Học thuyết hình thái kinh tế xã hội và sự vận dụng học thuyết này trong công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam - Pdf 24

MỤC LỤC
I. CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN KHÁC NHAU VỀ XÃ HỘI VÀ SỰ VẬN
ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ NHÂN LOẠI
1. Phương pháp tiếp cận trước Mác
1.1. Phương pháp tiếp cận của triết học duy tâm tôn giáo
Các nhà triết học duy tâm, tôn giáo thường tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần nên khi
đề cập tới xã hội, họ tiếp cận vấn đề từ các khía cạnh khác nhau.
a. Khía cạnh đạo đức: Khổng tử và Nho giáo cho rằng vạn vật trong thế giới cũng
như đời sống xã hội của con người đều bắt nguồn từ thiên mệnh, do thiên mệnh
chi phối “ Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên” (Tính chuyện trong bụng người
còn chuyện thành công hay không là do ông trời quyết định.) Để có một xã hội
lý tưởng thì phải xây dựng được người quân tử - mẫu người lý tưởng hiểu trời,
sợ trời và làm theo ý trời, thông qua sự nghiệp giáo dục đạo đức.
b. Khía cạnh tinh thần: Ph.Heghen coi xã hội là kết quả của sự sáng tạo ý niệm
tuyệt đối, sự phát triển của xã hội bị chi phối bởi ý niệm tuyệt đối, là biểu hiện
của sự phát triển ý niệm tuyệt đối.
Ý niệm tuyệt đối là điểm khởi đầu của tồn tại, tự tha hóa thành thế giới tự nhiên
và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần. “Tinh thần, tư tưởng ý niệm là
cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản sao chép của ý niệm. Thể hiện
sự thần bí và có trước tự nhiên và con người “Ý niệm tuyệt đối” phát triển theo 3
cấp (tam đoạn thức):
1
+ Cấp logic: chưa có thế giới “ý niệm tuyệt đối chỉ hoạt động tư duy với tính
chất một hệ thống logic gồm khái niệm và phạm trù,
+ Cấp triết học tự nhiên:” ý niệm tuyệt đối chuyển hóa thành tự nhiên.
+ Cấp triết học tinh thần “ ý niệm tuyệt đối phủ định tự nhiên, trở về bản thân-
tiếp tục biến hóa nhưng chỉ trong tư duy con người. Cấp này bao gồm cả ý thức
cá nhân và ý thức xã hội, nó đạt đến nhận thức cao nhất qua tôn giáo, nghệ thuật,
triết học. => ý niệm tuyệt đối phát triển lên thì sinh ra tự nhiên, xã hội, con
người.
c. Khía cạnh tôn giáo:

sử, các ông tiếp cận đời sống xã hội loài người từ những cơ sở hiện thực, những thực tế
hiển nhiên đang diễn ra một cách khách quan không phụ thuộc vào sự suy diễn tư biện
của con người ta. Cụ thể các ông xem xét tới tín thống nhất giữa các cặp phạm trù khác
nhau
Một là: Xã hội và cá nhân trong xã hội cùng với những nhu cầu và hoạt
động cơ bản của họ:Xã hội là một tổ chức sống được tạo nên từ sự tồn tại và sự liên
kết giữa các cá nhân nhất định. Nói tới xã hội là nói tới xã hội của con người, xã hội
được tạo thành từ con người thực tế. Chính sự thừa nhận những con người hiện thực
của Mác đòi hỏi phải xem xét trước hết đến những nhu cầu, lợi ích cơ bản của sự tồn tại
người và cùng với điều đó là sự xem xét những hoạt động cơ bản nhằm đáp ứng nhu
cầu và lợi ích đó. Sự suy luận logic đó cho phép Các Mác đi tới quan điểm của mình về
sản xuất vật chất và vai trò của sản xuất vật chất đối với mọi lĩnh vực khác của xã hội
nói chung. “ Con người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”,
nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và
một vài thức khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra nhửng tư
liệu để thỏa mãn nhu cầu đó, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất”
Như vậy, việc thừa nhận sự tồn tại hiện thực của con người gắn liền với sự tồn tại, phát
triển của xã hội và gắn liền trước hết đến sản xuất vật chất đòi hỏi khi nghiên cứu đời
sống xã hội trước hết phải nghiên cứu đời sống vật chất, đánh giá vai trò của lĩnh vực
này đối với các lĩnh vực khác và toàn thể xã hội.
