Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
MỤC LỤC
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
1
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
S
t
t
Nội dung Tr
an
g
I Lời cảm ơn 2
I
I
Nội dung 4
Phần 1: Lời giới thiệu về làng trẻ Birla 5
Phần 2: Tiến trình làm việc và can thiệp với
thân chủ
14
1 Tiểu sử về thân chủ 14
2 Tiến trình Công tác xã hội với cá nhân qua quá
trình làm việc và can thiệp với em Thức
19
Phần 3: Nhìn lại đợt thực tập 27
I
I
I
Một số buổi phúc trình 32
Đợt thực tập này là cơ hội thuận lợi để tôi có thể áp dụng những kiến
thức đã học của mình vào thực tiễn, vào tiến trình giúp đỡ thân chủ.
Quả thực tôi cảm thông cho hoàn cảnh của các em ở làng trẻ, nếu không
có đợt thực tập này thì tôi sẽ không có cơ hội xây đắp thêm những lỗ
hổng kiến thức của mình. Các em tuy có hoàn cảnh éo le và chịu nhiều
thiệt thòi nhưng bù lại các em có tấm lòng yêu thương nhau và đây là
điểm đã ghi lại sâu sắc trong lòng tôi. Tuy vậy, trong quá trình thực tập
ngoài một số thuận lợi, tôi đã gặp không ít những khó khăn nhất định và
nó đã phần nào hạn chế đến quá trình thực tập.
Thời gian thực tập kết thúc và tôi nhận thấy mình đã có nhiều cố gắng để
hoàn thành tốt các nhiệm vụ tại cơ sở và các yêu cầu liên quan đến môn học.
Theo yêu cầu môn học cứ mỗi tuần có tối thiểu hai buổi để làm việc với các em
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
4
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
và mỗi buổi là hai giờ nhưng tôi đã tận dụng hết thời gian có thể để đến cơ sở và
tiến hành thực tập. Trong hai tháng là những nỗ lực của tôi và tôi đã thu được kết
quả. Tôi xin gửi kèm báo cáo thực tập phần nội dung thực tập cụ thể của mình ở
trang đính kèm. Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cô, các
chú tại trung tâm Birla, cảm ơn cô giáo bộ môn đã giúp đỡ tận tình. Chúc mọi
người sức khỏe và hạnh phúc!
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2009
Sinh viên
Bùi Thị Liên
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
5
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Và như bản báo cáo đã trình bày, đây cũng là phần chính của báo cáo.
Trong phần nội dung cụ thể của báo cáo này, tôi xin chia thành ba phần chính
như sau:
Phần 1: Tổng quan về cơ sở- làng trẻ em Birla
Phần 2: Tiến trình giúp đỡ một thân chủ cụ thể
Phần 3: Nhìn lại đợt thực tập
Nội dung cụ thể các phần như sau:
Phần 1: Tổng quan về cơ sở- làng trẻ em Birla
Chúng ta thường biết và nhắc nhiều đến làng trẻ SOS mà không biết rằng
ngay cạnh làng trẻ đó còn tồn tại một làng trẻ mà mục đích hoạt động chẳng
khác nào làng trẻ SOS, chỉ khác rằng quy mô và sự quan tâm của chúng ta tới
làng trẻ đó còn quá ít. Đó là làng trẻ em Birla. Đây là một trung tâm nuôi dạy trẻ
mồ côi của Thành phố Hà Nội. Nó trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội Hà Nội, được thành lập ngày 2/11/1987, theo quyết định số 5026/QĐ-TC của
UBND Thành Phố.
Như chúng ta biết, con người sinh ra đều có những số phận và hoàn cảnh
khác nhau. Có những người sinh ra đã có một cuộc sống sung sướng, hạnh phúc,
có một mái ấm gia đình đầy ắp tiếng cười, được sống trong tình thương của bố
mẹ, người thân. Nhưng cũng có những số phận kém may mắn, những đứa trẻ
sinh ra đã không được biết bố mình là ai, mẹ mình là ai. Cuộc sống khó khăn đến
với các em khi các em còn quá nhỏ. Tuổi thơ của em phải chịu nhiều thiệt thòi.
Và để bù đắp phần nào, che chở phần nào cho những thân phận mồ côi đó, một
trung tâm chăm sóc trẻ mồ côi trong cả nước lại tiếp tục được ra đời. Đó là làng
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
7
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
trẻ Birla.
