nâng cao chất lượng nguồn tiền gửi tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần sài gòn – thƣơng tín chi nhánh đống đa - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN
TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN – THƢƠNG TÍN
CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN TRÀ MY
MÃ SINH VIÊN

: A16433
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH–NGÂN HÀNG
: Tài chính – Ngân hàng HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tập thể các nhà giáo khoa Kinh tế -
Quản lý trường Đại học Thăng Long, những người đã tận tâm truyền đạt những kiến
thức nền tảng cho em trong suốt những năm học tập tại trường. Đặc biệt em xin gửi lời
cảm ơn tới thầy cô giảng dạy bộ môn Ngân hàng thương mại tại khoa quản lý đã giúp
em có có được niềm yêu thích với bộ môn và mong muốn lựa chọn lĩnh vực này để
viết luận văn. Em vô cùng biết ơn cô giáo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thúy, là người đã dành
cho em sự giúp đỡ trực tiếp và hết sức quý báu từ việc định hướng, triển khai cho tới
khi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các anh chị cán bộ tại bộ phận huy
động vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn - Thương Tín chi nhánh Đống
Đa đã tạo mọi điều kiện hướng dẫn và nhiệt tình giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình
thực tập tại đây để hoàn thành khóa luận này.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, nhà trường và bạn bè đã ủng hộ,
động viên và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong quá trình
làm khóa luận để em có thể hoàn thành tốt công việc học tập của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Nguyễn Trà My
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG
TỪ TỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI 1
1.1
Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại 1
1.2
Nguồn vốn tiền gửi của Ngân hàng thƣơng mại 1
1.2.1
Các hình thức huy động nguồn tiên gửi 1
1.2.1.1 Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán) 2
1.2.1.2 Tiền gửi có kỳ hạn (Time deposit) 3
1.2.1.3 Tiền gửi tiết kiệm (Saving deposit) 4
1.3
Đặc điểm nguồn vốn tiền gửi của Ngân hàng thƣơng mại 5
1.4
Vai trò của nguồn vốn tiền gửi đối với Ngân hàng thƣơng mại 6
1.4.1

1.6.2.2 Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng 16
1.6.2.3 Môi trường kinh tế xã hội 16
1.6.2.4 Môi trường pháp lý 17
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG NGUỒN TIỀN GỬI TẠI NGÂN
HÀNG SÀI GÒN- THƢƠNG TÍN CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA.
19
2.1
KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG SÀI GÒN - THƢƠNG TÍN CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA. 19
2.1.1
Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu và tổ chức ngân hàng Sài Gòn-
Thương Tín chi nhánh Đống Đa. 19
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Saì Gòn – Thương
Tín chi nhánh Đống Đa. 19
2.1.1.2 Thành tựu đạt được 20
2.1.2
Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Sài Gòn – Thương Tín chi nhánh Đống Đa. 21
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Sài Gòn – Thương Tín chi nhánh Đống
Đa
21
2.1.2.2 Các sản phẩm dịch vụ 22
2.2
Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Sài Gòn – Thƣơng Tín chi
nhánh Đống Đa 23
2.2.1
Công tác huy động vốn 25
1.1.2. Hoạt động sử dụng vốn (chủ yếu là cho vay) 27
2.2.2
Các hoạt động kinh doanh khác 29
2.3

ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN – THƢƠNG TÍN CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA 50
3.2
ĐỊNH HƢỚNG NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƢƠNG TÍN CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA 51
3.3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƢƠNG TÍN CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA 54
3.3.1
Chính sách đối với từng loại đối tƣợng khách hàng 54
3.3.1.1 Đối với dân cư. 54
3.3.1.2 Đối với các tổ chức kinh tế 54
3.3.1.3 Đối với các tổ chức tín dụng khác. 55
3.3.2
Có chính sách thích hợp trong việc khuyến khích khách hàng mở và
sử dụng tài khoản tại ngân hàng. 55
3.3.3
Đa dạng hóa và nâng cao dịch vụ Ngân hàng 56
3.3.4
Gắn liền huy động vốn với sử dụng vốn 57
3.3.5
Tăng cƣờng công tác Marketing trong tất cả các mảng hoạt động của
ngân hàng 58
3.3.6
Nâng cao vị thế và uy tín của ngân hàng 59
3.3.7
Xây dựng trụ sở và trang bị hệ thống máy móc thiết bị tạo ra hình