Hai là: Sự thống nhất giữa tự nhiên và xã hội trong hoạt động sản xuất vật
chất của con người:Trong quá trình hiện thực hoạt động sản xuất vật chất để thỏa mãn
nhu cầu tồn tại của mình, con người buộc phải quan hệ với nhau và quan hệ với tự
nhiên. Con người cần quan hệ với nhau trước hết trong hoạt động sản xuất vật chất là vì
3
một cá nhân không thể thực hiện được hành vi sản xuất, không thể sử dụng hiệu quả tư
liệu sản xuất, kinh nghiệm sản xuất… Mặt khác, con người cũng phải thực hiện quan hệ
với tự nhiên trước hết là trong hoạt động sản xuất vật chất. Bởi lẽ con người cần có
nguyên vật liệu, cần nhiên liệu để lao động và cần điều kiện tự nhiên thuận lợi để thực
hiện quá trình lao động.

lời cho câu hỏi liên quan tới sự phát triền xã hội: Nhân tố nào, quy luật nào chi phối sự
phát triển của xã hội. Từ đó, ông sắp xếp tất cả những phát hiện của mình vào thành
một hệ thống lý thuyết: hình thái kinh tế xã hội.
Lịch sử xã hội do con người làm ra, con người tạo ra các quan hệ xã hội của
mình và đó là xã hội. Nhưng sự vận động của xã hội lại tuân theo quy luật khách quan,
không phụ thuộc vào ý muốn của con người mà nguồn gốc sâu xa của sự thay thế nhau
giữa các hình thái kinh tế-xã hội nằm ở chỗ:
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây nên sự thay đổi của quan hệ sản
xuất.
- Và rồi đến lượt mình, sự thay đổi của quan hệ sản xuất (với tư cách là cơ sở
hạ tầng) sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi.
Do vậy, từ những yếu tố cấu trúc của mỗi một hình thái kinh tế xã hội thay đổi
dẫn đến hình thái kinh tế-xã hội này được thay thế bằng hình thái kinh tế-xã hội khác
cao hơn, tiến bộ hơn.
II. HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Khái niệm xã hội và khái quát quá trình phát triển của xã hội
a. Khái niệm xã hội và khái quát quá trình phát triển của xã hội:
 Xã hội là biểu hiện tổng thể các mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân, là
sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người.
 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của con người:
5
- Quá trình hình thành và phát triển của xã hội gắn liền với quá trình hình thành
và phát triển của con người: chính sự hình thành con người gắn liền với sự hình thành
các quan hệ giữa người với người, cùng với quá trình chuyển biến từ động vật thành
con người, chuyển biến từ đời sống bầy đàn hành động theo bản năng thành đời sống
cộng đồng mang tính xã hội, hành động có ý thức tức đó chính là xã hội loài người. Vì
vậy Chính những con người hiện thực với cuộc sống hiện thực cụ thể của họ mới tạo ra
1 xã hội hiện thực.
- Quá trình phát triển của xã hội cũng không tách rời với môi trường tự nhiên:
Chính sự phát triển của tự nhiên là cơ sở đề hình thành con người trên trái đất từ đó

a. Sản xuất vật chất là nền tảng của sự vận động, phát triển xã hội:
 Khái niệm và vai trò của sản xuất vật chất:
- Khái niệm: Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao dộng tác động
vào tự nhiên cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất
thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát riển của con người.
+ Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người bao gồm:
sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người trong đó
sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
- Vai trò:
+ Sản xuất vật chất quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội
loài người: trong quá trình tồn tại và phát triển con người không bao giờ thỏa
mãn với những cái đã có sẵn mà nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú để
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao. Con người luôn luôn cải tiến, phát triển các
phương thức sản xuất vật chất nhằm tạo ra các tư liệu sinh hoạt thỏa mãn nhu
cầu của chính con người.
+ Sản xuất vật chất là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối
quan hệ xã hội của con người: trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho
sự tồn tại và phát triển của mình, con người đồng thời sáng tạo ra toàn bộ các
7
mặt của đời sống xã hội như: nhà nước, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật nhằm
thỏa mãn nhiều laoị nhu cầu lợi ích đa dạng của con người.
+ Sản xuất vật chất là cơ sở của sự hình thành biến đồi và phát riển của xã hội
loài người: trong qúa trình sản xuất vật chất con người không những làm biến
đổi tự nhiên, biến đổi xã hội mà còn làm biến đồi bản thân mình. Như vậy sự
vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội suy đến cùng có nguyên nhân
từ tình trạng phát triển của nền sản xuất xã hội.
 Phương thức sản xuất:
- Phương thức sản xuất là cách thức mà con người dùng để làm ra của cải vật chất cho
mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó con người có những quan hệ
nhất định với tự nhiên và có những quan hệ nhất định với nhau trong sản xuất vật chất.

bản chất của quan hệ sản xuất.
• Quan hệ trong tổ chức quản lý và phân công lao động: nói lên sự trao đổi
giữa các tập đoàn xã hội với nhau. Nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá
trình sản xuất
• Quan hệ phân phối sản phẩm lao động: Là cách thức phân phối kết quả sản
xuất, kích thích trực tiếp đến lợi ích của con người
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:
 Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất – kỹ thuật còn quan hệ sản xuất là hình thức
kinh tế - xã hội. Đây là 2 mặt của phương thức sản xuất, tồn tại và tác động qua lại lẫn
nhau
+ Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự tồn tại và thay đổi
quan hệ sản xuất: tương ứng với một trình độ và tính chất nhất định của lực
lượng sản xuất đòi hỏi phải có quan hệ quan hệ sản xuất phù hợp. quan hệ sản
xuất là yếu tố khá ổn định, thay đổi chậm. Lực lượng sản xuất là yếu tố động,
luôn thay đổi nên sựu phát triển của lực lượng sản xuất đến một lúc nào đó làm
cho quan hệ sản xuất không còn phù hợp nữa. Khi đó, quan hệ sản xuất kìm
hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Yêu cầu khách quan của lực lượng
sản xuất tất yếu dẫn đến việc thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản
9
xuất mới, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và thúc đẩy lực
lượng sản xuất tiếp tục phát triển.
+ Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của
lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động
đến thái độ của con người, tổ chức và đến phát triển, ứng dụng khoa học –
công nghệ…qua đó tác dộng đén lực lượng sản xuất.
- Ý nghĩa của phương pháp luận: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất. Việc nắm vững quy luật này giúp
ta hiểu rõ và nhận thức đúng đắn về nguồn gốc sự vận động, phát triển của xã hội, từ đó
giúp con người có thể tác động tích cực vào quá trình phát triển này

Như vậy, xét trong nội bộ phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình thức
phát triển của lực lượng sản xuất nhưng xét trong tổng thể quan hệ xã hội thì các quan
hệ sản xuất “hợp thành” cơ sở kinh tế của xã hội, là cơ sở hiện thực tạo nên kiến trúc
thượng tầng tương ứng.
2.2 Đặc trưng về xã hội:Kiến trúc thượng tầng
- Khái niệm:
Là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo,
nghệ thuật… cùng với các thiết chế xã hội tương ứng như các đảng phái, nhà nước,
đoàn thể, giáo hội …. được hình thành và phát triển trên cơ sở hạ tầng nhất định.
- Kết cấu:
Kiến trúc thượng tầng có kết cấu rất phức tạp, bao gồm:
+ Các hình thái ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôn giáo…)
+ Các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng (nhà nước, chính đảng, giáo hội…)
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có qui luật hình thành và
phát triển riêng nhưng chúng tồn tại không tách rời nhau mà liên hệ tác động qua lại lẫn
nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng.
