Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho tập đoàn viễn thông quân đội viettel - Pdf 24

MỤC LỤC
156.62% 31
LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển
của mỗi quốc gia. Mỗi quốc gia nếu muốn phát triển không thể bó buộc nền kinh tế của
mình trong một phạm vi nhỏ hẹp mà phải mở rộng ra toàn thế giới, tham gia vào quá
trình hội nhập quốc tế là xu hướng chung của thời đại. Hơn 20 năm đổi mới những gì
mà nền kinh tế đạt được đã chứng tỏ chiến lược phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà
nước ta đề ra là hết sức đúng đắn và có hiệu quả đến thời điểm hiện tại. Trong xu thế
phát triển đó, Việt Nam chúng ta đã từng bước gia nhập vào nền kinh tế chung của thế
giới, nhờ vậy mà nền kinh tế của nước ta trong mấy năm trở lại đây đã có những bước
chuyển mình đáng kể, kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ với sự đóng góp
của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong đó có ngành kinh tế chủ lực là viễn thông.
Thị trường viễn thông trong thời điểm hiện tại đang phát triển mạnh mẽ hơn bao
giờ hết, đặc biệt với sự thay đổi từng ngày từng giờ của khoa học công nghệ đã làm
cho sự cạnh tranh trên thị trường này ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt. Đó là tín
hiệu đáng mừng cho thị trường viễn thông Việt Nam nhưng đồng thời đó cũng là thách
thức không nhỏ cho chúng ta để tồn tại và cạnh tranh được với các đối thủ lớn từ bên
ngoài mới gia nhập vào thị trường viễn thông trong nước. Không nằm ngoài xu thế đó,
Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel cũng phải chịu sức ép cạnh tranh ngày càng lớn
gây ảnh hưởng đến tốc độ phát triển cũng như là vị thế của Tập đoàn trên thị trường
viễn thông. Là một doanh nghiệp đi sau trong sự phát triển của ngành viễn thông Việt
Nam, nhưng với những chiến lược hết đúng đắn của mình, Viettel nhanh chóng trở
thành một trong ba tập đoàn viễn thông hàng đầu của đất nước và có tầm ảnh hưởng ra
khu vực và quốc tế, lọt vào tốp 20 tập đoàn viễn thông lớn nhất thế giới, đóng góp lớn
cho sự phát triển của thị trường viễn thông VIệt Nam.
Mục tiêu trong giai đoạn tới của tập đoàn viễn thông quân đội Viettel là phát
triển nhanh, bền vững, để trở thành nhà khai thác dịch vụ viễn thông số 1 Việt Nam
vào năm 2015. Để đạt được thành công đó, nhiệm vụ đặt ra cho Tập đoàn là phải nâng
cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình để tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ,

khu vực và thế giới”
Đề tài đưa ra thực trạng, những khó khăn, thách thức của ngành thép Việt Nam
khi tham gia vào quá trình hội nhập khu vực và thế giới. Qua đó đưa ra giải pháp nâng
cao hơn nữa khả năng cạnh tranh của ngành thép nước ta với các tập đoàn, công ty
hàng đầu về sản xuất thép trên thế giới.
• “ Thực trạng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường”
Đề tài đề cập thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ tại thị trường trong nước và
xuất khẩu ra thị trường thế giới của nông sản Việt Nam. Trước cánh cửa hội nhập,
nông sản Việt Nam đang bị cạnh tranh khốc liệt cả về chất lượng cũng như giá cả, do
đó đề tài đưa ra những biện pháp cần thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh giúp nông
sản Việt Nam giữ được chỗ đứng trên thị trường.
• “ Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế”.
Khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế thì ngành ngân hàng là một trong những
ngành chịu ảnh hưởng nhiều và sớm nhất của quá trình hội nhập. Đề tài phân tích bối
cảnh trong nước và nước ngoài mà ngành ngân hàng phải đối mặt khi hội nhập, qua đó
có giải pháp hoàn thiện hơn ngành ngân hàng để đủ năng lực cạnh tranh với các đối thủ
mạnh nước ngoài.