Now
Negotiable order of withdrawal account
NHTW
Ngân hàng trung ương
NHNN
Ngân hàng nhà nước
TCKT
Tổ chức kinh tế
TCTD
Tổ chức tín dụng
SacomBank
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Thương Tín
VTG
Vốn tiền gửi


LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại được ví như là hệ thần kinh trung ương của nền kinh tế, là
dấu hiệu báo trước trạng thái sức khoẻ của nền kinh tế. Các ngân hàng mạnh, nền kinh
tế mới mạnh. Ngược lại, các ngân hàng suy yếu, nền kinh tế tất sẽ yếu kém. Thậm chí,
nếu ngân hàng đổ vỡ, phá sản nền kinh tế sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp
đổ. Đối với một tổ chức kinh doanh tiền tệ là Ngân hàng mà nói, hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và cho vay từ số tiền huy động được,
đồng thời thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác thì vai trò nguồn vốn càng trở nên đặc
biệt quan trọng. Bên cạnh đó, các ngân hàng hiện nay đang trong một cuộc chạy đua
khốc liệt- cạnh tranh về vốn, nguồn nhân lực, chất lượng dịch vụ và công nghệ, nhằm
gia tăng hiệu quả hoạt động, gia tăng thị phần, tối đa hóa lợi nhuận. Để duy trì hoạt
động và phục vụ cho mục đích kinh doanh, ngân hàng cần một lượng vốn rất lớn.
Nguồn vốn các ngân hàng huy động được xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng
nguồn vốn chủ yếu vẫn là nguồn tiền gửi của tổ chức kinh tế và dân cư. Vấn đề huy
động vốn tiền gửi này sao cho hiệu quả luôn là vấn đề khiến các nhà quản trị ngân
hàng phải đau đầu, nhất là trong tình hình chính trị và kinh tế thế giới có nhiều bất ổn
như hiện nay đã tác động đến tâm lý và thói quen tiêu dùng của người gửi tiền và gây
những ảnh hưởng xấu đến công tác huy động vốn của ngân hàng.
Sau quá trình đi thực tập, tìm hiểu và nghiên cứu em nhận ra rằng công tác huy
động nguồn vốn tiền gửi tại Chi nhánh Ngân hàng Sài Gòn – Thương Tín Đống Đa là
một yêu cầu cấp thiết bởi vì hoạt động này tại đây còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng
được đầy đủ nhu cầu cũng như đòi hỏi của khách hàng, chưa khai thác được nguồn
vốn tiềm tàng trong nền kinh tế, nguồn vốn tiền gửi trong thời gian dài cho đầu tư phát
triển còn thiếu. Được sự giúp đỡ của cán bộ, nhân viên ngân hàng cùng với sự hướng

- Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn tiền gửi tại ngân hàng thương mại cổ
phần Sài Gòn – Thương Tín chi nhánh Đống Đa.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn tiền gửi tại ngân hàng thương
mại cổ phần Sài Gòn – Thương Tín chi nhánh Đống Đa. CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN VỐN HUY
ĐỘNG TỪ TỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại
Khi xét về khái niệm ngân hàng thương mại, các chuyên gia kinh tế thường dựa
vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết
hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.
Các quốc gia trên thế giới thường khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,
phong tục tập quán. Vì vậy, chính sách kinh tế của các quốc gia là khác nhau, nên tính
chất và mục đích hoạt động của các ngân hàng trên thị trường tài chính cũng có sự
khác biệt tuỳ theo đặc điểm của từng quốc gia.
Thomas P.Fitch cho rằng: “Tổ chức ngân hàng là một Công ty nhận tiền gửi,
thực hiện cho vay, thanh toán séc và thực hiện các dịch vụ liên quan cho công
chúng,…NHTM đầu tư quỹ từ các người gửi tiền để cho vay”. ( Thomas P.Fitch,
Dictionary of Banking Terms, Barron’s Education Series, Inc, 1997).
Peter S.Rose đưa ra một khái niệm mới về ngân hàng: “ Ngân hàng là một loại
hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (Peter S.Rose, Commercial
Bank Management, Irwin, 1999)
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã nói: “ngân hàng thương mại là
những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó
cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam, theo Luật các TCTD năm 2010, có khái niệm: “ngân hàng thương

