Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Lời mở đầu
Công tác xã hội với cộng đồng nó như là một khoa học nó mang tính chuyên
môn hóa cao năm 1950 của thế kỷ XX hiệp hội quốc đã chính thức công nhận khái
niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các nước sử dụng khái niệm này như là
một công cụ để phát triển nền kinh tế Quốc gia. Từ đó, ở Việt Nam cũng dần xuất
hiện và đến năm 1960 thì phát triển mạnh mẽ gắn liền với quá trình đấu tranh giải
phóng dân tộc, các quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước như nhà nước của
dân, do dân và vì dân, đảm bảo đời sống ấm no, lợi ích và quyền của nhân dân.
Những năm đổi mới đến nay thì tổ chức và phát triển cộng dồng đã phát triển rộng
rãi được đưa vào các lĩnh vực.
Tổ chức và phát triển cộng đồng là phương pháp thứ ba của nghành công tác
xã hội mặc dù nó ra đời muộn hơn hai phương pháp công tác xã hội với cá nhân và
nhóm, nhưng lại có ý nghĩa mục đích rất quan trọng là vì con người và lấy con
người làm trọng tâm nhằm đem đến An sinh xã hội và đảm bảo công bằng xã hội,
giảm bớt được sự phân tầng trong xã hội. Đảm bảo sự tham gia tối đa của người
dân trong tiến trình phát triển.
Là sinh viên được đào tạo về chuyên nghành công tác xã hội khi tiếp xúc với
học phần “Thực hành công tác xã hội II” là tiếp cận với phương pháp tổ chức và
phát triển cộng đồng. Đây là một học phần thực hành mang tính thực tế, vận dụng
lý luận và thực tiễn. Bản thân em hiểu rất rõ đối tượng của ngành công tác xã hội là
những con người và cộng đồng yếu thế trong xã hội và mục tiêu cuối cùng của phát
triển cộng đồng là giúp cho cộng đồng từ tình trạng yếu kém tiến tới tự lực và phát
triển hơn. Bổn phận của người cộng tác viên trông công tác xã hội là tổ chức, lập kế
hoạch, nâng cao kỹ năng, nhận thức cho người dân về điểu kiện sống, quyền an
sinh và phát triển. Đồng thời là cầu nối tìm kiếm nguồn lực giúp đỡ những con
người yếu thế, những cộng đồng khó khăn để nhằm hỗ trợ họ giải quyết vướng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 1
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
mắc, trở ngại để cộng đồng vươn lên thành cồng động tự lực và phát triển hơn, hòa
nhập vào sự phát triển chung của xã hội.
6’25’’ đến
106
0
20’30’’ độ Đông.
Phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Phía Bắc giáp với huyện Tuyên Hoá
Phía Nam - Đông Nam giáp với huyện Bố Trạch.
Huyện Minh Hoá có cửa khẩu Cha Lo-Nà Phàn, có đường mòn Hồ Chí Minh
và tuyến đường 12A lớn nhất nối các tỉnh Đông Bắc Thái Lan qua Lào về quốc lộ
1A đến cảng Hòn La, cảng Vũng Áng (tỉnh Hà Tĩnh).
Đi từ thành phố Đồng Hới vào huyện Minh Hoá có 2 con đường: Con đường
thứ nhất, từ quốc lộ 1A về thị trấn Ba Đồn sau đó theo quốc lộ 12A lên huyện Minh
Hoá; con đường thứ hai, đường mòn Hồ Chí Minh xuất phát từ Cộn chạy về hướng
Bắc khoảng 120km là tới huyện Minh Hoá.
1.2. Địa hình
Cấu trúc địa hình của huyện Minh Hoá khá phức tạp gồm: Đồng bằng, đồi núi
chủ yếu vẫn là đồi núi hiểm trở, gồ ghề. Các đỉnh núi cao, các Lèn Cờ, núi đá vôi
bao quanh và hình thành các thung lũng ở giữa - nơi người dân sinh sống. Có dãy
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 3
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Trường Sơn hùng vĩ bao quanh và những dãy núi vòng cung bao quanh huyện.
