I. Bối cảnh nghiên cứu
Ngày nay, các nghiên cứu xã hội học đã khẳng định xã hội nào cũng có
hiện tượng đồng tính luyến ái. Tuy không thể thống kê một cách chính xác,
nhưng các nhà khoa học trên thế giới ước tính người đồng tính luyến ái chiếm
khoảng 3% dân số của mỗi quốc gia. Tỉ lệ này gần như không thay đổi giữa
các quốc gia, thời đại hoặc nền văn hoá.
Mặc dù người đồng tính luyến ái là một bộ phận hợp thành nên nhân loại
nhưng ở nhiều nơi trên thế giới họ vẫn là nạn nhân của tình trạng ngược đãi.
Tại những nước theo đạo Hồi, đồng tính là vấn đề không thể khoan dung.
Người đồng tính luyến ái thường bị lăng mạ, bị cấm đoán, bị trừng phạt, thậm
chí bị tử hình chỉ vì có xu hướng tình dục khác biệt. Tưởng chừng sự phân biệt
đối xử với người đồng tính chỉ xảy ra ở những quốc gia Hồi giáo Trung Đông,
nơi quyền lực của nam giới được xem là tối thượng. Nhưng ngay cả ở những
xã hội cởi mở như Hoa Kỳ, định kiến và phân biệt đối xử với người đồng tính
luyến ái cũng không vì thế mà mất đi. Sự trớ trêu của tạo hoá đã gây nên
những bi kịch đối với người đồng tính. Theo điều tra của Viện nghiên cứu dư
luận xã hội Mỹ, 41% dân số Mỹ cho rằng nếp sống của người đồng tính luyến
ái mâu thuẫn với nếp sống của những cư dân còn lại. Sự miệt thị và ghê sợ
người đồng tính luôn đi kèm với nhau mà hậu quả là hàng năm ở Mỹ có hàng
chục người đồng tính luyến ái bị sát hại. Người ta nhận thấy tất cả những
trường hợp trên đều chứa đựng chung một yếu tố là thành kiến chống lại sự bất
thường về giới và xu hướng tình dục của những người đồng tính.
Tại Việt Nam, đồng tính luyến ái là một chủ đề nhạy cảm, mới nổi lên và
thu hút sự chú ý của dư luận. Trong quá khứ, vì nhiều nguyên nhân xã hội khác
nhau, như đất nước có chiến tranh, khó khăn về kinh tế, quan niệm khắt khe về
chuẩn mực khiến rất nhiều người đồng tính không dám công khai thân phận
của mình. Trên thực tế, đó cũng là thời điểm mà các vấn đề thuộc về cá nhân bị
che khuất hoặc lu mờ đi trước những đòi hỏi khắc nghiệt của cuộc sống.
1
Nhưng hơn chục năm trở lại đây, cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế,
sự giao lưu với văn hoá phương Tây và sự trưởng thành của thế hệ trẻ - lớp
cu do nghiờn cu viờn l ngi Vit Nam thc hin (V Ngc Bo & Philippe
Girault, 2005). ú l nhn nh chung ca cỏc nh nghiờn cu xó hi v nhng
ngi am hiu v tỡnh dc ng gii Vit Nam. Vi nm tr li õy, lo lng
trc s lan truyn ca HIV/AIDS qua quan h tỡnh dc ng hu mụn
khụng c bo v, trong mt s nghiờn cu nh c tin hnh vi s cng
tỏc ca cỏc chuyờn gia nc ngoi, ng tớnh luyn ỏi nam tr thnh i tng
kho sỏt nh mt nhúm cú hnh vi nguy c cao. Cho ti nay, cỏc nghiờn cu
v ngi ng tớnh luyn ỏi Vit Nam ch yu tp trung vo vic tỡm hiu
kin thc v cỏc hnh vi nguy c liờn quan n lõy nhim HIV (Care
International, 1993; St. Pierre, 1997; Wilson & Carwthorne, 1999; Colby,
2003)
1
Kt qu l s tn ti ca nhúm ng tớnh luyn ỏi n v thỏi ca
cng ng i vi hin tng ng tớnh luyn ỏi gn nh b lóng quờn.