- Tài khoản séc : Đây là dạng tài khoản tiền gửi có khả năng phát hành séc phổ
biến nhất. Ban đầu ( từ những năm 1970 trở về trước), luật các nước không cho phép
trả lãi cho loại tiền này, nhưng về sau thì được trả lãi nhưng rất thấp. Lý do cấm việc
trả lãi là nhằm hạn chế việc NHTM dùng tiền gửi dạng này để đầu tư hoặc cho vay vào
những thương vụ có thời hạn cố định, dễ gây rủi ro về thanh khoản cho hệ thống ngân
hàng vì đặc tính của loại tiền gửi này à không kỳ hạn. Mặt khác, điều này giúp tránh
được sự cạnh tranh để thu hút tiền gửi giữa các ngân hàng sẽ dẫn đến việc nâng cao lãi
suất. Có hai loại tài khoản séc là tài khoản séc của doanh nghiệp và tài khoản séc của
cá nhân.
- Tài khoản lệnh rút tiền có thể chuyển nhượng (viết tắt là Now-Negotiable order
of withdrawal account). Về bản chất, đây là một dạng tài khoản tiền gửi cho phép phát
hành séc nhưng được hưởng lãi suất cao hơn tài khoản séc thông thường. Tài khoản
Now ra đời ở Mỹ năm 1972 nhằm tránh quy định của Mỹ lúc đó là không cho phép
các Ngân hàng được trả lãi cho loại tiền gửi phát hành séc. Để lách luật các Ngân hàng
Mỹ đã sáng tạo ra Now, loại tài khoản này không được ký phát hành Séc, nên các
Ngân hàng Mỹ có thể trả lãi cho nó; nhưng vì các Ngân hàng Mỹ lại cho phép chủ tài
khoản Now được chuyển nhượng lệnh rút tiền của tài khoản này, nên lệnh rút tiền của
tài khoản Now có tác dụng như séc trong thanh toán. Từ sau năm 1980, Mỹ đã bãi bỏ
quy định cấm trả lãi cho tiền gửi phát hành séc, nhưng tài khoản Now vẫn còn tồn tại
chi tới ngày nay. Những người gửi tiền vào tài khoản mong muốn vừa được hưởng lãi

2
cao, vừa có thể thanh toán khi cần. Tuy vậy, các lệnh thanh toán này không thể tiện lợi
như séc. Dạng biến thể của tài khoản Now cao cấp là Super- Now account.
- Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ ( MMDAs – Money Market Deposit
Account). Đây là dạng tài khoản ra đời ở Mỹ năm 1982 nhằm giúp cho các Ngân hàng
cạnh tranh với các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ, do có điều luật cho phép các cổ
đông của các quỹ này được phép ký phát hành séc dựa trên thu nhập của mình từ quỹ.
Tiền gửi loại này được dùng để đầu tư vào thị trường tiền tệ và cho phép những người
chủ tài khoản được phép ký phát séc. Tiền gửi tài khoản này không phải dự trữ bắt

Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước thờ i hạn, song để
cạnh tranh thu hút khách hàng, các NHTM vẫn cho phép rút trước hạn. Tuy nhiên,
người gửi tiền rút trước hạn sẽ phải chịu một khoản phạt, chẳng hạn chỉ được hưởng
lãi suất bằng lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi, tùy theo
quy định của từng ngân hàng trong từng thời kỳ.
Ở các nước phát triền, tiền gửi có kỳ hạn thường dưới dạng các chứng chỉ tiền
gửi ( Certificate of deposit – CD), còn ở Việt Nam tiền gửi có kỳ hạn thường dưới hai
dạng:
- Tiền gửi có kỳ hạn theo tài khoản
- Tiền gửi có kỳ hạn dưới hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng. Trong hình
thức này, ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn nhằm mục đích đã
định, ví dụ để đầu tư cho một dự án,
1.2.1.3 Tiền gửi tiết kiệm (Saving deposit)
Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích
hưởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gửi được ngân
hàng công bố sẵn. Các kỳ hạn thường là 1,3,6,9,12 tháng hoặc trên 1 năm (18,24
tháng…). Hình thức phổ biến và cổ điển nhất của tiền gửi tiết kiệm là loạt tiền gửi tiết
kiệm có sổ. Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho người gửi tiền một cuốn sổ dùng để ghi
nhận các khoản tiền gửi và rút tiền ra. Quyển sổ này đồng thời có giá trị như một
chứng thư xác nhận về khoản tiền đã gửi. Ngoài ra, còn có những hình thức khác như
chứng chỉ tiết kiệm, trái phiếu tiết kiệm.
Ở Việt Nam tiền gửi tiết kiệm gồm 3 loại sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi
tiền có thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân
hàng. Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi này nhưng rất thấp. Loại tiền gửi này gần
giống với tiền gửi không kỳ hạn, chỉ khác là nó luôn được hưởng lãi, nhưng đổi lại
không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Gửi tiền dạng này nhằm
đảm bảo an toàn cho khoản tiền và dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu đột xuất trong
thời gian ngắn đồng thời được hưởng một chút lãi dù thấp.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố định

