PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển mọi mặt về đời sống kinh tế xã hội Việt Nam,
nhu cầu thực phẩm có nguồn gốc động vật đặc biệt là sữa trong đời sống nhân
dân ngày càng được nâng cao. Sữa là một trong những thực phẩm có giá trị
dinh dưỡng cao, cân đối thành phần các axít amin, các nguyên tố vi lượng,
vitamin. Các sản phẩm chế biến từ sữa ngày một đa dạng và được người tiêu
dùng ưa thích như pho mat, bơ, kem sữa, sữa chua tạo cho thị trường hàng
hóa mặt hàng sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa ngày càng phong phú, thỏa
mãn nhu cầu người tiêu dùng. Ở Việt Nam, nguồn cung cấp sữa chỉ đạt được
40% nhu cầu tiêu dùng của người dân. Do đó, việc nâng cao số lượng và chất
lượng đàn bò sữa là nhiệm vụ quan trọng của ngành chăn nuôi bò sữa nói
riêng và ngành chăn nuôi của cả nước nói chung.
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta không
ngừng nâng cao cả về số lượng và chất lượng( Tổng đàn bò sữa nước ta tăng
từ 41 ngàn con năm 2001 lên trên 115 ngàn con năm 2009 và sản xuất sữa
tươi tăng 4 lần hàng năm từ 64 ngàn tấn sữa năm 2001 lên trên 278 ngàn tấn
năm 2009). Ngành chăn nuôi bò sữa là một ngành khá mới nên việc chăm sóc
nuôi dưỡng đúng kỹ thuật để cho bò có sản lượng sữa cao, chất lượng sữa
đảm bảo và bò ít mắc bệnh là vấn đề các nhà chăn nuôi, cán bộ thú y cần quan
tâm nhằm tạo ra những con bò sữa đảm bảo chất lượng phù hợp với chăn nuôi
công nghiệp. Một trong những chính sách phổ biến hiện nay là nhập nội
những giống bò nổi tiếng trên thế giới như: Israel, Mĩ, Anh… Tuy nhiên, một
vấn đề khó khăn gặp phải khi thực hiện chính sách này là sự khó khăn trong
việc để đàn bò nhập nội thích nghi được với điều kiện khí hậu ở nước ta. Do
đó, việc nhân và lai tạo các giống bò sữa nhằm làm giảm chi phí và tạo ra đàn
bò có tính thích nghi cao với điều kiện khí hậu ở nước ta là vấn đề cấp thiết
của ngành chăn nuôi bò sữa nói chung và của công ty cổ phần thực phẩm sữa
TH nói riêng. Trong quá trình nhập giống và sau đó là nhân giống giống bò
nhập nội công tác chăm sóc, phòng bệnh cho bê còn nhiều hạn chế nên hiệu
quả còn chưa cao. Do khả năng miễn dịch bê còn thấp, bê mắc nhiều bệnh về
thai, bê nghé có điều kiện sống ổn định, không chịu tác động trực tiếp của các
yếu tố ngoại cảnh, sự trao đổi chất thông qua nhau thai. Khi ra khỏi cở thể
mẹ, bê nghé chịu tác động trực tiếp của ngoại cảnh. Đây là thời điểm “khủng
hoảng” của bê.
Khó khăn thứ hai bê gặp phải khi ra ngoài môi trường sống là khả năng
tự vệ của bê còn thấp. Khi sơ sinh, số lượng hồng cầu khá cao (khoảng 10
triệu) nhưng số lượng bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu đa nhân trung tính vẫn
còn ít, globulin và kháng thể hầu như không có, thành phần này tăng lên sau
khi bê bú sữa đầu, cơ chế dung giải vật lạ của gan chưa có, khả năng điều tiết
thân nhiệt kém. Do đó phải cho bê nghé bú sữa đầu ngay sau khi đẻ vì nó có ý
nghĩa hết sức quan trọng đối với việc làm tăng kháng thể, tăng hàm lượng
Vitamin A, tăng khả năng chống bệnh tật và tăng cường trao đổi chất.
Khó khăn tiếp theo, cơ năng tiêu hóa của bê chưa được hoàn thiện.