• “ Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo của
công ty bánh kẹo Hải Châu trên thị trường nội địa”
Để tài phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, phân tích
các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của tập đoàn.
Từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu nâng cao chất lượng cạnh tranh của công ty trên thị
trường.
• “Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm gạo”
Sản phẩm gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, nên khả năng cạnh
tranh của sản phẩm với các sản phẩm gạo của nước khác là yếu tố quyết định tới thành
công của gạo Việt Nam trên thị trường. Đề tài đã phân tích điểm mạnh và yếu của sản
phẩm gạo của nước ta, qua đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng gạo, làm tăng khả
năng cạnh tranh của mặt hàng này.

Từ những định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, trong đề tài này xin đưa ra khái
niệm cạnh tranh như sau:
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất
hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu
dùng nhằm thu được lợi ích nhiều nhất cho mình.
“ Cùng ngành nghề chứ không cùng lợi nhuận, cạnh tranh là sự tất yếu của thị
trường”. Cạnh tranh là sự so sánh, đối chứng sức mạnh cơ bản giữa các doanh nghiệp,
chủ yếu có được từ quá trình đối kháng của sức mạnh này. Có thể khẳng định rằng
cạnh tranh có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, là động lực
thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm ra con đường mới cho mình. Có như vậy
mới đảm bảo được chỗ đứng của họ trên thị trường cạnh tranh khốc liệt.
1.1.1.2. Chiến lược cạnh tranh
Để hiểu rõ hơn về chiến lược cạnh tranh chúng ta đi tìm hiểu từ khái niệm về
chiến lược. Chiến lược là để các doanh nghiệp đương đầu với sự cạnh tranh do đó nó là
sự kết hợp giữa mục tiêu cần đạt được và các phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để
đạt được các mục tiêu đạt ra. Chiến lược giúp mỗi doanh nghiệp trả lời được ba câu
hỏi:chúng ta đang ở đâu? chúng ta muốn đi đâu? chúng ta đi đến đó bằng cách nào? và
như vậy với chiến lược rõ ràng, cụ thể và chính xác sẽ là chìa khóa thành công cho bất
kỳ doanh nghiệp nào.
Sự thành công của mỗi doanh nghiệp được đánh giá và nhìn nhận một cách rõ
nét nhất thông qua vị thế mà nó có được trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh.
Nếu như doanh nghiệp đạt được những thành công về mặt tài chính thì đó là do bản
thân doanh nghiệp đã biết tận dụng hợp lý nguồn lực của mình để hoạt động hiệu quả.
Để có thể duy trì được kết quả đó cũng như củng cố sự phát triển lâu dài doanh nghiệp
phải nắm trong tay mình những “con bài” chủ lực, điều đó được gọi là lợi thế cạnh
tranh. Lợi thế cạnh tranh được xây dựng từ những đặc trưng của bối cảnh cạnh tranh và
nằm ngay trong cách thức phân bổ nguồn lực riêng có của mỗi doanh nghiệp. Chính vì
vậy các doanh nghiệp phải biết tận dụng các điều kiện thuận lợi của bên ngoài cũng
như trong nội bộ doanh nghiệp mình để phát huy các điểm mạnh riêng nhằm có được
lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. Như vậy chiến lược cạnh tranh là sự kết hợp giữa

của doanh nghiệp trên thị trường. Chất lượng sản phẩm càng cao tức là mức độ thỏa
mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng khả năng thắng thế
trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, mức sống của người dân
ngày càng được nâng cao, tức là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng
tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu hướng đổi vị trí cho sự cạnh tranh
bằng chất lượng sản phẩm.