Hiện nay địa điểm của làng trẻ tại: Số 4 phố Doãn Kế Thiện - Phường Mai
nước ngoài, đặc biệt là sự quan tâm của ngài đại sứ hữu nghị Việt- Nhật
SUGIRYOTARO. Ông đã quan tâm và giúp đỡ làng trong hai mươi năm nay.
Hiện nay ông nhận đỡ đầu cho 30 con sống trong làng và đã trưởng thành.
Năm nào ông cũng tới thăm( ít nhất một lần) trao quà và chia sẻ những khó
khăn mà làng trẻ gặp phải. Thông qua các hoạt động, ông cũng kêu gọi nguồn hỗ
trợ ODA của Nhật. Nhân dịp 20 năm thành lập, Chính phủ Nhật đã tặng 86.000$
để xây dựng thêm một nhà chăm sóc và nuôi dạy trẻ ở trong làng. Tuy nhiên, số
tiền nói trên không đủ để khởi công xây dựng và phải xin thêm trợ cấp của thành
phố. Dự án đã được UBND Thành phố phê duyệt và cấp ngân sách của Nhà
nước xây dựng xong trong năm 1998. Ngôi nhà được khánh thành vào tháng
3/2009.
Số lượng trẻ mồ côi hiện nay được nuôi tại Làng trẻ ở 04 gia đình (nhà C1,
C2, C3, C4) là 120 trẻ. Mỗi gia đình có từ 30 đến 40 em đủ mọi lứa tuổi và hai
mẹ, riêng nhà C4 do mới xây dựng nên hiện tại chỉ có 2 em nhỏ trong gia đình.
Làng trẻ em Birla từ khi ra đời đến nay đã có những bước tiến đáng kể.
Làng đã gặp không ít những thuận lợi và khó khăn nhưng cán bộ và các em trong
làng đều đã cùng cố gắng vươn lên. Vì điều kiện và số lượng có hạn nên làng trẻ
chỉ đón nhận những em có hoàn cảnh như sau:
2. Điều kiện để trẻ được nhận vào nuôi dưỡng tại làng trẻ và chế độ
nuôi dưỡng tại làng trẻ
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
9
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
a. Điều kiện để trẻ được nhận vào nuôi dưỡng tại làng trẻ
- Các em mồ côi cả cha lẫn mẹ, mồ côi cha hoặc mẹ (người còn lại ốm đau
- nghèo khó không thể nuôi được con) có hộ khẩu thường trú tại Thành Phố Hà
Nội.
- Các em được đón vào Làng trẻ ở độ tuổi 2 - 12 và phát triển bình thường.
các em trong Làng.
3. Tình hình tài chính chung
Hiện nay, Bộ máy quản lý của Làng trẻ em Birla Hà Nội được nhà nước
giao chỉ tiêu là 23 người. Bao gồm:
- Ban giám đốc: 03 người. (Hiện nay chỉ có 2 người)
- Phòng Tổ chức - Hành chính: 08 người
- Phòng Y tế - Nuôi dưỡng: 08 người (trong đó có 07 bà mẹ)
- Phòng Giáo dục - Dạy nghề: 04 người
Lương và các khoản phụ cấp của bộ máy quản lý Làng trẻ do Nhà nước
cấp như sau:
Lương bình quân của cán bộ quản lý và các bà mẹ là 1.716.000
đồng/người/tháng (mỗi bà mẹ chịu trách nhiệm nuôi từ 18 - 19 trẻ).
Tình hình tài chính để nuôi dưỡng - giáo dục trẻ mồ côi được Ngân sách
Thành phố cấp như sau:
Tổng số tiền cho trẻ: 350.000 đồng/trẻ/tháng"
- Tiền ăn 3 bữa/ ngày: 300.000 đồng/trẻ/tháng tức 10.000/trẻ/ngày
- Tiền chi khác: 50.000 đồng/trẻ/tháng gồm:
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
11
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
+Tiền điện nước phục vụ sinh hoạt cho trẻ
+Tiền học (sách vở, đồ dùng học tập, học phí)
+Tiền mua thuốc chữa bệnh
+Tiền mua quần áo( mặc thường ngày- đồng phục), giày dép
+Các hoạt động ngoại khoá
Qua những nỗ lực và cố gắng của những con người nơi đây, từ cấp quản lý,
các cán bộ tới các bà mẹ và các con, những thành tựu mà làng trẻ em Birla hiện
nay đạt được là những kết quả đáng mừng và đáng trân trọng:
chương trình ngoại khoá của Thành phố, Ngành, địa phương và đều đạt thành
tích cao. Đó là một kết quả đáng trân trọng, là sự cố gắng của cán bộ và các em
trong Làng.