Hàm lượng axit HCl trong dạ múi khế khi mới
sinh chưa có, các tuyến tiêu
hóa phát triển chưa hoàn chỉnh, chủ yếu là tiết các men tiêu hóa sữa, hoạt lực
của các men khác thấp. Dạ cỏ và các chức năng tiêu
hóa thức ăn thực vật chưa
phát triển (khi sơ sinh dạ cỏ chỉ bằng 1/2 dạ múi khế).
3
2.1.2 Thời kỳ sau cai sữa
Thời kỳ này được tính từ khi cai sữa đến khi thành thục về tính (10 - 12
tháng tuổi). Trong giai đoạn này bê tăng trọng cao khi nuôi bằng thức ăn thực
vật. Tuyến sinh dục, tuyến sữa bắt đầu phát triển. Chính vì vậy, để làm tốt
công tác bồi dục có định hướng cho bê cần phải bắt đầu từ
thời kỳ này.
2.2. Quy luật phát triển không đồng đều của bê
2.2.2.Thể vóc
Thể vóc chủ yếu là do hệ xương và cơ tạo nên. Thời kỳ trong bào thai
mô xương có cường độ phát triển mạnh nhất, còn sau khi sơ sinh tốc độ phát
triển của mô xương giảm xuống nhưng mô cơ lại tăng. Các phần khác của mô
xương cũng có tốc độ phát triển riêng. Trước khi sinh xương ngoại vi phát
triển mạnh hơn xương trục làm cho bê phát triển chiều cao và chiều rộng
nhưng chiều dài chưa được phát triển. Ngược lại sau khi sinh hệ xương trục
phát triển mạnh làm cho cơ thể dài ra.
Mô cơ phát triển mạnh ở 12 - 14 tháng tuổi đầu. Sau đó cường độ sinh
trưởng và tăng trọng tuyệt đối của mô cơ giảm. Mô mỡ được tích lũy trong cơ
thể ở độ tuổi muộn hơn.
2.2.3.Trao đổi chất
Cơ thể non có cường độ tổng hợp Protein mạnh. Tuổi càng tăng thì khả
năng này giảm xuống cùng với sự thay đổi cơ cấu của các loại Protein: ở con
vật non Nucleoprotein chiếm tỷ trọng lớn, khi tuổi tăng lên cơ thể
tích lũy
nhiều các Protein có chức năng đặc biệt với khả năng tự đổi mới thấp.
Độ tuổi càng cao mỡ chiếm chủ yếu trong thành phần tăng trọng. Các
giống sớm thành thục mỡ sớm tích lũy hơn.
2.3. Một số hiểu biết chung về hội chứng tiêu chảy
2.3.1. Khái niệm chung về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là hiện tương tăng số lần thải hoặc tăng thành phần nước
trong phân, tăng khối lượng phân (Vũ Đình Vượng, 2004) [32]. Tiêu chảy là
biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa. Hiện
tượng lâm sàng này tùy theo đặc điểm, tính chất diễn biến, tùy theo độ tuổi
mắc bệnh, tùy theo yếu tố được xem là nguyên nhân chính mà nó được gọi
theo nhiều tên bệnh khác nhau: Chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu
hóa,
thể. Khi hiện tượng tiêu chảy xảy ra, cơ thể gia súc phải chịu một quá trình
bệnh có những nét đặc trưng chung. Vì vậy, trong công tác thú y, nếu biết
được nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh thì việc xây dựng quy trình phòng trị
bệnh mới đạt hiệu quả cao.
2.3.2.1. Sự thăng bằng dịch ở ruột
Ở gia súc khỏe mạnh, quá trình hấp thu, bài tiết nước và chất điện giải,
xẩy ra trên toàn chiều dài của ruột. Tại đây nước và chất điện giải được hấp
thu đồng thời ở nhung mao và bài tiết ở các lỗ thông của nhung mao ruột,
điều đó đã tạo ra luồng trao đổi hai chiều của nước và điện giải giữa lòng ruột
và trong máu. Vì quá trình hấp thu thường lớn hơn quá trình bài tiết nên dịch
được hấp thu vào máu nhiều hơn. Ở gia súc khỏe mạnh bình thường hơn 90%
6
dịch ruột non được tái hấp thu, nước còn lại xuống ruột già, tại đó quá trình
hấp thu lại được tiếp tục và chỉ khoảng từ 50 – 140 ml nước được thải ra
ngoài qua phân trong một ngày. Bất kỳ một thay đổi nào xẩy ra trong luồng
trao đổi hai chiều nước và điện giải trong ruột non như tăng bài tiết, giảm hấp
thu, hoặc cả hai đều gây ra giảm hấp thu hơn hoặc tăng bài tiết hơn. Vì vậy, sẽ
làm tăng khối lượng dịch xuống ruột già. Do đó, nếu lượng dịch này vượt quá
khả năng hấp thu của ruột thì sẽ dẫn đến hiện tượng tiêu chảy.