Đồng bằng thì nhỏ hẹp bị chia cắt bởi các lèn và núi đá. Núi có độ cao trung bình
500 – 1000m nghiêng dần từ Tây sang Đông. Phía Tây Nam bị chia cắt bởi núi đá
vôi và sông suối trong hệ thống núi khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng.
1.3. Đất đai
Huyện Minh Hoá có các hệ đất là: đất feralit vàng đỏ, đất đỏ bazan, đất phù sa
cổ và một ít đất phù sa bồi đắp.
Toàn huyện có tổng diện tích là 141.270,94 ha, trong đó:
Đất nông nghiệp 6.431,11 ha
Đất phi nông nghiệp 3.305,69 ha
đập Cù Liên ở xã Trung Hoá và đập Đa Năng ở xã Hoá Hợp.
2. Điều kiện xã hội
2.1. Kinh tế
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của toàn huyện có những năm sau cao hơn năm
trước, toàn huyện chủ yếu là phát triển các ngành nghề như: Nông nghiệp, công
nghiệp và thương mại - dịch vụ.
Tính đến cuối năm 2008, tốc độ tăng trưởng bình quân: 11.71%, thu nhập bình
quân đầu người là: 3,6 triệu đồng, thu ngân sách trên địa bàn toàn huyện là 4,797
triệu đồng.
Tỷ trọng của ngành nông nghiệp là 40,68%
Tỷ trọng của ngành công nghiệp là 33,72%
Tỷ trọng của ngành thương mại - dịch vụ là 25,6%
Toàn huyện có 5.369 hộ nghèo chiếm tỉ lệ 51,91% so với tổng số hộ dân trên
địa bàn huyện.
Sau 1năm thực hiện Nghị quyết 30A đến ngày 31/12/2009, toàn huyện còn
3.836 hộ nghèo trên tổng số 10.803 hộ dân chiếm 35,51%.
Tới đầu năm 2009, thực hiện hoàn toàn 100% số nhà tạm trên địa bàn huyện
với tổng số 680 nhà.
2.2. Dân số, lực lượng lao động
Năm 2008, dân số toàn huyện là 10.343 hộ với 47.217 nhân khẩu bao gồm các
dân tộc: Kinh, Khùa, Mày, Sách, Rục, Thổ, Arem. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là
1,3%, dân số phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các xã đồng bằng và thị
trấn Quy Đạt, mật độ trung bình 32 người/km
2
.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 5
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Cuối 2008, toàn huyện có 25.836 người trong độ tuổi lao động chiếm 54,75%
trong tổng số dân chủ yếu sản xuất nông – lâm nghiệp chiếm 80% số lao động hầu
hết chưa qua đào tạo, chỉ có 250 người đã qua đào tạo.
Việc chăm sóc sức khoẻ cho người dân được huyện chú trọng. Toàn huyện có
một bệnh viện đa khoa nằm tại thị trấn Quy Đạt. Tất cả các xã đều có trạm y tế.
Các hộ nghèo trong huyện đều được cấp phát thẻ bảo hiểm y tế miễn phí
2.5.3 Văn hóa
Huyện Minh Hoá có một nét văn hóa nổi bật mà ai cũng biết đến đó là hằng
năm vào ngày 15/3 (âm lịch) có hội rằm tháng 3 còn gọi là Chợ Tình. Đây là nét
văn hoá đặc sắc nhất của huyện. Hằng năm vào ngày này tất cả con em trong huyện
dù có đi làm ăn xa hay làm gì cũng dành thời gian về quê dự lễ hội. Ngày hội,
người dân tập trung đi chợ, họ buôn bán ở đó và có tổ chức các trò chơi dân gian,
thi hát hò và các môn thể thao cũng được tổ chức ở các xã. Đặc biệt, rằm tháng 3
người dân ở đây làm món "Bồi" được ăn với ốc. Người dân ở đây thường có câu:
"Thà rằng đau ốm mà nằm
Chớ ai lại bỏ hội rằm tháng Ba".