Ngoài ra, khi các em đã lớn, đến tuổi lập gia đình, Làng đã đứng ra tổ chức
lễ cưới cho 28 em và có giúp đỡ ban đầu cho gia đình mới của các em.
Một kết quả đáng tự hào nhất của Làng trẻ em Birla là đã nuôi dạy các em
mồ côi trưởng thành, trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, song song với những thành tích đã đạt được, làng trẻ luôn gặp
những trở ngại mà trở ngại lớn nhất là nguồn kinh phí nuôi dạy trẻ trong làng
còn thiếu thốn. Kinh phí được nhà nước cấp cho việc sinh hoạt, học tập của trẻ
quá thấp so với nhu cầu của các em:
5. Những khó khăn của làng trẻ trong quá trình nuôi dưỡng, giáo dục
trẻ
+ Về sinh hoạt: Không cung cấp đủ nguồn dinh dưỡng cho trẻ trong qua
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
13
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
trình nuôi dưỡng và sư phát triển của trẻ.
+ Quần áo, sách vở, đồ dùng học tập của trẻ không đáp ứng đủ nhu cầu.
+ Về hoạt động khác: không có kinh phí cho trẻ học tập thêm để nâng cao
kỹ năng và trình độ nên khả năng trẻ mồ côi tại Làng thi đỗ vào đại học còn hạn
chế.
- Các em thi đỗ vào đại học, cao đẳng, trung cấp nếu tiếp tục đi học gặp rất
nhiều khó khăn trong học tập và sinh hoạt vì Làng không còn kinh phí được nhà
nước cấp nuôi trẻ khi trẻ đã trưởng thành.
- Khi các em hoạt động ngoại khoá ở xa không có phương tiện đi lại.
- Công tác dạy nghề tại đơn vị chưa có điều kiện đầu tư: hiện tại Làng có
01 xưởng may hoạt động, còn lại xưởng mộc, hàn, điện chưa có.
hành chọn một trong hai em đó để làm đối tượng can thiệp của mình.
1. Tiểu sử về thân chủ:
Trường hợp 1:
Em tên là Cao Văn Thức, 18 tuổi. Hiện đang là học sinh lớp 9 trường trung
học phổ thông Cầu Giấy( Hà Nội). Mẹ em là một người đàn bà tha phương cầu
thực từ đâu tới Sóc Sơn( Hà Nội) sinh sống. Bà không có anh em họ hàng thân
thích, hàng ngày chỉ biết đi mò cua bắt ốc ngoài đồng về bán lấy tiền mua gạo.
Chị miệt mài lao động kiếm sống. Cuộc sống của chị gặp nhiều thiếu thốn và
khó khăn. Không may trong một đêm đi mò cua bắt ốc ngoài đồng, chị đã bị một
gã say rượu cưỡng hiếp và mang thai. Cuộc sống của một người đã khó nay lại
đèo bòng them một người nữa càng làm tăng sự thiếu thốn lên gấp bội.
Bà của Thức là một bà lão góa bụa, mù lòa, già yếu, gặp mẹ Thức và hai
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
15
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
người sống với nhau, xem nhau như mẹ con. Do cuộc sống khó khăn, thiếu thốn,
lao động nặng nhọc mà mẹ Thức sau khi sinh em xong đã không lâu nữa qua đời,
để lại hai bà cháu côi cút trong căn lều nhỏ rách nát ngoài đồng, ngày qua ngày
nương tựa vào nhau mà sống. Túp lều chỉ vẻn vẹn được một chiếc chõng tre, tối
đến bà nằm một bên còn một bên em ngồi học bài. Em chăm học, học giỏi. Thấy
tình cảnh khốn khó của hai bà cháu, chính quyền địa phương đã làm đơn xin cho
em được vào làng trẻ Birla( hiện nay em đang sống). Lúc mới vào, Thức học lóp
4 và liên tiếp trong hai năm lớp 4, lóp 5 em đều đạt học sinh giỏi. Tuy có một
cuộc sống tốt hơn trước nhưng em vẫn không lúc nào không nhớ về người bà
đang ở quê. Những lúc trời mưa, mọi người vẫn thường thấy em ra đứng ôm cột
nhà khóc. Hỏi ra mới biết em vì thương bà, không biết những lúc trời mưa bà
phải chống chịu ra sao với căn lều rách nát và gió lạnh của mình. Trong những