2.3.2.2. Sự mất nước
Hậu quả trực tiếp và nặng nề nhất của hiện tượng tiêu chảy là mất nước
và các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý. Theo
các nhà bệnh lý có thể phân hóa sự mất nước thành ba thể gồm mất nước ưu
trương (sự mất nước đơn giản), mất nước đẳng trương (như mất dịch đẳng
trương) khi ra nhiều mồ hôi, bệnh thận, viêm ruột, mất nước nhược trương
(Như trong colibacillosis thể độc, Salmonellosis ở ngựa).
Ở con vật, bệnh tiêu chảy lượng nước mất tùy theo nguyên nhân và
mức độ trầm trọng của bệnh kết quả khảo sát của Fisher và Martines (1975) ở
bê khỏe, bê bị tiêu chảy còn sống và bê bị chết vì tiêu chảy trên các chỉ tiêu
lượng nước mất qua phân lần lượt 50 - 140 ml/ngày, 300 - 900mm/ngày, 800
+
và Cl
-
. Ở thành ruột, có
áp lực thẩm thấu ưu trương, gia súc duy trì nồng độ đẳng trương bằng cách
lấy nước từ hệ tuần hoàn hay dịch từ các bộ phận khác. Tuy nhiên lấy nước từ
hệ tuần hoàn xảy ra nhanh chóng hơn.
Ion K
+
cũng bị hao hụt do tiêu chảy, tuy nhiên do huy động K
+
từ tế bào
ra nên làm K
+
có chiều hướng tăng (nhất là trong trường hợp acidocis) làm
ảnh hưởng xấu đến hoạt động hệ tim mạch (tim đập chậm, loạn nhịp).
2.3.2.4. Rối loạn Enzym
Ở bê bình thường glucid và protid được tiêu hóa ở ruột non. Glucid
trong khẩu phần gia súc non chủ yếu là Lactoza, chỉ được hấp thu khi bị thủy
phân thành glucoze nhờ men galactosidaza.
Lactoza
Galactosidaza
Glucose + Glactose (hấp thu được).
Các tế bào chứa enzym đầu tiên ở vùng sâu của thành ruột, dần dần
trưởng thành và di chuyển lên tầng ba của nhung mao. Thời gian di chuyển từ
3 - 5 ngày. Nếu vật bị nhiễm virus, tốc độ di chuyển của loại tế bào trên nhanh
hơn và làm enzym giảm hoạt tính. Hiện tượng giảm hoạt tính của Beta
galactosidaza thấy ở bê, nghé chết do tiêu chảy nói chung, ở bê nghé và lợn bị
nhiễm Rota virus, ở lợn bị viêm dạ dày, ruột truyền nhiễm. Sự tổn thương
màng nhầy làm thức ăn không tiêu hóa nhiều, phân chưa tiêu hóa được
Nước uống đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng đóng vai trò quan
trọng. Nước được sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày cũng như để chăn nuôi
gia súc, gia cầm cũng có thể là một trong những yếu tố gây bệnh tiêu chảy.
Theo các tài liệu khoa học trên thế giới, có hơn 300 loài bệnh lây
truyền qua nước. Vi sinh vật truyền qua nước gây nên hầu hết các bệnh ở
đường tiêu hóa. Vì vậy, mỗi người chăn nuôi cần cung cấp cho vật nuôi thức
ăn, nước uống đảm bảo vệ sinh, để hạn chế bệnh cho gia súc.
Ngoài ra, nếu nhiệt độ pha sữa quá nóng hoặc quá lạnh, lượng sữa cho
ăn không phù hợp với nhu cầu của bê cũng là nguyên nhân gây nên bệnh tiêu
chảy ở bê.
