanh
toán tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản “Tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền
2
của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn
nhà NK.
Qua phân tích cho thấy trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngân
hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ mà còn:
Là người đại diện cho nhà NK thanh toán tiền hàng cho nhà NK, đảm bảo cho
nhà NK nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hóa mà họ cung ứng.
Là người đảm bảo cho nhà NK nhận được số lượng và chất lượng hàng hóa phù
hợp với bộ chứng từ và số tiền mình bỏ ra.
Rõ ràng là, nhà NK có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước
khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chứng từ gửi
hàng. Trong khi đó, nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng nếu trao cho ngân
hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo quy định trong L/C. Đây
chính là yếu tố khiến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được sử dụng rộng rãi
trong TTQT.
1.1.2. Phân loại thư tín dụng
L/C có thể huỷ ngang (Revocable letter of credit): là loại L/C có thể bị sửa đổi
hoặc huỷ bỏ mà không cần thông báo cho người hưởng lợi. Nó chứa đựng những rủi ro
đối với người bán vì việc sửa đổi hoặc huỷ L/C có thể xảy ra khi hàng hoá đang trên
đường vận chuyển hoặc trước khi việc thanh toán được thực hiện. L/c huỷ ngang tạo
cho người mua tối đa sự chủ động vì nó có thể được sửa đổi hoặc huỷ ngang mà không
cần thông báo cho người bán. Vì vậy L/C huỷ ngang chỉ có thể sử dụng trong các
trường hợp:
Việc giao hàng thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con
Giữa người mua và người bán có quan hệ rất tốt.
L/C không thể huỷ ngang (Irrevocable letter of credit): Là loại L/C sau khi đã
sau khi bộ chứng từ hoàn hảo được xuất trình hoặc sau ngày giao hàng.
Loại L/C này có 2 dạng:
L/C có kỳ hạn: là loại L/C không huỷ ngang trong đó ngân hàng phát hành
sẽ chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn do người hưởng lợi ký phát khi họ xuất
trình được bộ chứng từ hoàn hảo. Những hối phiếu này nhà xuất khẩu có
thể giữ cho đến thời hạn thanh toán và lúc ấy trình nộp ngân hàng để nhận
tiền hoặc bán, chuyển nhượng trên thị trường, các ngân hàng có thể mua hối
phiếu chấp nhận thanh toán cho chính mình.
L/C trả dần: là loại L/C không thể huỷ ngang, trong đó quy định cho người
hưởng sẽ được thanh toán dần toàn bộ số tiền của L/C theo những thời hạn
đã quy định rõ trong L/C đó. Khác với loại L/C có kỳ hạn, loại L/C này
không đòi hỏi hối phiếu do người bán ký phát. Do vậy, người bán không có
quyền lợi pháp lý đối với hối phiếu và quyền truy đòi đối với hối phiếu đó.
Quy trình này chỉ khác với quy trình nghiệp vụ L/C không huỷ ngang ở chỗ
việc thanh toán được thực hiện theo từng kỳ hạn nhất định.
4
L/C chấp nhận (L/C available by acceptance): là loại L/C trong đó ngân hàng
phát hành L/C thực hiện chấp nhận hối phiếu hoặc chỉ định bên thứ 3 chấp nhận hối
phiếu, với điều kiện người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ theo quy định của L/C.
Ngân hàng phát hành L/C trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải thanh toán hối phiếu
đã chấp nhận, khi các điều kiện của L/C đã được đáp ứng đầy đủ.
L/C trực tiếp (Straight L/C): là loại L/C trong đó nghĩa vụ thanh toán của ngân
hàng phát hành L/C chỉ giới hạn duy nhất đối với người thụ hưởng của L/C. Dạng L/C
này thường yêu cầu người thụ hưởng xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân hàng phát
hành L/C hết hạn hiệu lực tại thời điểm giao dịch của ngân hàng)
L/C cho phép chiết khấu (L/C available by Negotiation): là loại L/C trong đó
ngân hàng phát hành L/C uỷ quyền cho một ngân hàng nhất định (trường hợp hạn chế
- Restricted Negotiation) hoặc cho phép bất kỳ ngân hàng nào (trường hợp không hạn
chế - Freely Negotiation) mua lại bộ chứng từ hoàn hảo do người thụ hưởng xuất trình.
L/C chiết khấu có thể được xác nhận hoặc không được xác nhận. Thông thường ngân
Có 5 loại tuần hoàn sau đây:
Tuần hoàn tích lũy: loại L/C tuần hoàn trong đó điều khoản, nếu trong thời
gian quy định, nhà xuất khẩu không giao hàng thì trong thời hạn hiệu lực kế
tiếp, phần giá trị gián đoạn trước đó sẽ được cộng thêm vào giá trị của L/C
ở vòng tuần hoàn lần sau
Tuần hoàn không tích lũy: loại L/C không cho phép chuyển trị giá L/C
trước vào L/C sau, tức là việc cộng dồn phần giá trị L/C chưa được sử dụng
hết ở vòng tuần hoàn trước vào giá trị L/C ở vòng tiếp theo là không được
phép thực hiện.