năm sống ở trung tâm, tận dụng thời gian mà trung tâm cho nghỉ, em lại về quê
Lớp: Công tác xã hội K51
Mẹ
Bố
Bà
Thân chủ(
em Thức)
17
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
Sơ đồ phả hệ:
Chú thích:
_ _ _ _ _ _ _ _ _: Mối quan hệ lỏng lẻo
: Mối quan hệ thân thiết
: Mối quan hệ xa cách
Như tôi đã nói ở phần đầu, hai em Thức và Hòa đều có những hoàn cảnh
đặc trưng riêng. Mỗi em khi tiếp cận sẽ có những thuận lợi và khó khăn nhất
định:
• Đối với thân chủ là em Hòa:
Vấn đề lớn của em bây giờ là việc học tập. Học lực của em kém so với các
bạn trong lớp. Kì vừa rồi, học lực của em xếp thứ 39/41. Tuy nhiên, điểm mạnh
mà em có được là em là học sinh ngoan, biết nghe lời. Hiện nay, ngoài trung tâm
ra em còn có mẹ, có người thân( Bà, cậu, dì…). Vì vậy, để giúp em chúng ta cần
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
Mẹ
Bố
Bà
Thânchủ(
em Hòa)
18
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
yêu cầu và thời hạn không cho phép nên tôi chỉ tiến hành được với một thân chủ.
Qua quá trình phân tích và làm việc với hai em, tôi quyết định chọn em Thức
làm thân chủ chính của mình bởi lẽ em Hòa còn nhỏ, suy nghĩ còn mang tính trẻ
con. Em Thức đang ở bậc học trung học cơ sở, lứa tuổi này đã có những thay đổi
trong suy nghĩ và nhận thức của mình. Tôi cũng hi vọng trong quá trình giúp đỡ
em Thức, em sẽ thay đổi lại suy nghĩ và hành động, em sẽ có một cái nhìn đúng
đắn hơn về bản thân và về cuộc sống của mình.
2. Tiến trình Công tác xã hội với cá nhân qua quá trình làm việc và
can thiệp với em Thức
Thời gian thực tập ở trung tâm kéo dài trong hai tháng và việc lựa chọn,
lên kế hoạch trị liệu và trị liệu cho thân chủ của tôi kéo dài trong vòng 5 tuần.
Khoảng thời gian này không thể nói là dài và đủ để tiến hành trợ giúp một người,
khiến người đó có thể thay đổi bản thân mình. Đồng thời, tôi đã gặp khó khăn
cho việc giành thời gian để tiếp cận thân chủ. Vốn trong Công tác xã hội làm
việc với cá nhân, chúng ta thường tiến hành giúp đỡ thân chủ qua bảy bước và để
trị liệu một cách có hiệu quả, tôi đã tiến hành lập kế hoạch. Tuy nhiên, trong một
số trường hợp kế hoạch đó cũng phải được thay đổi cho phù hợp. Trong bản kế
hoạch tôi nêu ra có sử dụng thời gian giúp đỡ thân chủ vào ban ngày nhưng do
em học ở lớp nên tôi không thể tiếp cận em một cách thường xuyên. Ở đây, khi
tiến hành làm việc với em Thức, tôi vẫn thực hiện đúng những bước trong tiến
trình và đã đạt kết quả khả quan. Quá trình trị liệu đó được diễn ra như sau:
Thứ nhất là tiếp cận thân chủ: Ở đây, chúng ta cần tạo mối quan hệ tốt với
trẻ để trẻ có niềm tin về người nói chuyện. Từ đó sẽ có thể thu thập thông tin một
cách tốt nhất. Em Thức là em có hoàn cảnh rất cá biệt. Trong nhà C1 cũng có
nhiều em với nhiều hoàn cảnh khác nhau nhưng xét trên nhiều phương
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
20
đỡ từ nhiều phía.
- Em không còn mẹ và bà
Các vấn đề đó đều có những nguyên nhân phát sinh, nhưng theo tôi
nguyên nhân lớn nhất là do hoàn cảnh. Từ sau khi bà mất, em dường như không
còn là em nữa. Em học theo những thói hư tật xấu ở bên ngoài. Để giúp đỡ em
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
21
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
Thức, tôi đã không quên tìm các điểm mạnh của thân chủ. Đó chính là nội lực, là
nguồn lực mà chúng ta cần phải dựa vào đó để giải quyết vấn đề.