2.3.3.3. Nguyên nhân do vi khuẩn
Vi khuẩn gây viêm ruột ở bê thường là: E.coli, Proteus vulgaris,
Salmonella enteritidis, Clostridium…
9
Trong tác nhân sinh học, vi khuẩn được xem là những tác nhân thứ phát
sau những sơ suất về thức ăn dinh dưỡng, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý.
Trong đường tiêu hóa của động vật, ngoài các vi khuẩn có lợi có tác dụng lên
men, phân giải các chất trong đường tiêu hóa, giúp cho sinh lý tiêu hóa của
gia súc diễn ra bình thường. Thì các vi khuẩn như: E.coli, Proteus vulgaris,
Salmonella enteritidis, Clostridium… luôn là những nguyên nhân gây lên sự
rối loạn về tiêu hóa, viêm ruột và ỉa chảy ở người và nhiều loài động vật khác.
Theo Nguyễn Ngã và cs (2000), [17] khi phân lập và giám định vi
khuẩn trong 189 mẫu phân ỉa chảy cho thấy có 4 loài chính: E. coli,
Salmonella, Klebsiella và Shigella. Trong đó E.coli chiếm tỷ lệ cao nhất
(72,48%), tiếp theo Salmonella (51,32%).
Theo nghiên cứu của Lê Văn Tạo và cs (2007) [29] từ 20 mẫu bệnh
phẩm lấy từ trâu bò chết đột tử ở các tỉnh phía Bắc, đã phân lập, xác định
được E.coli chiếm 100%, Clostridium perfrigens chiếm 95% chất chứa trong
ruột và 75% bệnh phẩm gan.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [16] khi nghiên cứu trên bê bị tiêu chảy đã
có nhiều nhưng thường thấy là virus Parvo virus ở bê con. Tiêu chảy ở bê do
E.coli thường kết hợp với một số nguyên nhân gây bệnh virus như Rotavirus,
Parvovirus (Lê Văn Tạo, 2004) [25]. Hiện nay đã xác định được 7 nhóm
huyết thanh (Serotyp) của virus Rota (A, B, C, D, E, F, G). Cả 7 nhóm đều
gây ỉa chảy ở súc vật (Lợn, bê, cừu non…) (Bùi Đại và cs, 2005) [5].
Bệnh tiêu chảy bê nghé còn do nhiễm các loại virus: Rotavirus,
Adenovirus, vius dịch tả trâu bò, virus viêm ruột bò (Bovine Rhinotracateitis
infection - IBK).[16].
2.3.3.5. Nguyên nhân do nấm mốc
Nấm mốc giữ vai trò quan trọng trong chế biến thực phẩm. Một số nấm
mốc có ích vì chúng sản sinh những sản phẩm làm tăng mùi vị thực phẩm còn
trong số khác làm hư hỏng thực phẩm. Còn có một số nấm mốc, trong đó một
số chủng có thể sản sinh độc tố nguy hiểm đối với sức khỏe con người như
độc tố vi nấm Aflatoxin (Bùi Minh Đức và cs, 2005) [8].
Trong điều kiện nhiệt đới nóng và độ ẩm cao, các thức ăn gia súc nếu
không bảo quản tốt sẽ bị mốc. Một số chủng nấm mốc cúc vàng khi phát triển
trên thức ăn sẽ sinh ra độc tố Aflatoxin nhất là trên ngô, lạc và đậu tương
(Trần Minh Châu, 2005) [3].
Theo Lệ Thị Tài (1997), [24] thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không
đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc, một số loài như: Aspergillus, Pelicillum,
11
Fusarium… có khả năng sinh sản nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là
nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1). Độc tố Aflatoxin: B1, B2,
G1, G2 làm ức chế quá trình tổng hợp protein, men tiêu hóa, men gan, gây thiếu
protein, men gây nhiễm mỡ, thoái hóa gan, giảm chức năng hoạt động của các cơ
quan và dẫn đến hiện tượng tiêu chảy. Chất độc Aflatoxin do các loại nấm
Aspergillus Flavus, A; Praciticus, A; Niger; Penicillin… sản sinh ra. Hiện có 4
loại Aflatoxin chính B1, B2, G1, G2 và 6 dẫn xuất của chúng là M1, G2a, GM1,
P1, Q1, trong đó B1 có hàm lượng lớn nhất và độc nhất.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002), [16] Nấm Candida là một trong
nấm mốc… xâm nhập vào ruột cũng gây tác hại tương tự như vi khuẩn. Ngoài
tác hại phá hoại tổ chức dạ dày, gây ỉa chảy thì nấm mốc còn tiết độc tố gây
nhiễm trùng toàn thân. Do đó, trong chăn nuôi bê, phải thực hiện đúng quy
trình nuôi dưỡng như bê cần được bú sữa đầu đầy đủ, đảm bảo vệ sinh chuồng
trại, dụng cụ chăn nuôi, máng ăn và máng uống. Khi pha sữa cho bê uống
phải đảm bảo đúng nhiệt độ,
Bệnh tiêu chảy ở bê do rất nhiều nguyên nhân gây ra, có liên quan đến
nhiều yếu tố. Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm đến, nhằm
tìm ra những phương pháp điều trị hiệu quả nhất.