Tuần hoàn tự động: Nếu L/C trước hết thời hạn thì L/C sau tự động có giá
trị mà không cần sự thông báo của ngân hàng mở L/C
Tuần hoàn không tự động: Nếu L/C sau muốn có giá trị thì phải có sự thông
báo của ngân hàng mở L/C cho nhà xuất khẩu
Tuần hoàn bán tự động: Nếu sau ngày kể từ ngày mở L/C trước hết thời hạn
hiệu lực hoặc đã sử dụng hết giá trị của L/C trong một khoảng thời gian
nhất định mà không có ý kiến thông báo nào của ngân hàng mở L/C thì L/C
tự động có giá trị hiệu lực.
Do đó rủi ro trong thanh toán L/C tuần hoàn là trong khoảng thời gian dài như
vậy thì tình hình tài chính của người nhập khẩu có thể xấu đi hoặc có những biến động
trên thị trường tài chính của người nhập khẩu, biến động trên thị trường tiêu thụ của
người nhập khẩu, hàng hoá bị ứ đọng nhưng vẫn phải nhập tiếp hàng, không huỷ được
L/C. Rủi ro của nhà nhập khẩu sẽ đem đến rủi ro cho ngân hàng phát hành vì vậy loại
L/C này chỉ được sử dụng trong việc mua bán những hàng hoá với số lượng đều đặn
và nhiều lần trong năm. Để hạn chế rủi ro, ngân hàng phát hành nên chủ động chỉ định
L/C tuần hoàn hạn chế hoặc không tự động hơn là tuần hoàn tự động.
L/C có thể chuyển nhượng(transferable L/C): là một L/C mà người hưởng đầu
tiên có thể yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần
6
giá trị L/C gốc cho một hoặc nhiều người hưởng lợi thứ 2. Mục đích của loại L/C này
nhằm giúp cho nhà xuất khẩu (thực chất là đối tác trung gian) tiến hành dịch vụ xuất
hành L/C giáp lưng phải kiểm tra chặt chẽ chứng từ của L/C giáp lưng, phối hợp với
khách hàng của mình để hoàn thiện các chứng từ thanh toán L/C gốc hoặc phải thực
hiện nghiêm ngặt chế độ ký quỹ và thế chấp đối với người hưởng lợi thử nhất.
7
L/C dự phòng (standby L/C): Loại L/C được mở nhằm đảm bảo quyền lợi của
nhà NK trong trường hợp nhà XK nhận được L/C nhưng không có khả năng giao
hàng. Ngân hàng mở cam kết với nhà NK sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp
nhà XK không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và bồi thường các khoản thiệt hại cho
nhà NK như đã ứng trước tiền hàng, tốn phí mở L/C, tiền đặt cọc,… Ngoài ra L/C dự
phòng cũng có thể được nhà XK áp dụng để đảm bảo khả năng trả nợ của nhà NK. Nó
còn được sử dụng trong đấu thầu quốc tế và đầu tư quốc tế. Thực chất không phải là
phương thức thanh toán mà là phương tiện bảo lãnh. Standby L/C là một văn bản do
ngân hàng phát hành theo chỉ thị của người yêu cầu mở thư tín dụng cam kết thanh
toán cho người thụ hưởng, trong thời hạn hiệu lực của tín dụng thư.
Điểm khác biệt giữa tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng
- Trong thư tín dụng thương mại yêu cầu bộ chứng từ xuất trình để thanh toán
phải chứng minh việc người hưởng lợi đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng.
- Trong thư tín dụng dự phòng, việc xuất trình chứng từ nhằm mục đích chứng
minh việc người yêu cầu mở thư tín dụng không thực hiện đúng cam kết trong hợp
đồng, khi đó ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng phải thực hiện thanh toán ngay số
tiền mở L/C cho người thụ hưởng.
Bảng 1.1. So sánh giữa thư tín dụng thương mại và thư tín dụng dự phòng
Thư tín dụng thương mại
Thư tín dụng dự phòng
Là phương thức thanh toán
Là công cụ bảo lãnh
Nghĩa vụ thanh toán luôn được các bên
mong muốn thực hiện
Nghĩa cụ thanh toán các bên không
mong muốn thực hiện
thường là ngân hàng thông báo hoặc là ngân hàng thứ ba nào đó do ngân hàng mở L/C
quy định.