dùng làm vốn kinh doanh. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi của NHTM có những đặc
điểm:
Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chỉ được quyền sử dụng nó trong
một thời gian nhất đinh, còn quyền sở hữu nó thuộc về những người gửi tiền. Do vốn
huy động luôn biến động nên khi sử dụng Ngân hàng phải luôn dự trữ tiền tệ ở một tỉ
lệ hợp lý để đảm bảo chi trả cho nhu cầu tiền tệ của Khách hàng.
Đặc điểm nguồn vốn từ tiền gửi của các doanh nghiệp là nguồn vốn có thời hạn
ngắn và thường xuyên biến động nên càng thu hút được tiền gửi của nhiều doanh
nghiệp thì sẽ tạo ra độ ngưng đọng vốn càng lớn và hạn chế được sự ổn định.
Hoạt động huy động tiền gửi chính là hoạt động Ngân hàng mua quyền sử dụng
các khoản vốn của khách hàng thông qua hình thức tiền gửi trong một thời gian nhất
định và có trách nhiệm hoàn trả số vốn đó theo đúng kế hoạch.
Thành phần chủ yếu của nguồn vốn huy động từ tiền gửi bao gồm: Tiền gửi của
các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp được chia làm 2 loại: Tiền gửi
không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.

5
Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu
cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn. Tính an toàn được đảm bảo cho
khách hàng, khách hàng không phải giữ tiền mặt, giao dịch thuận tiện, không phải
kiểm đếm tiền khi thanh toán và nhận thanh toán, tránh được rủi ro về tiền giả và tiết
kiệm thời gian.
Ngân hàng nhận loại tiền gửi rất đa dạng như nhận bằng VND hay USD, EURO
hoặc đồng tiền của nhiều nước khác. Do hoạt động chủ yếu của NHTM là kinh doanh
tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng nên tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc. Thế
nên chi phí tiền gửi sẽ thường cao hơn lãi trả tiền gửi.
Tiền gửi đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm với các biến động về lãi
suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác.
Việc kinh doanh tiền tệ được thể hiện chủ yếu qua việc huy động tiền gửi nhàn
rỗi của các cá nhân, doanh nghiệp tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng đến nguồn vốn

lần… Do đó, nguồn vốn huy động từ tiền gửi đóng vai trò rất quan trọng trong tổng
nguồn huy động của Ngân Hàng.
1.4.1.1 Nguồn vốn tiền gửi là nguồn chính trong tổng nguồn vốn nợ để phục vụ
cho hoạt động kinh doanh ngân hàng.
NHTM đã trở thành một cây cầu nối tin cậy, tạo điều kiện cho người có nguồn
vốn nhàn rỗi muốn cho vay, vì họ không phải quan tâm đến việc điều tra khả năng trả
nợ của người vay cũng như việc thu hồi khoản nợ. Đồng thời đối với người đi vay thì
vốn đầu tư của họ được tập trung về một mối, thay vì phải vay vốn từ nhiều nguồn với
các chi phí giáo dịch, chi phí vốn khác nhau, họ có thể vay từ một nơi với một số tiền
lớn trong một thời gian ngắn với chi phí thấp hơn.
Để Ngân hàng có thể thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh thì cần phải huy
động vốn từ các nguồn như dân cư và tổ chức kinh tế. Vốn huy động giúp NHTM chủ
động được trong kinh doanh. Một Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu
các hoạt động của nó hoàn toàn phụ thuộc vào vốn tự có và vốn vay( vốn vay NHNN,
các NHTM và các tổ chức tài chính khác). Nguồn vốn hay động dồi dào sẽ giúp Ngân
hàng tự quyết định trong hoạt động kinh doanh.
Không chỉ với NHTM mà bất cứ doanh nghiệp nào kinh doanh trong lĩnh vực gì
thì cũng đều cần có vốn mới có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh . Trong
NHTM, tiền gửi là là cơ sở để có một nguồn vốn vững chắc, là cơ sở để NHTM kiến
thiết các hoạt động kinh doanh của mình. Chinh vì vậy có thể nói rằng: Vốn là điểm
bắt đầu trong chu kỳ kinh doanh của NHTM. Do đó, ngoài nguồn vốn pháp lý cần thiết
ban đầu thì NHTM phải đẩy mạnh công tác tăng trưởng huy động vốn tiền gửi trong
suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình
1.4.2 Đảm bảo khả năng thanh toán của Ngân hàng.
Huy động tiền gửi tốt còn có tiền để thúc đẩy NHTM phát triển được các sản
phẩm, dịch vụ khác. Nguồn vốn huy động được từ tiền gửi đóng vai trò quan trọng
trong quyết định năng lực thanh toán của ngân hàng và đảm bảo uy tín của Ngân hàng
trên thị trường. Khi công tác huy động tiền gửi của Ngân hàng đảm bảo được cho
nguồn huy động ổn định, đủ khả năng thanh toán cho khách hàng kể cả yêu cầu số
lượng lớn, thì ngân hàng sẽ chủ động trong thanh toán. Khả năng thanh toán của ngân