2.3.4. Triệu chứng lâm sàng
Bê có thời gian ủ bệnh 2-3 ngày, sau đó có những dấu hiệu lâm sàng
như bê uống nhiều nước, ăn ít hoặc bỏ ăn, không nhai lại, thức ăn bị đầy, ứ
trong dạ dày, dạ lá sách bị cứng. Sau đó con vật bệnh ỉa lỏng, đầu tiên có
nhiều phân sệt, vài ngày sau đó ỉa chảy nặng, phân chỉ là dịch màu xám xanh,
xám vàng và có mùi tanh. Bê trũng mắt, da nhăn nheo và trong tình trạng mất
nước, rối loạn các chất điện giải (muối K, Na, Ca) trong máu.
Các trường hợp nặng, bê mắc bệnh còn bị xuất huyết ruột, trong phân
lẫn máu và niêm mạc ruột lầy nhầy. Từ đó làm cho bê non thường bị chết sau 3 -
4 ngày với tỷ lệ cao 30 - 40 % số súc vật bệnh nếu như không điều trị kịp thời.
2.3.5. Dịch tễ học
Động vật mắc bệnh xảy ra chủ yếu ở bê non. Trâu, bò trưởng thành ít
mắc, bệnh xảy ra có tính chất mùa vụ. Mùa Xuân có mưa phùn ẩm ướt và
mùa Hè nóng ẩm làm cho bệnh ỉa chảy xảy ra nhiều, có khi chiếm 40 - 50 %
tổng số trâu bò cơ sở. Theo nghiên cứu của Nguyễn Tất Thành (2007), [28]
hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra. Chính vì vậy, sự
xuất hiện bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác
13
giữa nguyên nhân với cơ thể gia súc. Các yếu tố tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn,
chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng… đều có ảnh hưởng tới bệnh tiêu
chảy ở gia súc.
nước, acidosis, rối loạn chất điện giải và cân bằng năng lượng kém hoặc
đường huyết thấp (Đào Trọng Đạt, 1998) [6].
Phân nhão cho đến toàn nước, màu của phân chuyển từ vàng nhạt sang
màu trắng, trong phân có lẫn những vết máu, phân có mùi hôi thối, phân dính
vào đuôi và xung quanh hậu môn. Thân nhiệt thường bình thường hoặc cao
hơn một chút nhưng vào giai đoạn cuối hay hạ xuống dưới mức bình thường,
bê nghé có thể bỏ bú, không uống nước, đôi khi có chướng bụng. Ở những bê
nghé bị thể nhẹ có thể qua khỏi sau một vài ngày không cần điều trị nhưng
14
khoảng 15 - 20% bê nghé bị bệnh ngày một nặng hơn, suy sụp toàn thân,
nhiễm độc huyết dẫn đến chết nếu không điều trị tích cực là những triệu
chứng thường thấy khi bê nghé bị tiêu chảy (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002) [16].
Bê bị tiêu chảy nặng thường ỉa phọt cần câu, phân có nhiều nước. Bê ủ
rũ, gầy còm, da khô, lông xù và mắt trũng xuống.
2.3.8. Một số biện pháp phòng bệnh tiêu chảy
Phòng bệnh bằng các biện pháp quản lý và chăm sóc nuôi dưỡng. Đối
với gia súc non sự tác động của các yếu tố gây bệnh rõ rệt hơn, gia súc trưởng
thành, do hệ thống thần kinh cũng như hệ thống đáp ứng miễn dịch của cơ thể
chưa hoàn thiện. Chính vì vậy tỷ lệ gia súc non mắc bệnh trong đó các bệnh
về đường tiêu hóa thường cao hơn đối với gia súc trưởng thành.