11
Ví dụ Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra đường lối chính trị, làm công tác tư
tưởng, công tác tổ chức, lãnh đạo nhà nước, các đoàn thể và lãnh đạo giáo hội… Như
vậy, tồn tại mối liên hệ giữa Đảng phái, chính trị, nhà nước, đoàn thể, giáo hội,…
Ví dụ: Nhà nước ban hành pháp luật và bảo đảm hiệu lực của pháp luật. Nhà
nước quản lý xã hội bằng luật pháp, sức mạnh của nhà nước thể hiện thông qua sức
mạnh của pháp luật. Ngược lại, luật pháp do nhà nước đặt ra, luật pháp không đứng
tách rời với nhà nước. Khi nói về luật pháp là nói về luật pháp của thể chế nhà nước
nhất định nào đó. Một nền pháp luật thực thi khi được bảo đảm bằng nhà nước.
Ngoài ra, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng bao
gồm quan hệ trực tiếp như chính trị và pháp luật và quan hệ gián tiếp như triết học, tôn
giáo, nghệ thuật.
Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng mang tính giai cấp trong đó nhà
nước có vai trò đặc biệt quan trọng, là một tổ chức đặc biệt, là công cụ của giai cấp

sở hạ tầng mới xuất hiện thì kiến trúc thượng tầng cũ mất ngay đi mà quá trình này diễn
ra rất phức tạp. Trong đó, có những yếu tố thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi
cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp luật…; những yếu tố thay đổi chậm như tôn giáo,
nghệ thuật… hoặc có những yếu tố vẫn được kế thừa trong xã hội mới. Trong xã hội có
giai cấp, sự thay đổi đó phải thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
b. Kiến trúc tượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng:
Là một bộ phận cấu thành hình thái kinh tế xã hội, được sinh ra, phát triển và
quyết định bởi một cơ sở hạ tầng nhất định nhưng toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũng
như các yếu tố cấu thành nên nó đều có tính độc lập tương đối và tác động ngược trở lại
cơ sở hạ tầng. Trong xã hội có giai cấp, nhà nước là yếu tố tác động mạnh nhất đối với
cơ sở hạ tầng vì nhà nước là 1 bộ máy tập trung sức mạnh kinh tế và chính trị, có sức
13
mạnh cưỡng chế, bảo vệ quan hệ sản xuất thống trị sinh ra nó bằng cách sử dụng pháp
luật và bạo lực như quân đội, cảnh sát, tòa án Các yếu tố khác của kiến trúc thượng
tầng như: đạo đức, triết học, tôn giáo, nghệ thuật… cũng tác động lại cơ sở hạ tầng
nhưng phải thông qua nhà nước và pháp luật thì mới phát huy được tác dụng.
Trong mỗi chế độ xã hội, sự tác động của các bộ phận của kiến trúc thượng tầng
không phải bao giờ cũng theo một xu hướng. Tuy nhiên, chức năng xã hội cơ bản của
kiến trúc thượng tầng là xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu
tranh, xóa bỏ, chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó.