T bi cnh chung ú, chỳng tụi ó tin hnh nghiờn cu nhm tỡm hiu
Thỏi xó hi i vi ngi ng tớnh. Do k th i vi ngi ng tớnh
cũn ớt c nghiờn cu trong bi cnh vn hoỏ - xó hi Vit Nam nờn nhúm
nghiờn cu nhn thy vic tp trung vo i tng ny l thớch hp. Nghiờn
cu c tin hnh nhm b sung nhng thiu ht thụng tin xung quanh ngi
ng tớnh. Trng tõm ca nghiờn cu hng ti vic khc ho thỏi ca xó
hi i vi ngi ng tớnh trong bi cnh ca Vit Nam, cng nh bi cnh
xó hi dn ti vic ngi ng tớnh luyn ỏi b k th. Qua ú, nghiờn cu hy
vng gúp mt phn nh trong n lc gim thiu s k th ca cng ng i
vi ngi ng tớnh luyn ỏi v vn ng cỏc t chc cú liờn quan xõy dng
nhng chng trỡnh can thip hiu qu dnh cho nhúm xó hi ny.
II. Mc tiờu nghiờn cu
1
Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam và HIV/AIDS ở Việt Nam - Vũ Ngọc Bảo, Philippe Girault
-NXB Thế giới, 2005
3
dục đồng giới. Nói cách khác, yếu tố sinh học đóng vai trò phát sinh, hình
thành và yếu tố văn hoá - xã hội đóng vai trò duy trì, củng cố.
Trong môi trường văn hoá - xã hội cởi mở, khoan dung và thừa nhận
luyến ái đồng giới thì người đồng tính có nhiều cơ hội nhận diện bản sắc tính
dục của mình, giảm đi những xung đột nguy hại về tâm lý, công khai sống thật
với tình cảm giới tính của bản thân và nhận được sự bảo vệ ở những mức độ
khác nhau của luật pháp. Trong một môi trường văn hoá - xã hội bảo thủ (do
truyền thống, tôn giáo cực đoan, phi dân chủ ) người đồng tính luyến ái bị
cấm đoán về tình cảm - tình dục, không được thừa nhận công khai về mặt xã
hội và không được pháp luật bảo vệ.
Bởi vì có nhiều người có ấn tượng sai về những người đồng tính luyến ái,
nên chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, những người đồng tính luyến ái vẫn là
những người bình thường như bao người khác. Nếu bạn là một người có quan
hệ tình dục khác giới, thì bạn thường nghĩ là rất tự nhiên khi yêu một người
khác giới, và bạn không thể yêu người có cùng giới tính với bạn. Những người
đồng tính luyến ái cũng yêu như bạn. Chỉ có khác biệt là, họ yêu những người
cùng giới. Đối với những người đồng tính luyến ái, yêu một người cùng giới là
sở thích theo bản năng của họ. Nói cách khác, con người không có sự chọn lựa
làm người có tình dục khác giới hay người đồng tính luyến ái. Những người
đồng tính luyến ái hay những người hoặc quan hệ tình dục cùng giới thì đều
giống như tất cả mọi người, có quyền được tôn trọng.
Một người trẻ tuổi không có bạn tình không thể sống hạnh phúc. Người
đồng tính luyến ái cũng phải có bạn tình, tất nhiên là bạn đồng giới của mình,
để có thể có một cuộc sống thực sự hạnh phúc. Đây là một vấn đề nhân đạo mà
theo chúng tôi, xã hội phải có hình thức quan tâm thực tế. Trong tình hình hiện
nay, chỉ bằng những hình thức quan tâm thực tế, có hiệu quả, xã hội mới hạn
5
chế được sự phát triển của bệnh AIDS. Nhiều vụ tử tự của thanh niên có
nguyên nhân sâu xa trong đời sống tình dục của họ. Các nhà tâm lý học nghiên
cứu về thanh niên đã xác nhận rằng 1/3 số vụ tử tự và định tự tử là do sự khủng
của con người ngay từ thời cổ đại, nhưng việc nghiên cứu một cách nghiêm túc
hoạt động tình dục trên cơ sở khoa học chỉ được tiến hành cách đây không lâu.