c. Cạnh tranh bằng nghệ thuật phân phối sản phẩm
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường sản xuất tốt chưa
đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình mà còn phải biết tổ chức
mạng lưới bán hàng. Mạng lưới bán hàng là tập hợp các kênh đưa sản phẩm hàng hóa
từ nơi sản xuất đến người tiêu dùng sản phẩm ấy. Thông thường kênh tiêu thụ sản
phẩm của doanh nghiệp bao gồm kênh bán hàng trực tiếp ngắn, kênh bán hàng trực tiếp
dài và kênh bán hàng gián tiếp ngắn. Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng
doanh nghiệp có thể tiến hành một loạt các hoạt động hỗ trợ như: tiếp thị, quảng cáo,
yểm trợ bán hàng, tổ chức hội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh
tế….
Ngày nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò vô cùng quan trọng, thậm
chí quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trên thị trường bởi vì nó tác động đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên các khía cạnh: tăng khả năng tiêu thụ hàng
hóa, cải thiện hình ảnh doanh nghiệp trên thị trường và mở rộng quan hệ làm ăn với
các đối tác của doanh nghiệp.
d. Cạnh tranh bằng các công cụ khác
Ngoài các công cụ thông dụng trên thì với một thị trường cạnh tranh ngày càng
mạnh mẽ như hiện nay các doanh nghiệp không ngừng tìm kiếm các cách thức mới
nhằm tăng khả năng cạnh tranh của mình so với các đối thủ khác. Các công cụ đó bao
gồm:
• Dịch vụ sau bán hàng: trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sản phẩm của
mình không chỉ chấm dứt sau khi giao hàng và nhận tiền của khách hàng bởi vì
có một nguyên tác chung là “Ai sản xuất thì người đó phục vụ kỹ thuật. Tốt hơn
nữa là chuẩn bị cho việc phục vụ kỹ thuật sớm hơn việc cung cấp sản phẩm đó

cùng một lĩnh vực, cùng thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên
trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các
đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh đòi hỏi
doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối thủ của mình. Nhờ lợi thế này, doanh
nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được
khách hàng của đối thủ cạnh tranh.
1.1.2.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được
các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những hoạt động khác nhau và cần thực
hiện việc đánh giá cả bằng định tính và định lượng. MC Kinsey là một cơ quan toàn
cầu chuyên tư vấn kinh tế cho các công ty và chính phủ có uy tín, được đánh giá cao,
đã đưa ra phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của một
doanh nghiệp.
a.Thị phần
Thị phần là thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh, thị phần
là thước đo thị trường quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp bởi đó là cơ sở để tồn
tại của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Để ngày càng phát triển doanh nghiệp phải tìm
được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Không cần biết nền kinh tế biến động ra
sao, lĩnh vực kinh doanh thay đổi thế nào hoặc đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ đến một
công ty luôn luôn luôn phải của mình trước đối thủ cạnh tranh. Nếu hai đối thủ cạnh
tranh có thị phần gần ngang bằng nhau, đối thủ nào có thể tăng được thị phần thì có thể
giành được khác biệt về cả doanh thu cũng như chi phí và điều này tạo nên lợi thế cạnh
tranh mạnh mẽ.
b. Sự đa dạng về sản phẩm
Kinh doanh luôn gắn liền với may rủi, cạnh tranh càng khôc liệt thì khả năng
thu lợi nhuận càng lớn nhưng rủi ro cũng thường gặp, đặc biệt là trong nền kinh tế thị
trường thì rủi ro luôn tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Do đó các doanh nghiệp có xu
hướng đa dạng hóa các sản phẩm của mình nhằm giảm thiểu rủi ro đồng thời cũng là
một giải pháp hữu hiệu nhằm mở rộng thị trường hoạt động, làm mới doanh nghiệp và
tăng doanh thu. Tuy nhiên việc tạo ra quá nhiều sản phẩm mà không đáp ứng đúng nhu

hiểu là khả năng đội ngũ nhân viên trong công ty. Nguồn nhân lực đóng góp cho sự
thành công của công ty trên các khía cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng
đổi mới, kỹ năng trong công việc cụ thể và năng suất của đội ngũ nhân viên. Đây là
những yếu tố then chốt mang lại sự thành công của các doanh nghiệp. Năng lực thông
qua yếu tố con người thường mang tính bền vững vì nó không thể hình thanhg tron một
thời gian ngắn. Nó liên quan đến văn hóa của tổ chức. Đây chính là các chuẩn mực bất
thành văn, trở thành nếp sống và ứng xử giữa các thành viên trong tổ chức. Muốn cải
thiện nguồn nhân lực thì trước hết phải cải thiện môi trường văn hóa công ty. Điều này
không phải dễ, mất rất nhiều thời gian và khá tốn kém song khi công thì giá trị mà nó
đem lại không thể tính toán.