Thực chất, trong xã hội có đối kháng giai cấp, kiến trúc thượng tầng đảm bảo sự thống
trị chính trị và tư tưởng của giai cấp thống trị. Nếu giai cấp thống trị không xác lập
được sự thống trị về chính trị và tư tưởng, cơ sở kinh tế của nó không thể đứng vững
được.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng chủ yếu diễn ra theo
hai chiều: thuận chiều hoặc ngược chiều. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp
với các qui luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát
triển; còn nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế và xã hội. Nói cách
khác, kiến trúc thượng tầng có vai trò to lớn, định hướng những hoạt động thực tiễn cho
sự phát triển kinh tế nhưng lại không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan

kinh tế trong hình thái kinh tế xã hội lại trở thành nền tảng kinh tế cho hình thành, tồn
tại và biến đổi của đặc trưng xã hội (kiến trúc thượng tầng)
2. Tính lịch sử- tự nhiên của quá trình phát triển hình thái kinh tế-xã hội:
Xã hội loài người đã vận động, phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội
nối tiếp nhau dưới sự tác động của các qui luật khách quan của xã hội. Đó là qui luật về
sự phù hợp của quan hệ sản xuẩ với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, qui luật
cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng và các qui luật xã hội khác.Trên cơ sở
15
phát hiện ra các qui luật vận động, phát triển khách quan của xã hội, C.mác kết luận:
“Sự phát triển của những hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”
Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự phát triển của
lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất phát triển làm thay đổi quan hệ sản xuất=> quan
hệ sản xuất thay đổi làm kiến trúc thượng tầng thay đổi=>hình thái kt-xh cũ được thay
thế bằng hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn. Quá trình đó diễn ra khách
quan chứ không theo ý muốn chủ quan
Sự vận động phát triển của xã hội,tức là hình thái kinh tế xã hội chính là kết quả
của sự tác động biện chứng giữa nhân tố chủ quan con người và yếu tố khách quan
(điều kiện khách quan: tự nhiên, ; qui luật khách quan của xã hội, trong đó qui luật
khách quan đóng vai trò quyết định còn nhân tố chủ quan con người chỉ mang tính chi
phối
“Tính lịch sử - tự nhiên” trong sự phát triển của xã hội được hiểu là quá trình
lịch sử nhưng mang tính tự nhiên (tính khách quan) là sự tiếp tục lịch sử của giới tự
nhiên, nghĩa là vận động , phát triển theo các qui luật khách quan và xét đến cùng thì
không phụ thuộc vào ý muốn con người.
Sự tác động của qui luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế xã hội phát
triển thay thế nhau từ thấp đến cao, tuy nhiên mỗi dân tộc còn bị chi phối bởi các điều
kiện tự nhiên, chính trí, văn hóa…vì vậy cũng có những dân tộc bỏ qua 1 hay một số
hình thái kinh tế-xã hội.
Quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra tuần tự
mà còn bao hàm cả sự bỏ qua, phát triển rút ngắn trong điều kiện nhất định, một hoặc

III. Ý NGHĨA CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Đối với việc lựa chọn con đường phát triển của xã hội Việt Nam
Tính tất yếu phải đi lên CNXH của Việt Nam
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã được Marx vận dụng vào phân tích xã hội
tư bản, vạch ra các quy luật vận động, phát triển của xã hội đó và đã đi đến dự báo về sự
ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, hình thái cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn
đầu là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội đã hình thành phát triển từ sau CM tháng Mười
Nga.
Vận dụng chủ nghĩa Mác Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta đã
khẳng định: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau. Đó là quy luật phát
triển của cách mạng VN, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối CM của đảng. Trong Chính
cương vắn tắt của Đảng đã chỉ rõ: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách
mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy mục tiêu của CMVN là tiến lên CNXH với
định hướng: sau khi hoàn thành cuộc CM dân tộc dân chủ nhân dân, sẽ tiến thẳng lên
CNXH, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự lựa chọn này dựa trên 2 yếu
tố: lý luận hình thái KT – XH của Mác và thực tiễn CMVN cuối TK 19 – đầu TK 20.
Tuy nhiên, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cần chú ý tới những điều
kiện cả khách quan lẫn chủ quan, cả thuận lợi cũng như khó khăn thách thức.