Có thể coi cuốn “Những rối loạn tình dục” xuất bản năm 1886 của nhà tâm lý
học Kraphta Ebinzo (Áo) là cuốn sách nghiên cứu tình dục đầu tiên. Đây là
cuốn sách thống kê lại những biểu hiện tình dục đa dạng, chủ yếu là những
hiện tượng rối loạn tình dục. Nhờ nó, người ta mới hiểu về những trạng thái rối
loạn tình dục, như hiếp dâm, tình dục bạo lực… Những khái niệm như khiêu
dâm, kích dục thị giác, tình dục kiềm chế, ức chế tình dục… được K. Ebinzo
đưa ra cách đây một trăm năm.
Sau K. Ebinzo, đã có nhiều công trình nghiên cứu hiện tượng tình dục
đồng giới theo quan điểm tiến bộ. Nhiều nhà nghiên cứu coi tình dục đồng giới
(hay còn gọi là “đồng tính luyến ái”) như một hiện tượng bẩm sinh. Từ thời Cơ
đốc giáo, tình dục đồng giới đã bị xem như một hiện tượng phóng đãng, quái
đản, một sự suy sụp về nhân cách hay là một biến chứng của một bệnh ngứa.
7
Từ sau Ebinzo, nhiều nhà khoa học đã không lên án những nhu cầu của người
đồng tính luyến ái.
Người có công thúc đẩy tình dục học phát triển là nhà tâm lý S. Freud,
người sáng lập ngành phân tâm học. Ngay từ đầu thế kỷ này, ông đã xem xét
những nhân tố xã hội trên cơ sở môi trường con người sinh sống, lý giải những
hành vi con người bằng những vận động thầm kín của đời sống tâm sinh lý.
Ông nhấn mạnh rằng, sự xuất hiện bệnh thần kinh có thể là do khi còn bé, bệnh
nhân được giáo dục quá kém, do những chấn động tâm lý thời thơ ấu, thời dậy
thì, hoặc do những xung đột có tính xã hội khác. Năm 1905, ông cho xuất bản
một cuốn sách rất có ý nghĩa: “Ba bài thảo luận về tình dục”. Một số quan
điểm của ông cho tới nay vẫn giữ nguyên giá trị khoa học. Tuy nhiên, do chỉ
dựa vào những quan sát y học, ông đã đưa ra nhiều quan điểm cực đoan, không
đủ sức đứng vững trước sự phát triển của khoa học ngày nay.
Trong hàng chục năm liền, lý thuyết thăng hoa (Sublimace) của S. Freud
đã hấp dẫn nhiều giới khoa học. Theo lý thuyết này, chỉ một phần của năng
bố trong cuốn sách "Ứng xử tình dục của đàn ông", in năm 1948, với số lượng
200.000 cuốn. Sách được bán hết ngay trong vòng hai tháng. Lý do hấp dẫn
của cuốn sách rất đơn giản: Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, một số liệu
cụ thể về đời sống tình dục được công bố rất nghiêm túc và lý giải một cách
khoa học.
Trước cuốn sách đó, không ai biết chuyện thủ dâm phổ biến tới mức độ
nào, bao nhiêu đàn ông, đàn bà nếm trải thứ tình dục đồng giới, bao nhiêu phần
trăm phụ nữ “biết” từ 5 bạn tình trở lên. Một điều đáng ngạc nhiên nữa là cuốn
sách còn công bố bao nhiêu phần trăm các cặp bạn tình kích thích bộ phận sinh
dục bằng miệng, trong khi thời ấy người ta vẫn coi phương pháp kích thích này
là một sự đồi bại.
9
Cuốn sách của Kinsey như một trái bom làm rạn nứt định kiến xã hội.