f. Hoạt động nghiên cứu và triển khai
Đây là hoạt động điều tra của doanh nghiệp nhằm mục đích xem xét khả năng
phát triển sản phẩm và quy trình mới hoặc nhằm cải tiến sản phẩm và quy trình hiện
tại. Hoạt động nghiên cứu phát triển đóng vai trò nền tảng cho sự thành công lâu dài
của doanh nghiệp, đó là phương thức hữu hiệu trong đó các doanh nghiệp có thể xem
xét đánh giá triển vọng tăng trưởng tương lai của doanh nghiệp mình bằng cách phát
triển sản phẩm mới hoặc cải tiến, hoàn thiện và mở rộng hoạt động của công ty. Chính
vì vậy các doanh nghiệp cần phải nhận thức được rằng khi nền kinh tế cạnh tranh khốc
liệt thì công ty nào nhanh chân đưa ra thị trường sản phẩm mới thì doanh nghiệp đó sẽ
thắng thế và đó cũng là một biểu hiện của công ty có nguồn lực tài chính mạnh.
g. Quy mô, danh tiếng
Quy mô đem lại lợi thế kinh tế nhờ quy mô đồng thời đem lại điều kiện thuận
lợi giúp doanh nghiệp tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường. Khi sản lượng tăng lên, chi
phí bình quân của một đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi đồng thời lợi nhuận càng lớn. Việc
quy mô càng được mở rộng tức là tăng khối lượng sản phẩm đã đem lại hiệu quả lớn và
quy mô trở thành điểm mạnh của chính doanh nghiệp đó.
Một số chủ doanh nghiệp thu hút khách hàng như có phép thuật. Nhiều khi, họ
không cần sử dụng tới dịch vụ quảng cáo. Sự nổi tiếng của những doanh nhân này đủ
để tên tuổi họ được khách hàng nhớ tới mỗi khi có nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ đó.
Do vậy danh tiếng cũng là một yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so

Trong cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt thì mỗi quy định đặt ra đều có ảnh hưởng
đến quyết định sản xuất kinh doanh của công ty. Sự thêm bớt những hạn chế về luật lệ
có thể là cơ hội, đe dọa quan trọng về mặt chiến lược đối với một tổ chức kinh tế. Khi
quyết định đúng được đưa ra sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động,
ngược lại một quyết định không hợp lý sẽ là nguyên nhân gây nên bất ổn của nền kinh
tế, gây khó khăn cho sự phát triển. Ngày nay, khi đưa ra các chính sách phát triển kinh
tế các nhà hoạch định chiến lược cũng phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề chính
trị pháp luật nhằm đưa ra các quyết định đúng đắn.
1.2.1.3. Yếu tố văn hóa xã hội
Tất cả cá doanh nghiệp đều phải phân tích các yếu tốc xã hội nhằm nhận biết
các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Khi một hay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể
tác động đến doanh nghiệp như sở thích vui chơi giải trí, các chuẩn mực đạo đức xã
hội, vấn đề lao động nữ. Các yếu tố xã hội thường biến đổi hoặc tiến triển chậm nên
đôi khi khó nhận biết. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự biến động các yếu tố xã hội
ngày càng có tác động mạnh hơn đến hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp như tỷ lệ
tăng dân số, sự lão hóa của dân số, quy mô của gia đình….