Khi đề cập tới sự ảnh hưởng của ngoại cảnh lên cơ thể động vật, các
yếu tố nhiệt độ, ẩm độ quá cao hoặc quá thấp so với khu điều hòa nhiệt của gia
súc tạo ra các stress cho cơ thể, dễ phát sinh bệnh trong đó phổ biến là bệnh tiêu
hóa. Biện pháp phòng bệnh tiêu chảy ở gia súc trước hết là hạn chế, loại trừ các
yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực. Khắc phục những bất lợi về đều kiện
thời tiết khí hậu (giữ môi trường tiểu khí hậu ở chuồng nuôi luôn ấm áp về mùa
đông, thoáng mát về mùa hè, tránh hiện tượng mưa tạt, gió lùa, hạn chế độ ẩm…)
để tránh rối loạn tiêu hóa ổn định trạng thái cân bằng giữa cơ thể và môi trường.
Giữ vệ sinh chuồng nuôi là hạn chế khí độc do phân rác sinh ra và loại trừ mầm
bệnh tồn tại trong chất thải (Sử An Ninh, 1993) [21].
điển, bất hoạt, tiêm. Đây là vacxin TAB được làm từ vi khuẩn bất hoạt bằng
nhiệt. Trong 1ml vacxin có 1000 triệu tế bào Salmonella typhi; 250 triệu tế
bào Salmonella paratyphi A; 250 triệu tế bào Salmonella paratyphi B. Hiện
nay, vacxin này không được dùng. Vacxin polysaccharid VI được điều chế từ
chất polysaccharid của vỏ vi khuẩn. Vacxin sống, uống được sản xuất từ biến
chủng Salmonella typhi không gây bệnh (Nguyễn Đình Bảng và cs, 2003) [1].
Vacxin phòng bệnh do vi khuẩn lỵ Shigella gây ra có hai loại vacxin lỵ:
(tiêm và loại uống).
Phòng bệnh đối với vi khuẩn Cl.Perfrigens type C sử dụng giải độc tố
của vi khuẩn yếm khí Cl.Perfrigens type C để tiêm cho trâu, bò mẹ hai lần
trong thời kỳ mang thai. Lần tiêm thứ nhất vào giữa kỳ và tiêm nhắc lại lần
thứ hai trước khi đẻ 2 - 3 tuần. Bê, nghé non sẽ được bảo vệ bởi các glubolin
miễn dịch có trong sữa đầu và trong suốt thời kỳ bú sữa.
16
2.3.9. Điều trị tiêu chảy ở gia súc
Theo Phạm Ngọc Thạch (2005), [26] để điều trị hội chứng tiêu chảy ở
gia súc nên tập trung vào 3 khâu. Thứ nhất, loại trừ những sai sót trong nuôi
dưỡng như loại bỏ thức ăn kém phẩm chất (ôi, mốc…), giảm thức ăn xanh
chứa nhiều nước, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, loại bỏ thức ăn không tiêu hóa
được, đang lên men trong đường ruột. Thứ hai, khắc phục rối loạn tiêu hóa và
chống nhiễm khuẩn những vi khuẩn đã phân lập được ở gia súc viêm ruột ỉa
chảy. Thứ ba, điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải.
Nguyên lý chung của điều trị bệnh tiêu chảy ở bê nghé cũng giống như
các gia súc khác là loại bỏ nguyên nhân gây bệnh. Nếu nguyên nhân do thức
ăn thì phải thay đổi thức ăn, nếu nguyên nhân là do vi khuẩn phải sử dụng các
loại kháng sinh, hóa dược để tiêu diệt mầm bệnh, dùng hóa dược để tiêu diệt
nấm mốc hoặc tiêu diệt các loại ký sinh trùng. Đồng thời với điều trị nguyên
nhân kết hợp với điều trị triệu chứng, trước hết kịp thời bổ sung nước và chất
điện giải, các yếu tố vi lượng bị mất bằng cách cho uống khi tiêu chảy nhẹ
hoặc truyền tĩnh mạch các dung dịch nước muối sinh lý 0,85%, dung dịch
chia 2 lần cho uống trong ngày.