3. Tiềm năng và trở ngại
3.1. Tiềm năng
Huyện Minh Hóa là một vùng núi rẻo cao nên rừng là tiềm năng lớn của
huyện, tổng diện tích rừng khá lớn rất thuận tiện cho việc phát triển cây công ngiệp,
đây là rừng nguyên sinh nhiêfu nhất của tỉnh. Nó cung cấp các loại gỗ cho ngành
sản xuất và một số loại gỗ quý hiếm: huê, táu ,lim Rừng còn cung cấp rất nhiều
dược phẩm cho bà con trong huyện dùng để chữa bệnh.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 7
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Là một huyện miền núi nên có rất nhiều loại khoáng sản đặc biệt là đá vôi.
Diện tích đá vôi trên 1200 ha chưa được thăm dò, nghiên cứu về chất lượng cụ thể
nên chỉ mới khai thác để làm vật liệu xây dựng chứ lượng đá vôi còn rất nhiều mà
chưa được khai thác đến.
Huyện có khả năng để phát triển ngành du lịch bởi ở đây ai đã từng đặt chân
lên mảnh đất này đều nhận xét đây là bản sao của Đà Lạt. ở đây có rất nhiều cảnh
quan do tự nhiên tạo nên như : Tháp Bụt, thác Mơ, hang động, các lèn cờ, khe suối
rất lạng mãn và thơ mộng, thời tiết thì dịu êm.
0
2.13 vĩ độ Bắc và 205
0
625 đến 105
0
20.30 kinh Đông.
Phía Đông và Đông Bắc giáp xã Trung Hóa và Tân Hóa
Phía Nam giáp huyện Bố Trạch
Phía Tây giáp xã Hóa Sơn và biên giới Việt-Lào
Thượng Hóa có tuyến biên giới chung với tỉnh Khăm Muôn-Lào 21km. Do
kiến tạo địa tầng và cấu trúc địa chất phức tạp nên giữa những dãy đá vôi thường
tạo nên các thung lũng là nơi người dân định cư sinh sống.
Có 2 con đường để tới xã Thượng Hóa là đường mòn Hồ Chí Minh và đường
quốc lộ 12A.
1.2 Địa hình
Xã Thượng Hóa chủ yếu là đồi núi, lèn cờ đá vôi, thung lũng, xã được bao
quanh bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ.
Xã có nhiều dãy núi cao như núi Mama cao 1.030m, núi đá độ cao 986m, lèn
cờ cao 927m.Có rừng núi và hang đá vôi, các núi đèo đã gắn với bao sự tích hào
hùng của quân và dân ta như: Eo Rèo Đá Đẻo, hang xăng dầu N58, hang Tiểu Tử,
hang vũ khí đạn Lá Lếch.
1.3. Đất đai
Xã Thượng Hóa chủ yếu là đất đỏ bazan, đất feralit và đất phù sa cổ và một
ít đất phù sa bồi đắp.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 9
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Toàn xã có trổng diện tích tự nhiên là 34.504,947 ha tương đương với 346
km
2
Trong đó: Đất nông nghiệp 34.383,762 ha
động nước ngầm mà chưa được phát triển và khai phá.
Xã Thượng Hóa là nơi đầu nguồn của các khe suối, các đập cao trên 1000m
so với mặt biển. Ngoài hàng chục khe suối còn có 2 con sông chính là; sông Cái và
sông Cu Nhăng, vào mùa mưa lũ thì những con sông này bị tràn ngập làm cho một
số thôn trong xã bị ngạp nước nghiêm trọng, giao thông đi lại rất khó khăn.