1.2.1.4. Nhân tố công nghệ
Ngày nay công nghệ là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh làm thay đổi chu kỳ
sống của các sản phẩm tạo ra cơ hội cũng như mối đe dọa cho các doanh nghiệp.
Những chiều hướng hay biến cố trong công nghệ có thể là cơ hội cho các doanh nghiệp
có khả năng huy động vốn đầu tư, nhưng cũng có thể là mối đe dọa cho những doanh
nghiệp dính chặt vào công nghệ cũ. Với tốc độ phát triển mạnh mẽ công nghệ đã tạo ra
những điều kỳ diệu trong sản xuất, tạo nên những sản phẩm ngoài sức tưởng tượng,
làm xuất hiện những phương pháp sản xuất mới ngày một hữu hiệu và đem lại kết quả
cao. Nhưng đồng thời những phương pháp sản xuất mới cũng là thách thức cho mỗi
doanh nghiệp nếu không thích ứng kịp hay không có sự đồng bộ hóa trong quá trình
sản xuất, sẽ là mối đe dọa cho chính các doanh nghiệp.
1.2.1.5. Toàn cầu hóa
Quá trình toàn cầu hóa đem lại nhiều cơ hội cho các nước về mọi mặt như: kinh
tế, văn hóa, chính trị, xã hội… Toàn cầu hóa không những tạo điều kiện cho các nước

Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là một chức năng
không thể thiếu của các tổ chức kinh tế. Quy luật cạnh tranh đã khiến cho chức năng
nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp ngày càng tập trung hơn và trở thành vũ
khí cạnh tranh, quyết định tương lai của họ. Tuy nhiên, quyết định đầu tư cho nghiên
cứu và triển khai là một quyết định khó khăn, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng về kinh phí,
nguồn nhân lực, xu hướng phát triển công nghệ trong lĩnh vực mà tập đoàn quan tâm.
Việc thực hiện hoạt động này đòi hỏi nguồn kinh phí tốn kém và nếu doanh nghiệp
không có tiềm lực tài chính vững mạnh thì hoạt động này có thể đem lại rủi ro lớn.
Song nếu thành công thì giá trị mà hoạt động nghiên cứu và triển khai mạng lại vô
cùng lớn: tạo ra một nền tảng công nghệ mới hơn hẳn các đối thủ, tạo ra các sản phẩm
mới với các tính năng ưu việt… nhờ đó doanh nghiệp có được lợi thế so với các đối
thủ. Do đó, mỗi doanh nghiệp phải có sự lựa chọn phù hợp đầu tư thích đáng cho hoạt
động nghiên cứu và triển khai, do đó là chính sách mang tính chiến lược xuyên suốt
quá trình tồn tại và phát triển của các tổ chức kinh tế hiện nay.
1.2.2.3. Hoạt động Marketing
Marketing là một loại hình hoạt động của doanh nghiệp (có thể là ngang hàng
hoặc giữ vị trí trung tâm, tùy vào mỗi doanh nghiệp), các hoạt động này giúp cho
doanh nghiệp thu được lợi nhuận trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của
khách hàng. Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay việc phát triển hoạt động
marketing là một việc rất cần thiết. Nhu cầu của khách hàng ngày càng cao trong đó
bao gồm cả thông tin về sản phẩm, hiểu biết càng rõ về sản phẩm họ càng có nhiều lựa
chọn và doanh nghiệp nào thu hút được càng nhiều sự chú ý của khách hàng doanh
nghiệp đó càng có nhiều cơ hội chiến thắng. Hoạt động Marketing giúp gia tăng doanh
số của việc bán hàng hay sử dụng dịch vụ và trực tiếp đóng góp vào lợi nhuận của công
ty từ đó nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp. Việc vận dụng khéo léo, hiệu
quả hoạt động này chính là chìa khóa mang lại sự thành công cho doanh nghiệp không
chỉ về lợi nhuận mà còn về uy tín lâu dài.