động tín dụng nên chưa đựng rủi ro cao.
Bên cạnh đó giúp khách hàng tiết kiệm. Khách hàng có thể lựa chọn được hình
thức tiền gửi phù hợp. Giúp khách hàng tăng thu nhập qua việc trả lãi của Ngân hàng.
Khách hàng còn có được nhiều tiện ích trong thanh toán, an toàn thanh toán, tốc
độ thanh toán nhanh hơn. Ngoài ra Khách hàng còn có thể được bảo hiểm số tiền gửi
của mình phòng những trường hợp rủi ro khi gửi một số tiền lớn.
Với những vai trò quan trọng như vậy, ta co thể thấy nguồn vốn tiền gửi là không
thể thiếu trong hoạt động huy động vốn của NHTM. Do đó phải nâng cao chất lượng
hoạt động huy động tiền gửi Ngân hàng.

8
1.5 Chất lƣợng nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng thƣơng mại
1.5.1 Khái niệm
Nguồn vốn tiền gửi được coi là chất lượng khi nó thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ
và phát huy tốt vai trò trong hoạt động kinh doanh của NHTM, hay nói cách khác
nguồn vốn tiền gửi được coi là chất lượng khi lượng vốn tiền gửi được coi là lớn nhất
với chi phí bỏ ra là thấp nhất.
Chất lượng nguồn vốn tiền gửi là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm
bảo thực hiện nhiệm vụ của NHTM có hiệu quả cao với chi phí nhỏ nhất. Có nghĩa là
về mặt lượng chất lượng nguồn vốn tiền gửi biểu hiện qua kết quả thu được và chi phí
bỏ ra; về mặt chất nó phản ánh năng lực và trình độ quản lý của Ngân hàng.
1.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng thƣơng
mại
1.5.2.1 Các chỉ tiêu định tính
Chất lượng của nguồn vốn tiền gửi được đánh giá qua khả năng đáp ứng nhu cầu
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng,của nền kinh tế. Khả năng tạo nên nguồn vốn
cần thiết, kịp thời cho) ngân hàng. Nguồn vốn tiền gửi huy động được đảm bảo để
ngân hàng thực hiện chức năng của mình trong nền kinh tế, đồng thời cân đối được lợi
ích cấp tín dụng cho khách hàng và chi phí huy động nguồn vốn tiền gửi đó của ngân
hàng, qua đó hạn chế thấp nhất các rủi ro xảy ra để khách hàng yên tâm gửi tiền vào