2. Điều kiện xã hội
2.1. Kinh tế
2.1.1. Trồng trọt
Đảng ủy và UBND xã Thượng Hóa đã xác định rõ, trồng trọt là ngành mũi
nhọn để phát triển kinh tế đảm bảo đời sống cho người dân.Gồm các loại cây như:
ngô, khoai lang, sắn, lạc, đậu, rau màu, vừng, cao su, cây làm thức ăn cho gia súc
Tổng sản lượng lương thực hàng năm đều tăng và tỷ lệ năm sau cao hơn năm
trước. Năm 2009 đạt 919,67 tấn so với năm 2005 tăng 389,67 tấn.
Tổng diện tích gieo trồng vụ Đông - Xuân 452 ha đạt 87,68% so với kế
hoạch.
Tổng sản lượng lương thực 618.2 tấn.
Tổng sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày là 278,7 tấn
Giá trị thành tiền 6.222.304.500 VND
2.1.2. Công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao khoa học công nghệ
Xây dựng mô hình:
Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao giá trị trên
một đơn vị diện tích canh tác. Sáu tháng đầu năm, được sự hỗ trợ của các chương
trình dự án, đến nay một số mô hình đã có kết quả.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 11
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Mô hình nuôi dê sinh sản tại thôn Khai Hóa.
Mô hình nuôi ngan kết hợp nuôi giun quế tại thôn Phú Nhiêu.
Chuyển giao khoa học kỹ thuật: UBND xã phối hợp cùng với Phòng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn mở các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi
tại 3 bản dân tộc.
còn xảy ra, một số hộ gia đình nhận thức còn kém nên vẫn còn tiếp tay cho lâm tặc
và bọn buôn lậu lâm sản trên địa bàn xã. Công tác tuần tra và kiểm tra chưa thường
xuyên và chặt chẽ.
2.1.6. Tiểu thủ công nghiệp
Nhờ sự nhận thức đúng đắn và chấp hành tốt chủ trương đường lối, chỉ thị,
Nghị quyết của cấp trên nên đã nhanh chóng chuyển đổi trong nhận thức về phát
triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngành nghề. Đã có nhiều hộ gia
đình đi đầu trong phát triển về giao thông vận tải. Hiện nay toàn xã đã có 3 xe ô tô,
mộc dân dụng có 10 hộ, sửa chữa xe máy có 4 hộ, sửa chữa điện tử 1 hộ, cơ sở xay
xát 5 hộ.
2.2. Dân số, lực lượng lao động
Xã Thượng Hóa có tổng số 696 hộ và 3.113 nhân khẩu. Trong đó, dân tộc
186 hộ và 806 nhân khẩu chiếm 25% dân số toàn xã. Mật độ dân số: 32 người/km
2
,
dân số phân bố không đồng đều bao gồm các dân tộc: Kinh, Sách, Rục.
Lực lượng lao động của xã: số nhân khẩu trong độ tuổi lao động chiếm 40%
tổng số dân. Trong đó số lao động có việc làm 900 người.
2.3. Cơ cấu tổ chức
UBND xã Thượng Hóa nằm ở thôn Khai Hóa. Chính quyền địa phương đoàn
kết hợp tác tốt, phát huy được thế mạnh của xã. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 13
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
nước, chính quyền xã Thượng Hóa quan tâm đến quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa
vụ với nhân dân trong xã.
Nhờ chỉ đạo của Đảng ủy, nhân dân trong xã biết đoàn kết, yêu thương và
đùm bọc lẫn nhau. Thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân.
Toàn xã có 6 thôn và 4 bản: thôn Phú Nhiêu, thôn Tiến Hóa, thôn Hát, thôn
Khai Hóa, thôn Quyền, thôn Quang, bản Phú Minh, bản Ón, bản Yên Hợp, bản Mò
O Ồ Ồ.
các em nhỏ uống vitamin A, uống thuốc chống chống suy dinh dưỡng.
Chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, tuyên truyền các cặp vợ chồng chỉ
sinh từ 1 đến 2 con. Thực hiện các biện pháp tránh thai.