Người được chuyển nhượng là người nhận các quyền và nghĩa vụ do người
hưởng lợi chuyển.
1.1.4. Quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
(Nguồn: Giáo trình Thanh Toán Quốc Tế của Th.S Thân Tôn Trọng Tín)
NGÂN HÀNG
Phát hành L/C
NGÂN HÀNG
Thông báo
NHẬP KHẨU
XUẤT KHẨU
(1)
(9)
(10)
(2)
(7)
(8)
(3)
(5)
(6)
(8) Nhà nhập khẩu trả tiền để nhận chứng từ đi làm thủ tục nhận hàng.
(9) Ngân hàng phát hành chuyển tiền cho người xuất khẩu (người hưởng lợi)
thông qua ngân hàng thông báo.
(10) Ngân hàng thông báo thanh toán cho người thụ hưởng.
1.1.5. Ưu nhược điểm của phương thức tín dụng chứng từ
Ngày nay, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán quốc tế
được sử dụng ngày càng nhiều do những thuận lợi mà nó mạng lại cho cả người XK và
người NK. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nó cũng không tránh khỏi những sai
10
sót gây ra hậu quả nghiêm trọng. Sau đây là một số ưu nhược điểm của phương thức
tín dụng chứng từ.
a. Ưu điểm
Đối với nhà xuất khẩu
Đảm bảo việc thanh toán vì có ngân hàng mở L/C đứng ra cam kết thanh toán
không phụ thuộc vào những ảnh hưởng khác. Được ngân hàng khống chế bộ chứng từ
không sợ mất quyền sở hữu hàng hóa hay tốn chi phí vận chuyển hàng nếu làm đúng
yêu cầu của thư tín dụng. Nhà XK có thể nhận được sự hộ trợ của ngân hàng cả về tài
chính lẫn thông tin.
Nếu nhà NK không có thiện chí, họ có thể tìm ra lỗi nhỏ trên chứng từ để từ chói
thanh toán mặc dù nhà XK đã giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và thời hạn quy
định
Đối với nhà nhập khẩu
Khi lập L/C thì người mua được ngân hàng kiểm tra giúp bộ chứng từ, đảm bảo
được hàng hóa mình ký hợp đồng đúng số lượng và chất lượng, thời hạn giao
hàng…và họ chỉ trả tiền dựa vào chứng từ.
Đối với ngân hàng
Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng tăng thu nhập thông qua phí dịch
vụ của khách hàng , nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ ngân hàng.
Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ khách hàng xuất nhập
khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế được phát triển.
phải được hiểu theo nghĩa rộng của nó là bất kỳ một sự khúc mắc, chậm trễ nào trong
các khâu của quá trình thanh toán. Rủi ro trong thanh toán bằng L/C có thể xảy ra đối
với các bên: đối với người bán, đối với người mua và đối với các ngân hàng.
(Nguồn: )
1.2.2. Các loại rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ
1.2.2.1. Rủi ro kỹ thuật
Là những rủi ro hình thành do những sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình
thanh toán L/C như: các bên tham gia thực hiện sai một khâu trong quy trình nghiệp vụ
thanh toán hay có sự khác biệt giữa bộ chứng từ thanh toán với nội dung L/C hoặc trái
với điều khoản của UCP 600.
Rủi ro đối với ngân hàng
c. Rủi ro đối với NH phát hành
Trong nghiệp vụ mở L/C, nếu NH phát hành kiểm tra không kĩ đơn xin mở L/C
sẽ dẫn đến việc chấp nhận cả những điều khoản hàm chứa rủi ro cho NH sau này
Khi nhận được bộ chứng từ xuất trình, nếu NH phát hành trả tiền hay chấp
nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra tỉ mỉ, để bộ chứng từ có lỗi,
nhà NK không chấp nhận, thì NH không thể đòi tiền nhà NK
12
Trong trường hợp hàng đến trước bộ chứng từ thì NH phát hành hay được yêu
cầu chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy bộ chứng từ. Nếu
không có sự chấp nhận trước của người NK về việc hoàn trả, thì NH phát hành sẽ gặp
rủi ro khi bộ chứng từ có sai sót, khi đó nhà NK không chấp nhận và NH sẽ không truy
hoàn được tiền từ nhà NK.
NH phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo quy định
của L/C ngay cả trong trường hợp nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản do
kinh doanh thua lỗ.
Nếu trong L/C NH phát hành không quy định bộ vận đơn đầy đủ thì một người
NK có thể lấy được hàng hóa chỉ cần xuất trình một phần của bộ vận đợn, trong khi đó
người trả tiền hàng hóa lại là NH phát hành theo cam kết của L/C
Đối với ngân hàng chiết khấu, thời gian trì hoãn thanh toán càng dài ngân hàng bị
chiếm dụng vốn càng lâu.