- Về điều kiện khách quan, quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có thuận lợi
là nó diễn ta trong bối cảnh cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, mang
tính chất quốc tế hoá lực lượng sản xuất, do đó được thúc đẩy mạnh mẽ. Chính vì vậy,
không những thực tế này sẽ làm cho khả năng phát triển hướng tới xã hội mới, xã hội
18
cộng sản của nhân loại càng trở nên tất yếu hơn và thuận lợi hơn vì chính sự phát triển
lực lượng sản xuất như vậy tạo ra khả năng ra đời xã hội mới từ xã hội tư bản chủ nghĩa
“dưới một hình thức ít nhiều phát triển” như nhận định của Ph.Ăngghen. Thông qua con
đường hợp tác “đa phương hoá”, “đa dạng hoá”, các nước chậm phát triển như Việt Nam
có thể thực hiện con đường phát triển rút ngắn để đuổi kịp các nước công nghiệp tiên tiến
về lực lượng sản xuất, chí ít cũng ở một số mặt cụ thể nhất định.Tuy nhiên hoàn cảnh

2.1. Giai đoạn từ 1975 đến 1986
Từ 2 yếu tố trên có thể thấy rằng việc Đảng ta luôn luôn kiên định con đường tiến
lên chủ nghĩa xã hội là là phù hợp với xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể ở nước
ta.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước Việt Nam thống nhất. Ngày 16 tháng 5 năm
1975, Bí thư thứ Nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đã trực tiếp vào miền Nam
nắm tình hình, gồm cả tình hình kinh tế. Ông thừa nhận những yếu tố tích cực của kinh tế
tư nhân và của thị trường tự do ở miền Nam. Tại cuộc họp trù bị của Hội nghị lần thứ 24
Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III, ông đã phát biểu:
“Ở miền Bắc trước đây phải hợp tác hóa ngay lập tức. Nhưng miền Nam bây giờ
không thể làm như vậy Phải có tư sản, phải cho nó phát triển phần nào đã Bộ Chính
trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết
trong giai đoạn bước đầu này Xưa nay ở miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì
chúng ta đã đi sai quy luật. Nếu chúng ta đi sai quy luật mà đưa vào miền Nam thì càng
sai lắm.”
Tuy nhiên, đa số Ban chấp hành Trung ương Đảng lúc ấy muốn áp dụng mô hình
kinh tế của miền Bắc cho miền Nam. Vì thế, Hội nghị cuối cùng quyết nghị: xóa bỏ tư
20
sản mại bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản dân tộc, thí điểm xây dựng hợp tác
xã, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ.
Tiếp theo, Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Lao động Việt Nam được tổ
chức vào tháng 12 năm 1976. Tại đây, Đại hội quyết nghị đổi tên nước thành Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định
đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Nội dung chính của đường lối xây
dựng chủ nghĩa xã hội là:
Thứ nhất, thực hiện sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Sản xuất lớn có nghĩa là nền
kinh tế dựa vào những đơn vị có quy mô lớn, huyện trở thành pháo đài kinh tế-xã hội,
các tỉnh được sáp nhập lại còn 29 tỉnh. Còn sản xuất xã hội chủ nghĩa tức là nền kinh tế
dựa vào 2 thành phần kinh tế cơ bản: quốc doanh (trong công vàthương nghiệp) và tập
thể (trong nông nghiệp - với hợp tác xã cấp cao là nòng cốt). Để thực hiện được sản xuất

đoàn sản xuất có nghĩa vụ bán sản phẩm của mình cho Nhà nước theo giá kế hoạch thấp
hơn rất nhiều giá thị trường. Bù lại, Nhà nước cung cấp vật tư và hàng hóa tiêu dùng cho
các tập đoàn.
[8]
Tuy nhiên tình hình kinh tế Miền Nam không thích hợp với mô hình hợp
tác hóa vì chương trình "Người cày có ruộng" vào đầu thập niên 1970 đã phân phối
ruộng đất khiến đa số nông dân Miền Nam thuộc hạng trung nông với năng suất khá cao.
Hơn nữa chính quyền cũng đã nhận thấy lịch sử hợp tác hóa ở miền Bắc đã gặp nhiều
thất bại nên hợp tác hóa ở miền Nam cũng bị bỏ dở.
