Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại ngân hàng phát triển nông thôn chi nhánh Đống Đa - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN MAI QUỲNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

NGUYỄN MAI QUỲNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS Đồng Xuân Ninh
HÀ NỘI – 2015
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có
sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên
cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin sử dụng trong Luận văn là có
nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Học viên
Nguyễn Mai Quỳnh

APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
DANH MỤC BẢNG BIỂU - SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của NHNo&PTNT chi nhánh
Đống Đa Error: Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố rất cần thiết, quyết định đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt như ngân hàng thương mại thì nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực có vị trí quan trọng hơn bao giờ hết.
Với nhận thức đó NHNo&PTNT chi nhánh Đống Đa đặc biệt chú trọng
tới nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhờ đó những thành công mà chi
nhánh đạt được là rất đáng kể.
Tuy nhiên, so với yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực của chi nhánh
vẫn được coi là thấp. Nếu như tình trạng này không sớm được cải thiện thì sự
phát triển bền vững của chi nhánh sẽ khó được đảm bảo.
Bởi vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi cấp bách
đối với chi nhánh.
Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò quan trọng trên, tác giả lựa chọn đề tài :
“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại NHNo&PTNT chi nhánh Đống
Đa”làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu và các câu hỏi đặt ra
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiến nghị với cơ quan chức
năng có thẩm quyền nhằm hỗ trợ chi nhánh.
Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ của luận văn là hệ thống hóa
những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực, nêu được thực
trạng chất lượng nguồn nhân lực và phân tích thực trạng nguồn nhân lực tại
NHNo&PTNT chi nhánh Đống Đa. Từ đó hoàn thiện các giải pháp nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực của chi nhánh Đống Đa.

2
Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực của
NHNo&PTNT chi nhánh Đống Đa.
Phân tích những nguyên nhân cơ bản liên quan đến chất lượng nguồn
nhân lực của chi nhánh để đáp ứng với yêu cầu đặt ra.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
của NHNo&PTNT chi nhánh Đống Đa.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và các phần khác. Luận
văn được kết cấu 3 chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NHTM
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NHNo&PTNT CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
NGUỒN NHÂN LỰC TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA NHTM
1.1 Sự cần thiết của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và một
số khái niệm cơ bản
3
1.1.1 Sự cần thiết của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, nguồn nhân lực
là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự phát triển của đất nước và sự sống
còn của các doanh nghiệp. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam ngày càng sâu rộng, thì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của
toàn xã hội trong đó có doanh nghiệp là tất yếu khách quan. Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực là một trong những nội dung trong chiến lược phát

và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi người dân,
thực hiện công bằng xã hội” [11;218-219]. Nhận định đó đã khẳng định con
người là chủ thể của sự phát triển và tạo mọi điều kiện cho con người phát
triển.
Vấn đề đặt ra là phát triển nguồn nhân lực phải đi đôi với sự phát triển
của ứng dụng khoa học công nghệ vào lao động, sản xuất. Đây là nội dung
đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu
chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và phát triển.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc đi tìm kiếm
nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Đáp ứng nhu cầu công việc cao
bởi xuất phát từ chỗ nguồn nhân lực không có trình độ, không được đào tạo bài
bản hoặc được đào tạo nhưng chưa cao, do đó lao động sau khi ra trường kiến
thức chuyên môn kém, khả năng thực hành chưa thành thạo, thiếu năng lực sáng
tạo, không đáp ứng được nhu cầu làm việc của các doanh nghiệp.
Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng, nguồn nhân lực dồi dào
nhưng thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, do đó ít có cơ hội và
điều kiện phát triển.
5
Theo các chuyên gia kinh tế và các nhà xã hội học, sự thiếu hụt lao
động có chất xám ở nước ta do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân đầu
tiên là do tình hình kinh tế - xã hội nước ta phát triển nhanh, nhất là từ sau đổi
mới, trong khi đó hệ thống GD&ĐT lại đổi mới quá chậm. Nền kinh tế đất
nước đã vận hành theo quy luật cung - cầu, cạnh tranh trong một sân chơi
chung với những luật chơi bắt buộc. Thế nhưng, hệ thống GD&ĐT vẫn còn
theo lối chủ quan, duy ý chí, lạc hậu, không theo sát, theo kịp với thực tiễn.
Chính sách đãi ngộ, sử dụng của Nhà nước chưa thỏa đáng ví dụ như:
Một sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường, vào làm việc trong một cơ quan
nhà nước, với mức lương khởi điểm chỉ khoảng 2 triệu đồng thì thật là khó
chấp nhận. Do đó, hiện tượng chảy máu chất xám ngày càng tăng. Nhân lực