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Rủi ro khi nhà nhập khẩu không nhận được hàng hóa đúng như đơn đặt hàng.
Tình trạng này xảy ra do người xuất khẩu lợi dụng tính độc lập giữa L/C và hợp
đồng thương mại. Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào
bộ chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hóa. Ngân hàng chỉ
kiểm tra sự trùng khớp bề ngoài của bộ chứng từ với L/C, chứ không chịu trách nhiệm
về tính chất bên trong của chứng từ, cũng như chất lượng và số lượng hàng hóa.
Trường hợp này, nhà nhập khẩu vẫn phải hoàn trả đầy đủ tiền đã thanh toán cho ngân
hàng phát hành.
Rủi ro khi ngân hàng thanh toán cho bộ chứng từ có sai sót
Rủi ro có thể xảy ra với người nhập khẩu, nếu ngân hàng xác nhận hay một ngân
hàng được chỉ định khác mắc sai lầm khi thanh toán cho một bộ chứng từ có sai sót,
sau đó ghi nợ ngân hàng phát hành L/C. Nếu ngân hàng mắc sai lầm lại do người nhập
khẩu chỉ định thì ngân hàng mở có quyền truy hoàn số tiền đã bị ghi nợ.
Rủi ro đối với người xuất khẩu
Rủi ro do nhà xuất khẩu không xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo
Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng phát hành đứng ra
cam kết thanh toán cho người bán khi họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với các
điều khoản của L/C. Trong khi đó để bảo đảm việc giao hàng theo đúng quy định của
hợp đồng thương mại, L/C thường phải bao gồm nhiều điều khoản rất chi tiết và khắt
khe. Do vậy, rủi ro sẽ xảy ra với nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình bộ chứng từ không
phù hợp với L/C thì mọi khoản thanh toán hoặc chấp nhận có thể đều bị từ chối, và
nhà xuất khẩu phải xử lý hàng hóa như dỡ hàng, lưu kho cho đến khi vấn đề được giải
quyết hoặc phải tìm người mua mới, bán đấu giá hay chở hàng quay về nước. Nhà xuất
khẩu phải chịu các chi phí như lưu tàu quá hạn, phí lưu kho và mua bảo hiểm cho hàng
húa….trong khi đó không biết rõ lập trường của nhà nhập khẩu là sẽ đồng ý hay từ
chối nhận hàng vì lý do bộ chứng từ sai sót.
tệ và đồng nội tệ.
Đối với ngân hàng
Khi đồng nội tệ giảm giá, ngân hàng sẽ phải mất thêm một khoản tiền bù vào
mức giảm đó. Bên cạnh đó, nếu trạng thái ngoại hối của ngân hàng không tốt, một mặt
ngân hàng sẽ không đáp ứng được nhu cầu mua ngoại tệ của khác hàng, mặt khác bản
thận ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn trong quá trình thanh toán cho ngân hàng. Thiệt
15
hại xảy ra có thể về mặt tài chính vì ngân hàng phải đi vay ngoại tệ của ngân hàng
khác, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng trong hoạt động thanh
toán nói riêng, hoạt động ngân hàng nói chung.
Đối với nhà nhập khẩu
Khi hàng hóa về, cho dù những mặt hàng có giá bán cạnh tranh hay không thì
việc tỷ giá trượt mạnh sẽ khiến nhà nhập khẩu có thể từ chối nhận hàng vì lợi nhuận
giảm hoặc bị lỗ
Đối với nhà xuất khẩu
Rủi ro tỷ giá xảy ra ngược lại với hai trường hợp trên. Giả sử đơn vị tiền tệ của
nước nhà XK là một ngoại tệ khác (bản tệ) và phải thông qua một đơn vị tiền tệ mạnh
khác được kí kết trong HĐTM. Trong tương lại, vì một yếu tố nhảy cảm nào đó khiến
đồng bản tệ bị trượt giá, ảnh hưởng tới doanh thu dự kiến của nhà XK
1.2.2.4. Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức là rủi ro khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa
vụ của mình, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của các bên còn lại.
Về phía nhà XK, họ có thể lợi dụng vào tính độc lập giữa bộ chứng từ thanh
toán và tình hình giao hàng thực tế để lập ra bộ chứng từ giả mạo phù hợp với L/C
nhằm đòi tiền hàng.
Về phía nhà NK, khi có cơ hội kinh doanh đã mất hay do có mối hàng khác
hoặc do tình hình trên thị trường hàng hóa có những biến động bất lợi thì họ có thể dựa
vào những sai sót dù rất nhỏ của bộ chứng từ để không hoặc kéo dài thời gian trả tiền
khi không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng thậm chí nhằm chiếm dụng vốn của ngân
hàng.