Dưới sự tác động của những số liệu điều tra, xã hội học buộc phải thay đổi một
số quan niệm. Ví dụ, nếu như trong thực tế có tới 90% đàn ông trẻ thủ dâm thì
phải xem hành vi tình dục đó là điều bình thường, và xã hội phải quan tâm lưu
ý không phải tới 90% đó, mà là với 10% còn lại kia.
Cuốn sách của Kinsey đã phân chia dư luận xã hội làm hai khối: tán thành
và phản đối việc công bố các số liệu khách quan đó. Giới thầy tu, chính khách
công khai phản đối việc lưu hành cuốn sách. Họ tuyên bố rằng, Kinsey đã phá
vỡ nền tảng luân lý Mỹ, rằng những hoạt động tương tự như vậy sẽ làm suy
sụp xã hội Mỹ… Thực ra, Kinsey đã phê phán xã hội Mỹ. Ông chứng minh
tính giả tạo của những lý tưởng đạo đức Mỹ, khơi lên mối nghi ngờ về giá trị
đích thực của chúng. Tất nhiên những con số mà ông công bố chỉ có ý nghĩa
lịch sử, bởi vì nó chỉ phản ánh thực trạng đời sống tình dục Mỹ những năm 40
của thế kỷ 20.
Một mốc lớn nữa trong sự phát triển tình dục học là công trình nghiên cứu
của nhà di truyền học V.H. Maxter và vợ ông, nhà tâm lý học V.E. Johnson.
Vào những năm 60, họ quan tâm tới một khía cạnh khác của tình dục, đó là
những quá trình sinh lý của xúc động tình dục và sự thỏa mãn tình dục. Họ đã
những người lưỡng tính luyến ái, sau một thời gian có vợ có con, lại hiểu ra
mình chỉ có thể quan hệ đồng tính, nên đành “dứt áo” ra đi, bỏ vợ (chồng) bỏ
con, đi theo một chàng (nàng) nào đó.
Lưỡng tính là một chủ đề bị lãng quên trong nghiên cứu giới tính. Bất
chấp những tìm hiểu ban đầu của Alfred Kinsey, người đã khám phá ra sự liên
tục của tính dục, những người không xếp vào dạng dị tính về cảm giác tình dục
và cách cư xử thường được xem là “đồng tính”. Do đó đa số nghiên cứu chú
trọng tìm hiểu tại sao một người là đồng tính hoặc sự khác biệt giữa đồng tính
11
và dị tính. Khuynh hướng này củng cố nhận định xu hướng tình dục tồn tại tự
nhiên theo hai nhóm riêng biệt, chỉ có ham muốn với người cùng phái hoặc
khác phái. Người lưỡng tính, không thể xếp vào hai nhóm đó, thông thường
được xem là người mơ hồ, không thành thật hoặc trong bước chuyển tiếp thành
đồng tính. Chúng tôi tin rằng xu hướng tính dục phức tạp hơn và sẽ không bao
giờ được hiểu một cách trọn vẹn đến khi hiện tượng lưỡng tính được tìm hiểu
chính xác và khách quan.
b. Không có hấp dẫn tính dục
Xu hướng này có nhiều mức độ và người ta đã chia thành 4 nhóm như
sau:
Nhóm A: Không có hấp dẫn mang tính chất lãng mạn nhưng có ham
muốn như hệ quả của một phản ứng hóa học chứ không hướng vào một đối
tượng cụ thể.
Nhóm B: Có hấp dẫn mang tính chất lãng mạn nhưng không có ham
muốn tình dục. Những người này có quan tâm đến mối quan hệ với ai đó
nhưng không muốn đi đến hoạt động tình dục.
Nhóm C: Vừa có khả năng ham muốn lẫn hấp dẫn có tính lãng mạn
nhưng không có nhu cầu kết đôi để chung sống.
Nhóm D: Không có cả hấp dẫn lẫn ham muốn và có lẽ những người này
dễ chan hòa với xã hội nhất.