2.5.3. Văn hóa
Vào các ngày lễ tết Đoàn Thanh niên cùng phối hợp với nhân dân tổ chức
giao lưu văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn như: Ngày quốc tế phụ nữ, 80 năm
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, kỷ niệm 79 năm thành lập Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh
Vào ngày Rằm tháng 3 (tức ngày 15 tháng 3 âm lịch) hàng năm, lễ hội Rằm
tháng Ba còn gọi là Chợ Tình là lễ hôi lớn nhất trong năm và là nét văn hóa nổi bật
của xã Thượng Hóa cũng như huyện Minh Hóa.
3. Tiềm năng và trở ngại
3.1. Tiềm năng
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 15
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thì mọi chính sách, dịch vụ đều tới
tận xã và nhờ sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của thường vụ huyện ủy, sự phối
hợp chặt chẽ và giúp đỡ của các ban ngành cấp huyện, các đơn vị đóng quân trên
địa bàn. Đặc biệt là tinh thần đoàn kết, thống nhất, nổ lực, sáng tạo trong công tác
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ của ban thường vụ, ban chấp hành Đảng bộ.
Xã có rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết, diện tích đất khá lớn đặc
biệt là đất chưa được sử dụng, với khối lượng đất lớn như vậy thì dụng để trồng cây
công nghiệp nhằm phát triển kinh tế làm giàu cho bà con trong xã. Rừng nguyên
sinh có đủ các cây thuốc và nhiều loại gỗ quý như: lim, táu, huê và có nhiều loại
động vật quý hiếm: bò tót, báo, hươu, gấu
Xã Thượng Hóa với địa hình bao quanh là những dãy núi đá vôi và lèn cờ,
nên khối lượng đá vôi rất lớn mà chưa được khai thác để phát triển ngành công
nghiệp. Cảnh quan ở đây cũng rất đẹp, thơ mọng với nhiều lèn cờ, các hang động,
các suối nước chảy trên đá hay từ trong những dãy núi đá và lèn, có đèo đá đẻo rất
đẹp có thể khai thác để phát triển ngành du lịch được.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 17
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Là một bản dân tộc nằm heo hút xa đồng bằng, nên đời sống của họ gặp rất
nhiều khó khăn. Người dân ở đây có nhiều nhu cầu mong muốn được cải thiện và
đáp ứng. Chính vì vậy mà nhóm chúng em đã chọn địa bàn bản Ón ở xã Thượng
Hóa là cộng đồng để mình tìm hiểu biết được những nhu cầu cần thiết của bà con ở
đây. Để đánh giá nhu cầu của cộng đồng cần phải tiến hành theo 4 bước sau.
I. XÁC ĐỊNH NHU CẦU
1. Khái niệm nhu cầu
Nhu cầu là những mong muốn, nguyện vọng thiết yếu của cộng đồng cần
được đáp ứng và được thỏa mản để đảm bảo các điều kiện tồn tại và phát triển dựa
trên điều kiện của cộng đồng và sự hổ trợ nổ lực của chính quyền địa phương và
các tổ chức có liên quan.
2. Cơ sở để xác định nhu cầu
Để xác định được nhu cầu của người dân bản Ón xã Thượng Hóa huyện
Minh Hóa tỉnh Quảng Bình thì nhóm em đã tiến hành một số hoạt động để tìm hiểu
và thu thập thông tin nhằm xác định nhu cầu ưu tiên của bà con trong bản.