1.2.2.4. Năng lực quản lý
Làm thế nào để tạo ra ưu thế cạnh tranh để tồn tại và phát triển khi tất cả các đối
thủ đều tận dụng triệt để công thức: Sản phẩm – giá cả - hệ thống phân phối – quảng bá

thông là một trong những thị trường mở cửa sớm nhất và có sự cạnh tranh khốc liệt nhất.
Để cạnh tranh với các doan nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam cần khẳng định vị
thế của mình bằng việc tích lũy vốn, nắm được công nghệ tiên tiến, hiện đại, kinh nghiệm
khai thác, chất lượng dịch vụ tốt và đặc biệt là phải có khách hàng.
Không nằm ngoài sự phát triển chung của ngành, tập đoàn viễn thông quân đọi
Viettel cũng chịu sự cạnh tranh ngày càng lớn từ các đối thủ hoạt động trong cùng lĩnh
vực. Là một thành viên trực thuộc Bộ quốc phòng, Viettel đã có những hướng phát
triển riêng để thích ứng với những điều kiện cạnh tranh mới. Áp lực cạnh tranh đòi hỏi
bản thân tập đoàn phải có sự đổi mới và thích ứng để vận động và phát triển. Đây là
nhân tố quan trọng quyết định tới sự thành bại của Viettel.
Hệ quả của sự hội nhập có thể làm cho doanh nghiệp phát triển tốt, không phát
triển được hoặc bị đào thải khỏi thương trường. Chính vì vậy nâng cao năng lực cạnh
tranh để tồn tại là điều kiện tiên quyết trong thời đại hội nhập là điều kiện tiên quyết
của sự phát triển.
1.3.2. Sự phát triển trong tương lai
Trong một vài năm trở lại đây thị trường viễn thông trong nước ngày càng thông
thoáng và hấp dẫn thu hút nhiều những doanh nghiệp mới tham gia thị trường. Đó là do
kinh doanh dịch vụ viễn thông là một lĩnh vực đem lại giá trị gia tăng cao và trong xu
hướng phát triển của xã hội thì đây là một ngành nghề có cơ hội phát triển mạnh. Với
nhiều động thái tích cực của Chính Phủ và Bộ thông tin và truyền thông các doanh
nghiệp viễn thông trong nước không ngừng cạnh tranh lẫn nhau để giữ vững và mở
rộng thị trường. Tình trạng độc quyền dần được xóa bỏ thay vào đó mà môi trường
kinh doanh bình đẳng hơn, thuận lợi hơn và lợi thế cạnh tranh không hoàn toàn thuộc
về một doanh nghiệp nhất định. Những văn bản, chính sách được ban hành đều nhằm
mục tiêu khuyến khích sự cạnh tranh trên thị trường viễn thông đa dạng hóa thành phần
tham gia và tăng sự lựa chọn cho người tiêu dùng cũng như thúc đẩy sự phát triển của
thị trường. Do vậy bất cứ doanh nghiệp nào trong ngành đều phải đối mặt với áp lực
cạnh tranh ngày càng lớn.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA

Ngày 12 tháng 01 năm 2010 : theo quyết định phê duyệt của thủ tướng, Tập Đoàn
Viễn Thông Quân Đội Viettel chính thức ra mắt sau khi nhận các quyết định phê duyệt.
Trụ sở chính:
Địa chỉ : Số 1 Giang Văn Minh – Ba Đình – Hà Nội
Điện thoại: (84-4)62556789 Fax : (84-4) 62996789
Website:
Đại diện phía nam:
Địa chỉ: Số 158/2A Hoàng Hoa Thám, Quận Tân Bình, TP HCM
Điện thoại: (84-8) 6291111 Fax (84-8) 62935430
2.1.1.2. Mô hình tổ chức bộ máy của tập đoàn
Tập Đoàn Viễn thông Quân đội là một Doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ
Quốc phòng. Cơ cấu tổ chức của Tập Đoàn theo mô hình tập trung, cấp cao nhất là Ban
giám đốc, tiếp theo đến các phòng ban chức năng, các xí nghiệp thành viên trực thuộc
Tập Đoàn.