Điểm chung của 4 nhóm trên đều là không có hấp dẫn về mặt tính dục. B
Về mặt sinh học, những người đồng tính luyến ái hoàn toàn bình thường.
Nam giới bị “pêđê” không phải do thiếu nội tiết tố sinh dục nam testosterone,
nên họ chẳng cần thử máu để biết nồng độ testosterone có bình thường hay
không, và cũng chẳng cần phải điều trị họ bằng testosterone uống hay chích vì
13
chỉ có hại mà thôi. Hiện nay, khoa học vẫn chưa giải thích được vì sao trung
tâm não nhận diện đối tượng tình dục của những người này chỉ có hình ảnh của
người cùng phái. Có phải do rối loạn nhiễm sắc thể hay không? Có phải do
thiếu testosterone khi còn trong bào thai hay không? Chưa ai chứng minh
được. Có một điều các nhà chuyên môn rõ nhất là nữ giới cũng có đồng tính
luyến ái nhưng ít gặp hơn nam.
Người đồng tính ái thực sự (bản thể đồng tính ái) là người có ham muốn
gần gũi và quan hệ tình dục với bạn tình cùng giới. Còn người đồng tính giả
không thực sự có bản thể đồng tính ái, nhưng vẫn muốn có quan hệ tình dục
với người cùng giới vì một hoàn cảnh xã hội nào đó.
Thạc sĩ Trương Trọng Hoàng, Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe
TP HCM, cho biết, có đồng tính ái nữ và đồng tính ái nam. Người đồng tính ái
nữ được gọi là lesbian hay ô môi (xuất xứ từ chữ homo sexual). Đồng tính ái
nam gọi là gay. Từ pê-đê (gốc tiếng Pháp) vốn chỉ những người đàn ông chỉ có
ham muốn và quan hệ tình dục với trẻ em trai, sau được dùng chỉ chung những
người đồng tính nam.
ĐTLA có thể chia làm 2 dạng: mở và kín. Những đối tượng thuộc dạng
mở không che giấu tình trạng của mình, thường thích mặc trang phục của
người khác giới. Người thuộc dạng kín, ngược lại, không dám công khai tình
trạng của mình. Họ có bề ngoài hết sức bình thường nhưng trong thâm tâm chỉ
muốn quan hệ tình dục với người cùng giới.
Cần phân biệt người đồng tính ái với người lưỡng tính. Về mặt cơ thể,
người đồng tính ái vẫn có giới tính xác định, có khả năng quan hệ tình dục với
bạn tình khác giới và sinh con (nhưng họ không thích điều đó). Còn người
lưỡng tính cùng lúc có cả bộ phận sinh dục nam và nữ; những bộ phận này
15
Một cách cụ thể, đồng tính luyến ái bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
a/ Nguyên nhân sinh học
Tình dục đồng giới là hậu quả những thay đổi khó nhận biết ở bản thân
các gene, ở sự tương tác giữa các gene và bộ phận cảm thụ hoóc môn của các
trung tâm thần kinh (vùng dưới đồi, não giữa) nơi chi phối mọi hành vi, cảm
xúc tình dục. Do đó, nó hình thành từ rất sớm, muộn nhất thì cũng vào tuổi đi
học, nhiều khi còn hình thành từ trước khi sinh, có lẽ ở lúc thụ thai và cha mẹ
hoàn toàn không kiểm soát được. Có rất nhiều bằng chứng ủng hộ cho giả
thuyết thứ hai, cho rằng người đồng tính chỉ là nạn nhân của một cấu trúc sinh
học mà họ không thể thay đổi được. Xu hướng này không có hại cho cộng
đồng vì không lây lan, chỉ thuộc một số người hạn chế, nó không đe dọa sự tồn
tại của giống loài, cũng chỉ liên quan đến một số đàn ông và đàn bà thường rất
hiền lành. Cốt lõi của vấn đề là chấp nhận hay không chấp nhận.
Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association, APA)
từ năm 1973 đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và
bệnh rối loạn tâm thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental
Disorders). Tổ chức Y tế Thế giới (Word Health Organization, WHO) cũng đã
làm điều tương tự vào năm 1992 trong phiên bản thứ 10 của danh sách phân
loại các chứng bệnh trên thế giới (International Classification of Diseases, 10th
Edition).
Tháng 12 năm 1992, APA cũng phát đi một tuyên bố chính thức, với lời
kêu gọi sau: “Xét thấy luyến ái đồng giới tự thân nó không hề hàm chứa việc
có hay không sự thiệt hại, tính ổn định, sự tin cậy, trong năng lực xã hội chung
hay khả năng tác nghiệp (ở người đồng tính ái), Hiệp hội Tâm thần học Hoa
Kỳ kêu gọi các tổ chức y tế trên thế giới và cá nhân các nhà tâm thần học ở các
quốc gia hãy thúc đẩy trên đất nước mình việc bãi bỏ những trừng phạt pháp lý
đối với tình cảm và tình dục đồng giới có sự đồng thuận giữa những người
trưởng thành. Ngoài ra, APA cũng kêu gọi các tổ chức và cá nhân này hãy thực
16
sinh học về mặt tính dục của con người mà thôi, mà một trong những cơ sở của
nó là giữa người dị tính ái và đồng tính ái có sự khác biệt trong việc chi phối
hành vi phái tính từ não bộ.
Hành vi tình dục đồng giới ở động vật phổ biến hơn nhiều so với chúng ta
nghĩ. Theo thuyết tiến hóa, tính dục là phương tiện để chuyển giao gien lại cho
thế hệ sau. Vậy thì hành vi tình dục đồng giới từ đâu mà có? Phải chăng nó
xuất hiện từ trong quá trình tiến hóa, hay chỉ để lấy khoái cảm mà thôi?
Chim chóc, bò sát, động vật có vú, và cả ốc sên cũng tham gia vào trò này.
Tình dục đồng giới ở động vật chỉ là một trong số nhiều hành vi tính dục. Hành
vi này tương đối phổ biến, và ở một số loài, nó xuất hiện với tần suất khá dày.
Trong thế giới động vật, cuộc sống chung thuỷ "một vợ một chồng" thực sự là
"của hiếm". Chúng "sinh hoạt" khá bừa bãi - một con đực với nhiều con cái,
một con cái với nhiều con đực, hoặc chung chạ lung tung, v.v TS Geoff
McFarlane, nhà sinh học thuộc ĐH Newcastle (Anh), cho biết: "Thế giới động
vật có rất nhiều cách sắp xếp cũng như cách "sinh hoạt"!".
Thú đồng tính
ít ai ngờ hươu cao cổ cũng thích quan hệ tình dục đồng giới.Hành vi tình
dục đồng giới đã được giới khoa học quan sát khá kỹ lưỡng ở hầu như tất cả
các loài vật. Trên thế giới, có tổng cộng khoảng 450 loài có thói quen quan hệ
tình dục đồng giới. McFarlane cũng đã tìm kiếm trong các tác phẩm khoa học
xem có trường hợp tình dục đồng giới nào không. Ông tìm thấy một danh mục
các hành vi tình dục đồng giới, trong đó đáng chú ý là sờ nắn cơ quan sinh dục
và cưỡi lên nhau. Mặc dù hai hành động này có vẻ "gió thoảng mây bay" hơn
là một mối quan hệ bền vững, nó cho chúng ta thấy rằng tính dục vẫn là tính
dục, còn các hành vi khác như chải chuốt lại không "lọt" được vào danh mục
này.
18
McFarlane nhận thấy hành vi tình dục đồng giới ở các loài linh trưởng
phổ biến hơn so với các động vật có vú khác, nhưng không phải là không có ở
chim chóc, bò sát, lưỡng cư, cá, côn trùng và các loài động vật không xương
Theo thuyết tiến hóa của Darwin, động vật tiến hóa vì những đặc điểm
thay đổi sẽ tạo nên lợi thế về mặt sinh sản cho chúng. Những đặc điểm ấy sẽ
được truyền lại cho nhiều thế hệ sau. Trước đây, các nhà sinh học đã nhiều lần
thử giải thích về hành vi tình dục đồng giới ở động vật, chẳng hạn như động
vật "nhầm" giới tính, nghịch ngợm, hoặc "tập" trước khi "xung trận" thực sự.