2.1. Qua khảo sát thực tế.
Nhóm em đã đi khảo sát địa bàn bà con dân tộc sinh sống, khi tới đây mới
biết được đời sống của họ khác hẳn với người dân tộc kinh. Cuộc sống lam lũ khổ
cực hầu như đại đa số người dân ở đây họ sống chỉ biết hôm nay ngày mai thế nào
thì tính tiếp. Cuộc sống thiếu thốn rất nhiều, đặc biệt họ không có nước để sinh
hoạt hằng ngày vào mùa khô. Cách thức sản xuất của họ thì cổ hủ lạc hậu từ xưa
đến nay như: chủ yếu là chăn nuôi tập trung trâu bò họ đánh dấu vào từng con và
thả vào rừng lâu lâu thì mới lên xem thế nào. Trong trồng trọt thì họ chủ yếu dùng
sức người để cuốc, xới đất chứ họ chưa biết dùng trâu, bò để xới đất. Đất đai ở đây
khá rộng có rất nhiều đồi đất trống để hoang.Ở đây không có trạm y tế, không có
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 18
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
chợ. Vào mùa mưa lũ thì hầu như ở đây đều bị ngập nước, không liên thông được
không có nước mà sinh hoạt lâu rồi nghe nói có dự án nước cung cấp cho bà con
mà không thấy mô hết”.
2.2.3. Phương pháp quan sát.
Từ việc thu thập các thông tin đã xác định được nhu cầu của người dân thỉ
em đã quan sát cộng đồng người dân bản Ón ở nhiều gốc độ khác nhau để biết
được chính xác nhu cầu của người dân ở đây là 4 nhu cầu trên cần thiết và thực sự
chính xác.
2.2.4. Phương Pháp sưu tầm và phân tích tài liệu.
Qua các tài liệu tham khảo cụ thể là những bài báo cáo chính trị và báo cáo
tình hình phát triển kinh tế xã hội của xã, một số tờ báo về vấn đề dân tộc ở huyện
Minh Hóa qua mạng internet.Từ đó nhóm em đã thảo luận phân tích nhu cầu của bà
con ở đây.
Qua việc thu thập thông tin em đã biết được cộng đồng người dân bản Ón có
nhiều nhu cầu cần phải đáp ứng .
Sau khi sử dụng các hình thức và phương pháp để thu thập và phân tích
thông tin tìm hiểu kỹ lưỡng thì nhóm em đã xác định chính xác 4 nhu cầu cơ bản
nhất của cộng đồng người dân bản Ón đó là:
Nhu cầu về nước sinh hoạt vào mùa khô.
Nhu cầu về tăng cường phương tiện đi lại vào mùa mưa lũ.
Nhu cầu cải tiến cách thức canh tác hiện nay.
Nhu cầu phát triển mô hình trồng rừng.
Tất cả 4 nhu cầu trên đều xuất phát từ thực tế từ chính cộng đồng bà con bản
Ón và sự mong muốn và nguyện vọng của họ đây là 4 nhu cầu ưu tiên nhất:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 20
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
3. Gỉả thích, phân tích và đánh giá nhu cầu
3.1. Nhu cầu nước sinh hoạt vào mùa khô.
Đây là một bản dân tộc thiều số họ sống cách xa đồng bằng người dân tộc
kinh cuộc sống lam lũ khó khăn thiếu thốn. Ngay cả nước là một nhu cầu thiết yếu
nhất của con người mà ai cũng cần nhưng người dân ở đây lại không có nước để
Qua việc tiếp xúc với hội nông dân của xã thì được biết bản Ón có diện tích
đất rừng khá lớn chiếm 53,7% tổng diện tích của toàn bản, với diện tích đất rừng
lớn mà có nhiều khuôn đất đồi trọc để trống, để hoang. Bà con ở đây không biết
vận dụng trồng cây gì nhằm nâng cao thu nhập cho mình mà đây toàn là đồng bào
dân tộc nên họ kém hiểu biết không biết lấy giống ở đâu để trồng và ai sẽ hướng
dẫn chỉ đạo cho họ. Được biết đất đồi trọc ở đây rất thuận tiện cho trồng các loại
cây như cây tràm, cây bạch đàn, cây keo…
Họ có đất có nguồn lực và có sự hướng dẫn chỉ đạo thì họ sẽ làm được để
đem lại thu nhập cho mình nhằm nâng cao đời sống cho chính mình. Chính vì vậy
mà đây là một nhu cầu cần thiết để nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc bản
Ón.