Thuốc điều trị triệu chứng và thuốc trợ sức như phác đồ
* Phác đồ 3: Điều trị ỉa chảy do giun tròn và nhiễm khuẩn (giun
đũa, giun xoắn dạ dày, giun tóc…)
Thuốc điều trị: Phối hợp tẩy giun và kháng sinh
Tẩy giun dùng một trong hai loại thuốc sau:
Mebendazol 10 - 15mg/kgTT/ngày; Tetramisol 7 - 10 mg/kgTT/ngày.
Thuốc tẩy chỉ dùng một lần. Chỉ dùng thuốc tẩy khi phát hiện trong phân vật
bệnh có các loại trứng giun và có dấu hiệu lâm sàng nhiễm giun.
Chống nhiễm khuẩn: Phối hợp kháng sinh và Sulfamide:
Chlorampenicol 20 -30mg/kgTT/ngày; Bisepton 40 - 50mg/kgTT/ngày, phối
hợp 2 loại thuốc dùng liều trong 3 - 4 ngày.
Thuốc điều trị triệu chứng và thuốc trợ sức như phác đồ 1.
Ở cả 3 phác đồ trên khi điều trị cần cho vật ăn nhẹ, giảm lượng rơm cỏ
để tránh cọ sát vào niêm mạc ruột, cho ăn thêm cháo gạo. Cách ly vật bệnh ra
khỏi đàn gia súc.
2.4.Tình hình nghiên cứu hội chứng tiêu chảy ở bê nghé trong nước
Trương Quang và cs (2006), [26] khi phân lập vi khuẩn E.coli từ 168
mẫu phân bê, nghé không bị tiêu chảy và 172 mẫu phân bê, nghé bị tiêu chảy
18
kết quả cho thấy bê bị tiêu chảy nhiễm E. coli cao gấp 2,99 (bê) và 2,77 lần
(nghé) so với trong phân bê, nghé không bị tiêu chảy; các chủng mang kháng
nguyên bám dính tăng gấp 3,4 và 2,9 lần; khả năng dung huyết gấp 2,1 và
2,77 lần; khả năng sinh sản độc tố đường ruột gấp 6,93 và 3,69 lần; độc tố
giết chuột cũng tăng gấp 2 - 3 lần.
Từ 112 mẫu phân bê bị tiêu chảy thu thập từ các tỉnh Nam Trung Bộ đã
được xét nghiệm, phân lập E.coli và xác định độc lực, khả năng gây bệnh của
vi khuẩn trên động vật thí nghiệm (Nguyễn Văn Quang, 2002) kết quả cho
thấy tất cả các mẫu phân đều phân lập được E.coli, tỷ lệ dương tính 100%.
12/12 chủng phân lập được đều có khả năng gây chết chuột bạch trong vòng 6
Năm 1891, C.O Jensen đã tách được S.dublin từ bệnh phẩm của bê bị tiêu
chảy. Cùng năm đó loài S.typhimurium được phát hiện ở Greiswal và Breslan
(Bùi Văn Ý, 2007) [33].
Ở Nam Úc theo tài liệu của Dobson (1972) thì bệnh do vi khuẩn Salm
onella gây ra là một bệnh phổ biến nhất. Ở Newzealand thấy tỷ lệ nhiễm trong
đàn bò cừu là 13 - 15% và 4% trong đàn bò thịt.
20
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bê sữa Holstein Friesian (HF) từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi tại trại bò sữa
số 3- Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH xã Nghĩa Sơn – huyện Nghĩa Đàn
- tỉnh Nghệ An.
3.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Địa điểm tiến hành.
Trại bò sữa số 3 - Công ty Cổ phần thực phẩm sữa TH xã Nghĩa Sơn –
huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An.
* Thời gian tiến hành.
Từ ngày 1/12/2011 đến 30/04/2012.
3.1.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ bê mắc bệnh tiêu chảy theo đàn và theo cá thể.
- Tỷ lệ bê mắc bệnh tiêu chảy theo theo tính biệt.
- Tỷ lệ bê mắc bệnh tiêu chảy theo các tháng trong năm.
- Tỷ lệ bê mắc bệnh tiêu chảy theo lứa tuổi.