Có người lại cho rằng hiện tượng đồng tính xuất hiện vì trong cộng đồng thiếu
con đực hoặc con cái, hoặc là kết quả của quá trình nuôi nhốt.
Một trong những thuyết mới nhất là thuyết "mua vui" của Paul Vasey
thuộc ĐH Lethbridge (Canada). Ông tiến hành quan sát về hành vi tình dục
đồng tính của khỉ đầu chó Nhật Bản và nhận thấy 33% số hành vi đồng tính
của chúng là giữa các con cái. Và lời giải thích của ông là điều mà chưa ai nghĩ
tới: Chúng làm thế chỉ để mua vui!
Vậy hành vi tình dục đồng giới là bẩm sinh hay do học hỏi mà có? Cũng
như các hành vi khác của động vật, đây là sự giao thoa giữa vai trò của tự
nhiên và "học hỏi", và mỗi loài lại mang một đặc điểm khác nhau. Trên
phương diện "học hỏi", hành vi này chịu tác động của sự thống trị và tôn ti trật
tự. Trên phương diện "tự nhiên", các nhà sinh học cho rằng hành vi này là kết
quả của hiện tượng tăng mức hormone trước và sau khi sinh. Elizabeth Atkins-
Regan, nhà nghiên cứu thuộc ĐH Cornell, đã thử nghiệm bằng cách cho chim
sẻ mái tiếp xúc với chất ức chế tổng hợp oestrogen. Lũ chim mái non nở ra có
xu hướng thích chim mái, nhưng trong trường hợp bị ức chế hormone trống, lũ
chim trống non nở ra lại thích chim trống hơn.
20
Theo GS tâm lý tiến hoá Robin Dunbar tại ĐH Liverpool (Anh), một
trong những lý lẽ chính biện minh cho hành vi đồng tính ở con người là nó
giúp liên kết các nhóm nam giới với nhau, đặc biệt là khi họ phải dựa vào nhau
chẳng hạn như trong săn bắn hoặc chiến đấu. Người Sparte ở Hy Lạp cổ đại
khuyến khích tình dục đồng giới trong đội quân tinh nhuệ của họ, do tin rằng
các cá nhân sẽ gắn bó và nỗ lực cứu các cá nhân khác nếu họ có quan hệ tình
cảm.
thuộc một giới nào đó. Vì vậy, họ đã đặt ra một loạt tên gọi không dựa trên
hiểu biết về gene học, nội tiết học hay bào thai học, và phân những người có
giới tính không rõ thành nhiều loại như “ái nam ái nữ giả kiểu nam”, “ái nam
ái nữ giả kiểu nữ” hay “ái nam ái nữ đích thực”.
Chỉ khi nào cả 2 tuyến sinh dục (cả tinh hoàn và buồng trứng) tồn tại trên
một cá thể mới có thể gọi là ái nam ái nữ đích thực, điều này không thể xảy ra,
trừ phi có sự cố về gene học và cũng rất hiếm. Những người này có thể sống
được nhưng không thể sinh sản và hạn chế về khả năng tình dục vì các hoóc
môn nam đã triệt tiêu tác dụng của các hoóc môn nữ và ngược lại.
Nhiều hình thái bệnh lý khiến trẻ sinh ra đã có cơ quan sinh sản không
phù hợp với định nghĩa về nam hay nữ. Ví dụ một trẻ sinh ra bề ngoài là gái
nhưng phần lớn cấu trúc giải phẫu bên trong cơ thể là nam. Tuy nhiên, cũng có
trẻ sinh ra với cơ quan sinh dục ngoài không rõ nam hay nữ: ví dụ trẻ gái sinh
ra với âm vật to hay không có cửa vào âm đạo; hoặc một bé trai sinh ra với
dương vật nhỏ rõ rệt hoặc có bìu tách đôi giống như 2 môi lớn. Có khi trẻ sinh
ra với cấu trúc gen hình khảm nên một số tế bào vừa có cặp nhiễm sắc thể giới
XX và một số khác lại có cặp nhiễm sắc thể giới XY.