[7]
Tính đến cuối năm 1979, ở Miền Nam thành lập được 1.286 hợp tác xã và hơn
15.000 tổ sản xuất bao gồm khoảng 50% nông dân. Vậy mà sang năm 1980 các tổ chức
này đã tan rã, chỉ có trên giấy tờ mà không hoạt động được như kế hoạch. Hậu quả là sản
xuất nông nghiệp khựng lại trong khi dân số tăng, gây ra cảnh thiếu thực phẩm khiến từ
22
năm 1976 đến 1980 mặc dù trong hoàn cảnh hòa bình Việt Nam phải nhập cảng 5,6 triệu
tấn thực phẩm.
Cải tạo công thương nghiệp đánh tư sản người Hoa
Cuối tháng 8 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đã chỉ đạo tiến
hành các chiến dịch cải tạo. Tiếp theo, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam thông qua
một kế hoạch nhắm vào tư sản mại bản, gọi bằng mật danh là Chiến dịch X2. Đợt 1 của
chiến dịch này thực hiện bất ngờ vào nửa đêm ngày 9 tháng 9 năm 1975; đợt 2 được tiến
hành từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 12. Trong Chiến dịch X2, nhiều nhà tư sản lớn của miền
Nam đã bị bắt, tài sản của họ bị tịch thu.
Song song với tấn công tư sản mại bản, chiến dịch di dân thành phố về nông thôn,
đưa những người buôn bán về các vùng kinh tế mới.
Dù vậy, các hoạt động cải tạo công thương ở miền Nam cho đến trước năm 1978
vẫn diễn ra một cách thận trọng. Vị Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh lúc đó
là Nguyễn Văn Linh là người am hiểu tình hình giới tư sản miền Nam, nên các biện pháp
của ông mềm dẻo, tỏ thái độ trân trọng và có văn hóa đối với giới tư sản. Nhưng chính

sức mua bằng 600-700 triệu ruble trước khi vào khối. Thứ hai, từ năm 1978, Khmer
Đỏ tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Chi tiêu cho quốc phòng của Việt Nam
vì vậy tăng mạnh. Tháng 1 năm 1979, Việt Nam phản công đánh sang Campuchia. Chiến
sự ở biên giới phía Bắc bùng nổ. Chi phí quốc phòng lại càng tăng vọt. Viện trợ
cho Lào và Campuchia cũng tăng lên. Trong khi đó, nhiều nước phương Tây và Nhật
Bản vốn có viện trợ cho Việt Nam đã ngừng cung cấp viện trợ. Thứ ba, cuối năm 1978
và cả năm 1979, đồng bằng sông Cửu Long chịu những trận lũ lớn. Diện tích canh tác bị
24
ngập úng tới 5-6 tháng. Thứ tư, và quan trọng, là cơ chế kinh tế mới áp dụng ở miền
Nam đã khiến cho nền kinh tế miền Nam nói riêng và cả nước nói chung sa sút.
Bài học
Ở nước ta trong thời kỳ từ Đại hội IV (năm 1976) đến trước Đại hội VI (năm
1986) của Đảng, chúng ta đã mắc phải bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội và bệnh bảo
thủ trì trệ do vi phạm các quy luật khách quan, đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chúng ta đã thoát ly khỏi điều kiện
thực tiễn của một đất nước kinh tế kém phát triển, còn nghèo nàn lạc hậu nhưng lại
muốn tạo ra một quan hệ sản xuất tiên tiến đi trước để mở đường cho lực lượng sản xuất
phát triển. Nhưng hậu quả thì ngược lại.
Đúng như văn kiện Đại hội VI đã khẳng định: “Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực
lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả
khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Lúc đó chúng ta đã chủ quan muốn tạo ra một
quan hệ sản xuất vượt trước trình độ lực lượng sản xuất, làm cho mâu thuẫn giữa lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt, đưa đất nước lâm vào khủng hoảng
kinh tế - xã hội. Chúng ta đã có những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành
phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc
doanh; mặt khác, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kìm hãm sự phát
triển của đất nước. Chúng ta vừa chủ quan nóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, hai mặt đó cùng
tồn tại và cản trở bước tiến của cách mạng.
Sự nhận thức sai quy luật chứng tỏ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status