bên mà cốt yếu là phải đảm bảo lợi ích của Ngân hàng.
Để đảm bảo về sự biến động về lãi suất thì biện pháp đa dạng hóa lãi suất với
mỗi hình thức huy động vốn là giải pháp cần thiết cho Ngân hàng. Như vậy với mỗi
khoản tiền gửi có kỳ hạn khác nhau, loại tiền khác nhau, nhu cầu khác nhau thì Ngân
hàng phải áp dụng các mức lãi suất khác nhau dựa trên nguyên tắc lãi suất tăng theo
thời hạn, đảm bảo được nguyên tắc giá trị theo thời gian của đồng tiền.
Theo đó, tất cả các NHTM đều phải cố gắng đưa ra các giải pháp tốt nhất có thể
nhằm ổn định được lãi suất huy động, từ đó ổn định được lãi suất cho vay và giảm
thiểu rủi ro về lãi suất. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi,
các NH đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵ sàng hi
sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép NHTM sử dụng tạm thời để kinh doanh.
Trong lịch sử đã có những kỉ lục về lãi suất, chẳng hạn Ngân Hàng của Hy Lạp đã trả
lãi lên đến 16% một năm để thu hút các khoản tiền gửi tiết kiệm nhằm mục đích cho
vay các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hoặc gấp 3 lãi suất tiết kiệm. Điều
đấy cho thấy lãi suất huy động là yếu tố rất cần thiết để mỗi Ngân hàng huy động được
nguồn tiền từ bên ngoài.
Các NHTM thường tìm mọi cách để thu hút tiền gửi của người dân, bởi vì đây là
nguồn tiền có tính ổn định và ít rủi ro. Vì thế mức lãi suất của mỗi Ngân hàng thường
thay đổi linh hoạt và khác nhau. Lãi suất là công cụ hữu hiệu nhất để NHTM hấp dẫn
khách hàng, hiện tại hầu hết các Ngân hàng đều áp dụng lãi suất bậc thang, gửi càng
nhiều thì tiền lãi càng cao nhưng tỉ lệ chệnh lệch cũng chưa tới 1%
Mục đích của người dân hay của các tổ chức gửi tiền tại Ngân hàng là khác nhau.
Tuy nhiên họ đều có một quan điểm chung là muốn có được lợi tức lớn nhất. Do đó,
để có một nguồn vốn huy động với chất lượng cao thì Ngân hàng phải có một chiến
lược tốt để thu hút được nhiều khách hàng nhất, huy động được vốn quy mô lớn cũng
như đảm bảo được an toàn.

10
Chi phí khác:
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, trong quá trình hoạt động huy động tiền gửi còn có

Tỷ trọng vốn huy động từ tiền gửi trên tổng nguồn vốn huy động được của Ngân
hàng sẽ cho thấy mức độ tác động và khả năng tạo vốn của NHTM thông qua hoạt
động huy động vốn. Chỉ số này có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khả năng ảnh hưởng
của nguồn huy động đối với hiệu quả hoạt động tạo nguồn vốn của NHTM.

11
Chỉ số càng cao, chứng tỏ mức độ huy động vốn bằng nguồn huy động từ tiền
gửi chiếm tỷ trọng lớn, điều đó có nghĩa là một sự thay đổi của lượng huy động tiền
gửi sẽ ảnh hưởng lớn đến lượng vốn mà NHTM huy động được.
Ngược lại, nếu chỉ số này thấp có nghĩa là mức huy động vốn bằng tiền gửi
không lớn, khi đó sự thay đổi của nguồn huy động tiền gửi không làm ảnh hưởng
nhiều tới tổng nguồn vốn huy động của NHTM.
Trong hoạt động Ngân hàng thì nguồn vốn huy động phải đảm bảo đủ lớn để sử
dụng tong hoạt động tín dụng và trong các hoạt động khác của Ngân hàng. Với tỷ
trọng vốn huy động tiền gửi lớn, NHTM sẽ giảm được chi phí sử dụng các nguồn vốn
khác, mà thông thường các nguồn vốn đó có chi phí sử dụng rất cao, chỉ được dùng để
bù đắp khi nguồn vốn thiếu hụt.
Tỷ trọng nguồn tiền gửi ngắn hạn trên tổng nguồn vốn huy động
Nguồn tiền gửi Ngắn hạn được xem là nguồn tiền gửi có độ biến động cao. Do đó
nó kéo theo rủi ro cao hơn so với các nguồn tiền gửi khác. Điều đó có nghĩa là tỷ trọng
huy động vốn tiền gửi ngắn hạn trên tổng vốn huy động thể hiện mức độ rủi ro của
tổng vốn huy động. Các NHTM phải nắm bắt sự biến động của nguồn vốn sao cho phù
hợp. Trong phần lớn các trường hợp thì các nguồn huy động từ tiền gửi ngắn hạn
nhưng có mức ổn định cao vẫn được Ngân hàng đầu tư có hiệu quả và an toàn khi sử
dụng vốn vào mục đích dài hạn như cho vay trung và dài hạn.
Tỷ trọng nguồn tiền gửi trung và dài hạn trong tổng nguồn vốn huy động
Tỷ trọng này thể hiện mức độ ổn định của nguồn vốn huy động từ tiền gửi. Từ đó
NHTM có thể tính toán sự ổn định nguồn vốn huy động được.
Tỷ trọng nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn huy động
Tỷ trọng này trong các NHTM thường lớn do nguồn tiền gửi này có lợi thế về chi

chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
 Nguồn tiền gửi lớn hơn nhu cầu sử dụng vốn
Trong trường hợp này thì rủi ro xảy ra vì NHTM đã không đầu tư và không cho
vay được. Ngân hàng phải trả lãi suất cho số vốn huy động trong khi lại không thể thu
được lãi suất từ việc sử dụng vốn đó. Như vậy, NHTM chắc chắn sẽ bị lỗ vốn. Giải
pháp được đặt ra ở đây là NHTM cần tìm cách đầu tư, cho vay hoặc chuyển số vốn đã
huy động được lên NHTW
 Nguồn tiền gửi nhỏ hơn nhu cầu sử dụng vốn
Nếu tình hình kinh doanh của NHTM rơi vào trường hợp này có nghĩa là NHTM
không huy động được vốn, và không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn Biện pháp tốt
nhất là tìm cách tăng nguồn vốn huy động, tăng vòng quay vốn. Bên cạnh đó nhanh
chóng thu hồi các khoản nợ đến hạn, giảm rủi ro đến mức tối thiểu.
Có thể nói, cân đối giữa vốn huy động được với nhu cầu sử dụng vốn là điều kiện
cần thiết để NHTM tồn tại và phát triển.
1.6 Các nhân tố ảnh hƣởng đến nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng thƣơng
mại
1.6.1 Các nhân tố có thể kiểm soát đƣợc
1.6.1.1 Chiến lược sử dụng vốn của ngân hàng
Mỗi một NHTM sẽ căn cứ vào quy mô, đặc điểm và môi trường kinh doanh của
mình sẽ đưa ra một chiến lược sử dụng vốn phù hợp và hiệu quả. Do đó, nguồn vốn
tiền gửi sẽ căn cứ vào chiến lược sử dụng vốn để đặt ra các mục tiêu cho hoạt động thu
hút tiền gửi.

13
1.6.1.2 Lãi suất huy động
Lãi suất huy động là chi phí vốn mà ngân hàng phải bỏ ra để thu hút tiền gửi, lãi
suất tác động trực tiếp đến lượng vốn huy động của Ngân hàng. Vì vậy trên cơ sở lãi
suất cơ bản do NHTW đưa ra, các NHTM phải tính toán thật kỹ để đưa mức lãi suất
phù hợp với tình hình thị trường đồng thời phải căn cứ vào hoạt động sử dụng vốn để
đem lại lợi nhuận lớn nhất cho NHTM.

đúng đăn, kịp thời, có luên quan đến hoạt động huy động tiền gửi . Thông tin có thể

14
thu hút được từ những nguồn sẵn có ở ngân hàng (hồ sơ vay, nghiên cứ phân tích của
các cán bộ tín dụng…), từ khách hàng, từ các cơ quan chuyên về thông tin, đài báo …
Số lượng và chất lượng của thông tin được liên quan trực tiếp đến phân tích, nhận định
tình hình nhu cầu thị trường, khách hàng.
Vì vậy thông tin càng đầy đủ, nhanh chóng và chính xác thì khả năng huy động
tiền gửi khách hàng càng có chất lượng và hiệu quả.
1.6.1.6 Trình độ công nghệ
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa hoạc công nghệ như hiện nay, NHTM cũng
là một tổ chức đi đầu trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học vào hoạt động của
mình. Với việc sử dụng khoa học công nghệ, hoạt động của Ngân hàng trở nên an toàn
hơn, chính xác hơn, nhanh chóng hơn, chất lượng dịch vụ tốt hơn, không những vậy
những sản phẩm dịch vụ mới được ra đời trên nền tảng của sự hỗ trợ bởi công nghệ
hiện đại. Do đó, khả năng thu hút tiền gửi của NHTM đã được tăng lên, đặc biệt là tiền
gửi giao dịch.
1.6.1.7 Khả năng quản lý nội bộ trong ngân hàng.
Để lãnh đạo được một NHTM cần có một cái nhìn toàn cảnh về tình trạng hoạt
động của mình nhằm duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh đang được xúc
tiến phù hợp với các chính sách, đáp ứng được các mục tiêu đề ra.
Ngân hàng cần quản lý, kiểm soát được chính ách tín dụng, chính sách thanh
toán, kinh doanh, khách hàng, các thủ tục và quy trình nghiệp vụ có liên quan đến hoạt
động huy động tiền gửi. Hơn nữa, NHTM cũng phải kiểm soát định kỳ, đột xuất để
phát hiện được ra nguyên nhân sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện các nghiệp
vụ chính sách huy động vốn, tổ chức hạch toán ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng huy
động tiền gửi để có biện pháp phù hợp xử lý kịp thời.
Để có thể kiểm soát nội bộ một cách hiệu quả, NHTM cần có những cơ cấu tổ
chức hợp lý, cán bộ kiểm tra phải giỏi nghiệp vụ, trung thực và có chính sách thưởng
phạt nghiêm minh, đúng đắn.