- Tỷ lệ bê chết do mắc bệnh tiêu chảy .
- Tỷ lệ bê khỏi bệnh sau khi sử dụng các phác đồ của cơ sở.
3.1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: Chia các dãy chuồng thành các lô
sodium + Lactat ringer. Tùy vào lượng mất nước của cơ thể và tình trạng của
bê mà chuyền lượng khác nhau.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê sinh vật học
bằng phần mềm Microsoft Excel trên máy vi tính theo Chu Văn Mẫn (2002) [19].
Tỷ lệ bê mắc bệnh (%) =
Tổng số bê mắc bệnh
x 100
Tổng số bê điều tra
Tỷ lệ bê mắc bệnh theo tính biệt (%) =
Tổng số bê (cái, đực) mắc
bệnh
x 100
Tổng số bê (cái, đực) điều
tra
22
Tỷ lệ bê mắc bệnh theo tháng (%) =
Tổng số bê mắc bệnh trong
tháng đó
x 100
Tổng số bê điều tra trong
tháng đó
Tỷ lệ bê mắc bệnh theo lứa tuổi (%) =
Tổng số bê mắc bệnh ở
lứa tuổi đó
x 100
Tổng số bê điều tra ở lứa
tuổi đó
Tỷ lệ bê chết (%) =
tiêu chảy
(con)
Tỷ lệ
(%)
A1 8 4 50,00 106 13 12,26
A2 6 4 66,67 108 17 15,74
C1 7 4 57,14 126 17 13.49
C2 11 6 54,55 198 25 12,63
Tổng 32 18 56,25 538 72 13,38
Từ bảng 4.1 cho thấy, tỷ lệ bê mắc bệnh tiêu chảy theo đàn tương đối
cao 18 trong tổng số 32 đàn theo dõi có bê bị tiêu chảy, chiếm tỷ lệ 56,25%
và 13,38% bê con theo dõi có hội chứng tiêu chảy (72 bê bị tiêu chảy trong
tổng số 538 bê theo dõi). Sở dĩ có kết quả trên có thể do một số nguyên nhân
như sức đề kháng của cơ thể còn thấp, bê sống trong cơ thể mẹ khi sinh ra
ngoài môi trường chịu tác động các yếu tố ngoại cảnh nên bê dễ mắc bệnh, bê
đực không được uống sữa đầu đầy đủ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng chưa phù
hợp, thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột…
Kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu thấp hơn so với kết quả
nghiên cứu của tác giả Lê Minh Chí (1995), tỷ lệ bê mắc bệnh tiêu chảy 70 -
80%. Nguyên nhân của sự sai khác do các bê theo dõi là bê của công ty TH
được nuôi theo hình thức trang trại với quy mô nuôi tập trung; các khâu quản
lý, chăm sóc, nuôi dưỡng được thực hiện tốt, được cho uống sữa đầu đầy đủ,
thức ăn, nước uống đảm bảo vệ sinh, quy trình phòng trị bệnh được thực hiện
triệt để. Bên cạnh đó, trang trại mới được xây dựng nên các dụng cụ và
phương tiện hiện đại như có quạt thông gió, đèn hồng ngoại sưởi ấm cho bê,
có hệ thống bạt che chắn khi có thời tiết bất lợi.
Kết quả thu được ở bảng 4.1 cho thấy bê được nuôi ở dãy chuồng A2
có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất 15,74%. Nguyên nhân do dãy chuồng này được
24
xây dựng ở giữa các dãy chuồng theo dõi, lại gần kho chứa thức ăn và dụng
Số bê
theo dõi
(con)
Số bê bị
tiêu chảy
(con)
Tỷ lệ
(%)
Số bê
theo dõi
(con)
Số bê
bị tiêu
chảy
(con)
Tỷ lệ
(%)
A1 55 4 7,27 51 9 17,65
A2 49 6 12,24 59 11 18,64
C1 58 7 12,07 68 10 14,70
C2 94 10 10,63 104 15 14,42
Tổng 256 27 10,55 282 45 15,98
Kết quả thu được ở bảng 4.2 cho thấy 10,55% bê cái theo dõi bị tiêu
chảy (27 con bị tiêu chảy trong tổng số 256 bê theo dõi), thấp hơn so với số
25