Thứ ba là thu thập dữ liệu: Trong bước này, nhân viên công tác xã hội
không chỉ thu thập thông tin từ trẻ mà còn thu thập thông tin của những người
xung quanh trẻ để có cách nhìn khách quan và khái quát hơn về vấn đề đó. Để
biết và hiểu hơn về em Thức, ngoài việc tìm hiểu từ em, tôi đã nhờ tới sự giúp đỡ
của Kiểm huấn viên và các cô trong nhà C1. Đó là hệ thống nguồn lực mà tôi cần
phải khai thác. Như trên đã trình bày, từ sau khi bà mất, em đã coi như mình
không có quá khứ, em không nói với ai về bản thân mình. Bởi vậy, để thu thập
thông tin về em là rất khó và không đủ, tôi đã nói chuyện và tìm hiểu từ các cô
nuôi dạy em, từ nhóm đồng đẳng của em. Chính các nguồn lực này đã giúp tôi
rất nhiều trong quá trình hiểu biết về em.
Thứ tư là chẩn đoán: Dựa trên những thông tin thu nhận được, người nhân
viên công tác xã hội có thể xác định được tính chất nghiêm trọng của vấn đề
cũng như các yếu tố nảy sinh vấn đề của trẻ. Qua đó, tìm ra các mối liên hệ. Từ
các bước ở trên, bản thân tôi nhận thấy vấn đề quan trọng của em Thức hiện nay
cần phải tác động chính là việc giúp em giảm thiểu khả năng trốn học, học tốt
hơn, không được có hành động ức hiếp các em nhỏ. Đồng thời, phát huy được
nội lực của em.
Thứ năm là kế hoạch trị liệu: Ở bước này, nhân viên công tác xã hội cần
• Về kĩ thuật:
Đó là kĩ thuật “chiếc cốc đầy một nửa” và kĩ thuật “chuyến tàu cuộc đời”.
Kỹ thuật “chiếc cốc đầy một nửa” nêu lên những mong muốn và nhận thức của
thân chủ về sự thiếu hụt trong cuộc sống của em. Từ khi sinh ra Thức không biết
bố mình là ai, em thiếu đi tình thương của người bố và hiện tại hai người thân
duy nhất của em là mẹ và bà cũng đã qua đời. Em mong muốn có tình thương
yêu từ những người ruột thịt nhưng em lại không có được. Sử dụng kĩ thuật này
Sinh viên: Bùi Thị Liên
Lớp: Công tác xã hội K51
23
Nội dung báo cáo thực tập Gvhd: Ngô Thị Thanh Mai
Môn: Thực hành Công tác xã hội với cá nhân Khv: Lê Trọng Đức
tôi đã biết được phần nào những mong muốn và suy nghĩ của em. Riêng đối với
kĩ thuật thứ hai đó là việc cho thân chủ nhìn thấy một bức tranh vẽ đoàn tàu
trong đó bao gồm nhiều toa khác nhau. Mỗi toa ứng với một thời gian mà thân
chủ sống, những khó khăn mà thân chủ phải trải qua. Ở “ chuyến tàu cuộc đời”,
nhân viên xã hội chỉ ra cho thân chủ vấn đề hiện tại của thân chủ đang nằm ở toa
nào và nếu dần dần giải quyết từng bước thì cuối cùng con tàu đó sẽ về tới đích,
tức là thân chủ sẽ có một cái kết có hậu. Khi áp dụng kĩ thuật này cho thân chủ
của tôi, tôi đã thu được kết quả khả quan. Nó đã động viên và khích lệ em rất
nhiều.
• Về lý thuyết:
Có 2 thuyết được tôi sử dụng, đó là: thuyết nhận thức- hành vi và thuyết
hệ thống.
+ Nội dung của thuyết nhận thức- hành vi nói rằng: Mọi hành vi đều xuất
phát từ sự nhận thức của con người. Nhận thức đúng sẽ dẫn tới hành vi đúng và
ngược lại, nhận thức chi phối hành vi. Vì vậy, để thay đổi hành vi, chúng ta đòi
hỏi phải thay đổi nhận thức.
Trường hợp thân chủ là em Thức, hành vi của em hiện nay đều được xem
là lệch chuẩn. Em thường hay bỏ học, đánh bạn, ức hiếp em nhỏ tuổi hơn
( Birla)
Bạn bè
Cộng đồng
Nhóm đồng đẳng
( Bạn bè trong
trung tâm)
Nhân viên công
tác xã hội
25