3.4 Nhu cầu về tăng cường phương tiện đi lại vào mùa mưa lũ.
Bản Ón nằm cách xa đồng bào dân tộc người kinh mà lại ở trong thung lũng
nên mùa mưa lũ ở đây hầu như bị ngập nước người dân không thể đi lại được,
không có lương thực để ăn không có phương tiện để vận chuyển đồ và không lưu
thông được với những nơi khác nên đến mùa mưa lũ cuộc sống của họ trở nên khó
khăn và bế tắc thêm. Đây là một nhu cầu cần thiết để họ có thể đi lại mua đồ dùng
trong mùa mưa lũ và có phương tiện để vận chuyển đồ đạc để ở ngoài đồng bằng để
ủy ban nhân dân xã vận chuyển lương thực vào để cứu trợ cho bà con ở đây.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 22
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Tất cả 4 nhu cầu trên đều xuất phát từ thực tế, chúng em đã xem xét phân
tích kỹ lưỡng và đã xác định 4 nhu cầu này là 4 nhu cầu cần thiết ưu tiên nhất cần
giải quyết của người dân bản Ón xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa Tỉnh Quảng
Bình.
II. SẮP XẾP NHU CẦU THEO THỨ TỰ ƯU TIÊN
Để sắp xếp lại nhu cầu theo thứ tự ưu tiên thì nhóm chúng em đã tiến hành
một buổi họp dân vào lúc 14h đến 15h ngày 20/11/2010 tại nhà sinh hoạt cộng
đồng bản Ón xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa Tỉnh Quảng Bình.
Không ai có thể hiểu cộng đồng hơn người dân ở đó nên để đảm bảo thực tế
Vậy nhu cầu ưu tiên nhất cần thiết nhất của bà con bản Ón là nhu cầu nước
sinh hoạt vào mùa khô, Nhu cầu này có số điểm cao nhất và tỷ lệ % lớn nhất, nên
được sắp xếp đầu tiên. Nhưng nhu cầu còn lại được sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến
nhỏ theo tổng điểm.
III. LÀM THỦ TỤC ĐỂ CÂN ĐỐI NHU CẦU
Tất cả 4 nhu cầu trên của bà con bản Ón đều xuất phát từ thực tế từ mong
muốn của người dân ở đây. Bốn nhu cầu này có tác động qua lại lẩn nhau. Tuy
nhiên cùng một lúc thì không thể giải quyết đáp ứng được 4 nhu cầu đó mà chỉ có
thể giải quyết được một nhu cầu ưu tiên nhất mà thôi. Đó là nhu cầu có tỷ lệ % lớn
nhất và được sự nhất trí thống nhất của người dân ở đây là nhu cầu nước sinh hoạt
vào mùa khô.
Để giải quyết được nhu cầu này thì cần được sự đồng tình nhất trí thống nhất
của nhà đầu tư cùng với người dân bản Ón, chính quyền UBND xã Thượng Hóa.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Mến – Lớp CĐ Công tác xã hội K50 24
Bài thu hoạch học phần thực hành Công tác xã hội II
Người dân ở đây muốn có nước sinh hoạt vào mùa khô thì phải có nhà đầu
tư, có nguồn tài trợ. Vậy ai sẽ là nhà đầu tư, những tổ chức nào có thể giúp cho
người dân ở đây có nước để sinh hoạt.
Đây là nhu cầu bức thiết nhất của người dân.Đó là mong muốn nguyện vọng
bấy lâu nay của họ. Qua nghiên cứu và tìm hiểu thì em đã tìm ra được một số
nguồn lực, tổ chức có thể đầu tư vào dự án nước sạch giúp cho người dân có nước
để sinh hoạt đó là:
Uỷ ban nhân dân huyện Minh Hóa
Dự án 30a
Công ty cấp thoát nước
Bộ tài nguyên và môi trường
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
WHO (Tổ chức y tế thế giới)
UNICEF (Quỹ nhi đồng liên hợp quốc)
IV. XÁC ĐỊNH NHU CẦU CẦN ĐÁP ỨNG