động vốn, ví dụ như: tiết kiệm tích lũy bảo an, thì rất nhanh chóng các NHTM khác
cũng cho ra đời một sản phẩm tương tự để cạnh tranh.
Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày một trở lên quyết liệt
khi NH và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ. Các Ngân
Hàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí dịch vụ tư
vấn tài chính cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đây là những dịch vụ đang phải
đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các NHTM khác, các hiệp hội tín dụng. Áp lực
cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ tương lai.
Ngoài ra, địa bàn hoạt động của mỗi NHTM cung ảnh hưởng rất lớn đến huy
động tiền gửi.
1.6.2.3 Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác huy động tiền
gửi của một NHTM, đó là sự ổn định phát triển của nền kinh tế trong khu vực. Sản
xuất kinh doanh có phát triển, hàng hóa có phong phú dồi dào thì lượng tiền tệ trong
lưu thông mới lớn, lợi nhuận DN và thu nhập dân cư ca thì NHTM mới có thể huy
động được lượng tiền gửi có chất lượng tốt.

16
Dù cho công tác huy động tiền gửi tốt đến đâu đi chăng nữa mà trong hoàn cảnh
một nền kinh tế khủng hoảng và thụt lùi, sản xuất kinh doanh đình trệ, hàng hóa ế ẩm,
đời sống người dân khí khăn thì cũng không thể nào đạt được kết quả tốt.
Hơn hết mọi biến động về kinh tế chính trị ở nước ngoài đều có sự ảnh hưởng
đến người dân Việ Nam, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước và từ đó
ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi.
Ngoài ra hoạt động huy động tiền gửi của NHTM còn chịu ảnh hưởng từ các yếu
tố môi trường, thời tiết, dịch bệnh, bão lũ…
1.6.2.4 Môi trường pháp lý
NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ, do đó
NHTM chịu sự chi phối của chính sách do Chính phủ và NHTW quy định.
Một môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn thiện sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt

cơ bản về NHTM, các vấn đề thuộc về NHTM, vốn huy động từ tiền gửi…Luận văn
đã đưa ra các hình thức huy động tiền gửi của NHTM trong nền kinh tế thị trường và
các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động tiền gửi. Trên cơ sở nghiên cứu đó, luận
văn đưa ra những lý thuyết có khả năng áp dụng thực tiễn cao nhất, nhằm giúp người
đọc hiểu sâu sắc các vấn đề liên quan đến huy động tiền gửi của NHTM.
Để giải thích một cách dễ hiểu nhất cho đọc giả, luận văn sẽ tiếp tục tập tung
nghiên cứu vấn đề chủ đạo là thực trạng về chất lượng huy động tiền gửi tại Ngân
hàng Sài Gòn thương tín - Chi nhánh Đống Đa trong chương II.
18
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG NGUỒN TIỀN GỬI TẠI NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN- THƢƠNG TÍN -
CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA.
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG SÀI GÒN - THƢƠNG TÍN CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA.
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu và tổ chức ngân hàng Sài Gòn-

một trong những đơn vị trực thuộc ngân hàng Sacombank. Chi nhánh được thành lập
vào 08/07/2006 với tên gọi đầy đủ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn

19
Thương tín – Chi nhánh Đống Đa trên cơ sở kế thừa các hoạt động tín dụng của chi
nhánh cấp II Đường Thành (trực thuộc chi nhánh Hà Nội). Chi nhánh Đống Đa là một
chi nhánh cấp I trực thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
Trụ sở chính của chi nhánh tại số 360 Tây Sơn – Đống Đa – Hà Nội, địa bàn
hoạt động của chi nhánh chủ yếu tại các địa bàn: Đống Đa, Cầu Giấy, Từ Liêm và một

Trích đoạn Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Saì Gòn – Thương Thành tựu đạt được Hoạt động sử dụng vốn (chủ yếu là cho vay)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status