Ban giám đốc gồm Tổng Giám đốc và 5 Phó Tổng Giám đốc:
 Tổng giám đốc: Thiếu tướng Hoàng Anh Xuân
 Phó Tổng giám đốc: Thiếu tướng Dương Văn Tính
 Phó Tổng giám đốc: Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng
 Phó Tổng giám đốc: Đại tá Tống Viết Trung
 Phó Tổng giám đốc: Đại tá Hoàng Công Vĩnh
 Phó Tổng giám đốc: Đại tá Lê Đăng Dũng
Khối cơ quan Tập Đoàn:
 Văn phòng Tập Đoàn
 Phòng Chính Trị
 Phòng tổ chức lao động
 Phòng tài chính
 Phòng kế hoạch
 Phòng Kinh doanh
 Phòng kỹ thuật
 Phòng đầu tư phát triển

viễn thông công cộng khác để cung cấp dịch vụ thông tin di động trên phạm vi toàn
quốc .
Thiết lập mạng nhắn tin và kết nối với các mạng viễn thông công cộng khác để kết
nối dịch vụ điện thoại trung kế vô tuyến nội hạt trên phạm vi toàn quốc.
Cung cấp dịch vụ truy cập internet công cộng (ISP) và kết nối với Internet(IXP).
Cung cấp dịch vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế sử dụng công nghệ VoIP.
2.1.2. Lĩnh vực kinh doanh
2.1.2.1. Đặc điểm của ngành viễn thông
Để phân tích hoạt động kinh doanh phục vụ cho việc xây dựng các giải pháp
nhằm nâng cao năng lục cạnh tranh của tập đoàn cần chú ý đến các đặc điểm riêng của
ngành kinh doanh dịch vụ viễn thông. Những đặc điểm của ngành ảnh hưởng rất lớn
đến chiến lược phát triển chung của doanh nghiệp trong việc định hướng phát triển sản
phẩm cũng như thị trường sản phẩm của công ty. Đặc điểm của ngành bưu chính viễn
thông là:
_ Tính không vật chất của dịch vụ bưu chính viễn thông: Sản phẩm bưu chính
viễn thông chính là hiệu quả có ích được tạo ra trong quá trình truyền đưa.
_ Quá trình tiêu thụ dịch vụ viễn thông luôn luôn gắn liền với quá trình sản xuất
ra nó, tức là có quá trình tiêu thụ mới có quá trình sản xuất, tiêu thụ là cơ sở cho sản
xuất ra đời.
_ Quá trình sản xuất các dịch vụ bưu chính viễn thông mang tính dây chuyền. Để
hoàn thành quá trình sản xuất bưu chính viễn thông đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều
cơ sở bưu chính viễn thông vào một hay nhiều công đoạn trong quá trình truyền đưa.
_ Tải trọng không đều theo thời gian và không gian: Do nhu cầu tryền tin tức
không đều theo thời gian và không gian cho nên để đảm bảo lưu lượng thoát hết mọi
nhu cầu về truyền tin tức cần có sự dự trữ đáng kể về phương tiện, thiết bị và lao động.
Những đặc điểm trên cần được đặc biệt lưu ý khi phân tích môi trường kinh
doanh cũng như khi hạch định chiến lược, phân bổ các nguồn lực.
2.1.2.2. Đặc điểm về sản phẩm dịch vụ của Viettel
Sản phẩm của Viettel là dịch vụ viễn thông, là sự thỏa mãn nhu cầu trao đổi
thông tin. Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm diễn ra đồng thời khi có nhu cầu của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status