Giới mập mờ có thể do những rối loạn về thể nhiễm sắc hay hoócmôn gây
ra; thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau về mặt thể chất. Đây mặc dù là một
bệnh bẩm sinh nhưng không phải lúc nào cũng bộc lộ ra ngay khi đẻ. Đôi khi
22
tình trạng giải phẫu mập mờ về giới chỉ phát hiện ra khi đến tuổi dậy thì hoặc
tuổi trưởng thành do không thấy sinh sản được. Thậm chí có người đến khi
chết già, qua giải phẫu thi thể người ta mới tình cờ biết là có giới không rõ
ràng. Một số người chung sống suốt đời với tình trạng giới mập mờ mà không
ai biết (ngay cả chính họ).
Có phải người giới tính mập mờ nào cũng có cơ quan sinh dục khó nhận
biết là nam hay nữ? Câu trả lời là không. Cơ quan sinh dục ngoài có khi mập
mờ nhưng cũng có khi hoàn toàn giống nữ hay nam. Ví dụ, bé gái sinh ra với
cặp nhiễm sắc thể XY và mắc hội chứng không nhạy cảm với androgeăcsex có
Cơ sở sinh học của tình dục đồng giới
Người tình dục đồng giới chỉ khác với mọi người chủ yếu ở xu hướng tính
dục (hấp dẫn với người cùng giới), ngoài ra họ có cấu trúc gen bình thường
(XY hoặc XX) với hình thể bình thường thuộc nam hay nữ, có bản sắc giới
bình thường (vẫn cảm nhận mình là nam hay nữ) và vai trò giới cũng bình
thường trong hầu hết trường hợp.
Các nhà tâm lý, các khoa học gia về sức khỏe tâm thần và tính dục người
đều chia xẻ quan điểm coi hành vi tình dục đồng giới là một xu hướng tính dục
có tính chất cố định, không phải là sự lựa chọn của cá nhân, nó được hình
thành ngay từ nhỏ do sự tác động qua lại của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã
hội, trước cả khi có trải nghiệm tình dục. Có một số người đã thử thay đổi xu
hướng tính dục, từ đồng giới chuyển thành khác giới nhưng không thành công.
Nghiên cứu của người Mỹ
Năm 1991, bác sĩ Le Vay, khoa Thần kinh, Viện Salk (Mỹ) đã công bố
nghiên cứu giải phẫu một phần não vùng dưới đầu của 41 tử thi. Đây là những
người đã tử vong do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong số họ, có 16 người
đồng tính luyến ái. Bác sĩ phát hiện ra rằng, những người đồng tính luyến ái,
24
thành phần INH3 (cấu trúc nhỏ được biết đến như một yếu tố điều khiển thái
độ tính dục ở động vật có vú) nhỏ gấp hai lần so với những người khác.
Năm 1993, một nhóm nghiên cứu y học do Dean Harner đứng đầu đã tìm
mối liên hệ giữa gene và chứng đồng tính luyến ái. Họ tìm thấy một điểm đặc
biệt trên nhánh dài của nhiễm sắc thể X, được truyền từ mẹ sang con và thường
gặp ở những người đồng tính luyến ái.
Tháng 4/2003, một nhóm nghiên cứu khác của Mỹ cũng đã thử chứng
minh sự liên quan giữa đặc điểm của bàn tay nam giới với thái độ tính dục. Do
tác động của hormone sinh dục nam, đàn ông có ngón tay trỏ ngắn hơn ngón
nhẫn. Vậy mà, theo các tác giả nghiên cứu, bàn tay của những người phụ nữ
đồng tính luyến ái mang đặc điểm này của đàn ông.
Các nghiên cứu khác nhau đều nhằm mục đích chứng minh từ lúc chào