và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh
vực mũi nhọn”[11;220-221]. Nhằm kế thừa, phát triển các nội dung từ các kỳ
Đại hội Đảng trước và khẳng định rõ hơn, nhân lực là vấn đề đặc biệt quan
trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ 6 về Phát triển nguồn nhân
lực khai mạc sáng 6/9/2014 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã
khẳng định rất rõ về tầm quan trọng của nguồn nhân lực: “Với vai trò và vị trí
qua trọng của mình, APEC cần tăng cường hơn nữa các hoạt động liên kết,
hợp tác trên cơ sở chia sẻ kinh nghiệm nhất là trong phát triển nguồn nhân
lực, khuyến khích sự năng động, sáng tạo và tăng cường kết nối con người.
Coi đó là những biện pháp quan trọng để tái cơ cấu, phục hồi, tăng trưởng
kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và phát triển con
người”[6;112-113].
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản
7
1.1.2.1 Khái niệm nhân lực
Nhân lực được hiểu là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm
cho con người hoạt động trong cuộc sống. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng
với sự phát triển của cơ thể con người và đạt đến một mức độ nào đó thì con
người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động.
V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể
nhân loại là công nhân, là người lao động”. Khi đặt con người là nhân tố trung
tâm của sự phát triển Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa
xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”[12;313].
Nhân lực có nghĩa rộng và nghĩa hẹp:
Nghĩa rộng: Nhân lực là dân số sống trong một quốc gia, khu vực, địa
phương, được đăng ký thường trú trên một địa phương nhất định.
Nghĩa hẹp: Nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động do pháp
luật quy định độ tuổi tham gia vào quá trình lao động, sản xuất.
Từ các quan điểm và nhận định trên, tác giả đi đến một nhận định chung về

tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng
và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[19]
Theo tác giả luận văn, có thể hiểu, nguồn nhân lực là tổng hòa các tiêu
chí bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực từ đó tạo nên năng lực bản thân mỗi
con người và được xã hội tiếp nhận vào quá trình lao động, tạo ra của cải vật
chất cho sự phát triển chung của xã hội.
Tóm lại nguồn nhân lực là một yếu tố đầu vào không thể thiếu được
của b
ất
kỳ doanh nghiệp, tổ chức nào - nếu thiếu yếu tố đầu vào này thì sẽ
không tồn tại
t
ổ chức hay doanh nghiệp. Bởi vậy cho nên chất lượng nguồn
nhân lực trong một doanh nghiệp sẽ phản ánh sự phát triển, vị trí của doanh
nghiệp trên thương trường ở hiện tại cũng như trong tương
lai
.
1.1.2.3 Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
9
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tiến bộ của khoa học
công nghệ do đó chất lượng nguồn nhân lực không ngừng tăng lên. Sự tăng lên
của chất lượng nguồn nhân lực cho phép nâng cao năng suất lao động, khối lượng
sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều, các hoạt động cung cấp dịch vụ ngày càng
thuận lợi. Nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng thấp sẽ dẫn đến năng suất lao
động thấp, do đó hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của xã
hội ngày càng cao.
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận
như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.v.v…
của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố
quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.

định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó “Hoạt động ngân hàng” là việc kinh
doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận
tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên.
Các loại hình NHTM được chia theo hình thức sở hữu:
- NHTM Nhà nước là NHTM trong đó Nhà nước 100% vốn điều lệ
- NHTM cổ phần là NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần
- NHTM 100% vốn nước ngoài là NHTM được thành lập với 100%
vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một ngân hàng nước
ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (ngân hàng mẹ). NHTM 100% vốn nước
ngoài được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên hoặc từ hai thành viên trở lên.
- NHTM liên doanh là NHTM được thành lập bằng vốn góp của Bên
trong nước (gồm một hoặc nhiều ngân hàng trong nước) và Bên nước ngoài
11
(gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
NHTM liên quan được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
từ hai thành viên trở lên.
1.2.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ
chức trong nền kinh tế, trong đó NHTM là trung gian về vốn trong nền kinh
tế, NHTM huy động để cho vay. Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi
tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là
những người cần bổ sung vốn, còn các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi
tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa,
dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ
chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ

bảo vệ lợi ích của người gửi tiền và toàn xã hội. Chất lượng danh mục cho
vay và đầu tư cũng như sự hợp lý về vốn chủ sở hữu của ngân hàng đều chịu
sự quản lý, giám sát và kiểm tra của những thanh tra ngân hàng nhà nước.
Ở Việt Nam, một ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) muốn thành
lập và hoạt động phải đảm bảo 5 tiêu chí: vốn điều lệ, số lượng cổ đông, tỷ lệ
sở hữu số vốn điều lệ, cách thức tổ chức và các vấn đề liên quan đến hoạt
động ngân hàng. Theo thông tư 09/2010/TT-NHNN ngày 26/3/2010 của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc cấp Giấy phép thành lập và hoạt
động ngân hàng TMCP. Thành lập mới ngân hàng cần ít nhất 100 cổ đông,
các tổ chức, cá nhân không được dùng vốn ủy thác, vốn vay của các tổ chức,
cá nhân khác để góp vốn thành lập ngân hàng và phải hoàn toàn chịu trách
13
nhiệm về tính hợp pháp của nguồn vốn góp. Một trong những điều kiện để
được cấp giấy phép thành lập ngân hàng TMCP là phải có tối thiểu 100 cổ
đông tham gia góp vốn thành lập; trong đó có tối thiểu 3 cổ đông sáng lập là
tổ chức có tư cách pháp nhân có thời gian hoạt động tối thiểu là 5 năm, có vốn
chủ sở hữu tối thiểu 500 tỷ đồng trong 5 năm liền kề năm nộp đơn đề nghị
thành lập ngân hàng (nếu cổ đông là doanh nghiệp) hoặc có tổng tài sản tối
thiểu 50.000 tỷ đồng, kinh doanh có lãi trong 05 năm liền kề và tỷ lệ nợ xấu
nhỏ hơn 2% tổng dư nợ tại thời điểm nộp đơn đề nghị góp vốn thành lập ngân
hàng (nếu cổ đông là NHTM)
Những điều kiện và sự quản lý chặt chẽ của chính phủ và ngân hàng
nhà nước đối với các NHTM góp phần hạn chế, tạo hàng rào ngăn cản sự ra
nhập ồ ạt của các doanh nghiệp vào lĩnh vực ngân hàng.
Sản phẩm của NHTM là các dịch vụ tài chính
Sản phẩm chính của các NHTM là cung cấp các dịch vụ tài chính như:
Mua bán ngoại tệ, nhận tiền gửi, cho vay, quản lý tài sản, cung cấp các tài
khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, bảo lãnh…
Các sản phẩm tài chính của ngân hàng với đặc tính là không có tính dị
biệt, khi một ngân hàng cho ra một sản phẩm tiền gửi, hay chương trình

vào cho hoạt động của ngân hàng, trong khi vốn chủ sở hữu của NHTM thì
chiếm tỷ trọng nhỏ, vì vậy ngân hàng phải huy động vốn từ các nguồn trong
nền kinh tế, một trong những nguồn quan trọng đó là các khoản tiền gửi
(thanh toán và tiết kiệm của khách hàng), nó luôn chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng nguồn vốn của ngân hàng. Các ngân hàng phải trả lãi cho tiền gửi như
phần thưởng cho khách hàng về việc khách hàng hi sinh nhu cầu chi tiêu
15
trước mắt để ngân hàng tạm thời sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
cho việc kinh doanh. Ngoài nhận các khoản tiền gửi là nguồn vốn chính thì
ngân hàng còn huy động vốn bằng cách đi vay các tổ chức tín dụng khác, các
tổ chức tài chính và vay ngân hàng Trung ương.
Hoạt động sử dụng vốn
- Cho vay
Là hoạt động cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho nhu cầu sản
xuất kinh doanh, tiêu dùng trên cơ sở thỏa mãn các điều kiện vay vốn của
ngân hàng. Đây cũng là một trong những hoạt động sinh lời chủ yếu cho ngân
hàng, phần lớn vốn của ngân hàng tập trung cho hoạt động này. Khi thực hiện
nghiệp vụ cho vay, ngân hàng có thể kiểm soát trực tiếp và thường xuyên mục
đích sử dụng tiền vay. Cho vay bao gồm các hình thức cho vay chủ yếu sau:
+ Cho vay thương mại
+ Cho vay tiêu dùng
+ Tài trợ dự án
- Bảo lãnh
Ngân hàng có thể bảo lãnh cho các khách hàng bằng uy tín của mình,
với sự bảo lãnh này khách hàng có thể dễ dàng tiến hành các hoạt động kinh
doanh của mình. Uy tín của ngân hàng có được do ngân hàng nắm giữ tiền
gửi của khách hàng và do khả năng thanh toán của ngân hàng là rất lớn. Trong
những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển
mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa, xây dựng, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ

loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, hoạt
động mua bán ngoại tê có độ rủi ro rất cao, vì vậy đòi hỏi ngân hàng thực hiện
phải có trình độ chuyên môn cao, quản trị rủi ro tốt.
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
17
Một số ngân hàng thành lập các công ty bảo hiểm, bán bảo hiểm cho
khách hàng, điều đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng gặp
rủi ro và mất khả năng thanh toán.
- Nghiệp vụ quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp
và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách
hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu
ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ,
trong đó ngân hàng chấp nhận quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh
doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng
khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để
thanh toán.
- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Chính phủ là nơi cấp phép cho hoạt động và kiểm soát các ngân hàng.
Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết
thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của chính phủ và tài trợ cho
Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất
định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được hoặc phải cho vay
với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.
1.3 Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng
thương mại
1.3.1Nâng cao trí lực (Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng)
Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định rất nhiều đến khả năng lao
động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu
của nguồn lực con người bởi tất cả những hành động đó phải thông qua đầu

và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế".
19

Trích đoạn Lập kế hoạch, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và chi trả thù lao. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại và xây dựng văn hóa doanh nghiệp tạo môi trường làm việc thuận lợi cho nguồn nhân lực Rèn luyện phẩm chất chính trị, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và nâng cao sức khỏe, thể lực cho nguồn nhân lực trong chi nhánh KẾT LUẬN CHUNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status