CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ TRƯỜNG LINH - Pdf 24



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ
TRƢỜNG LINH
SINH VIÊN THỰC TẬP : NGÔ PHƢƠNG THÚY
MÃ SINH VIÊN : A16888
CHUYÊN NGÀNH : TÀI CHÍNH
HÀ NỘI - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
o0o
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ
TRƢỜNG LINH
Giáo viên hƣớng dẫn : Ths. Nguyễn Thị Lan Anh
Sinh viên thực tập : Ngô Phƣơng Thúy
Mã sinh viên : A16888
Chuyên ngành : Tài chính
Hà Nội - 2014

Trang
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƢU ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP 1
1.1. Vốn lƣu động trong doanh nghiệp 1
1.1.1. Khái niệm vốn lưu động 1
1.1.2. Đặc điểm vốn lưu động 2
1.1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động 3
1.1.4. Phân loại vốn lưu động 5
1.1.5. Kết cấu của vốn lưu động 8
1.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trong doanh
nghiệp 11
1.2.1. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 11
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp 12
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn lƣu động 18
1.3.1. Các nhân tố khách quan 18
1.3.2. Các nhân tố chủ quan 19
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ VIỆC SỬ DUNG
VỐN LƢU ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỀN
NHÀ TRƢỜNG LINH 22
2.1. Tổng quan về công ty cồ phần đầu tƣ và phát triển nhà Trƣờng Linh 22
2.2. Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đầu tƣ và
phát triển nhà Trƣờng Linh 23
2.2.1. Tình hình doanh thu – chi phí – lợi nhuận của công ty cổ phần đầu tư và phát
triển nhà Trường Linh 23
2.2.2. Tình hình tài sản - nguồn vốn năm 2011 - 2012 của công ty cổ phần đầu tư và
phát triển nhà Trường Linh 26
2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của công ty cổ phần đầu tư và phát
triển nhà Trường Linh 30
2.3. Thực trạng về sử dụng vốn lƣu động của công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển

CCDV
Cung cấp dịch vụ
CPTTNH
Chi phí thanh toán ngắn hạn
DN
Doanh nghiệp
DT
Doanh thu
HĐKD
Hoạt động kinh doanh
HH
Hàng hóa
HTK
Hàng tồn kho
KPT
Khoản phải thu
NB
Người bán
NM
Người mua
PTKH
Phải thu khách hàng
PTNH
Phải thu ngắn hạn
SXKDDD
Sản xuất kinh doanh dở dang
TGNH
Tiền gửi ngân hàng
TGTGT
Thuế giá trị gia tăng

Bảng 2.5. Cơ cấu tài sản lưu động tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường
Linh 34
Biểu đồ 2.3. Cơ cấu vốn thành tiền tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường
Linh 36
Bảng 2.7. Cơ cầu tiền gửi ngân hàng tại công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà
Trường Linh 37
Bảng 2.8. Cơ cấu các khoản phải thu ngắn hạn của công ty cổ phần đầu tư và phát triển
nhà Trường Linh 38
Bảng 2.9. So sánh tín dụng thương mại cung cấp và được cung cấp tại công ty cổ phần
đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 40
Bảng 2.10. Cơ cấu hàng tồn kho của công ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường
Linh 41
Bảng 2.11. Các chỉ tiêu tài sản ngắn hạn khác ở công ty cổ phần đầu tư và phát triển
nhà Trường Linh 42
Bảng 2.12. Các chỉ tiêu sử dụng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ
phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 43
Biểu đồ 2.4. Các hệ số dánh giá tình hình quản lý vốn lưu động của công ty cổ phần
đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 46
Biểu đồ 2.5 Thời gian trung bình phản ánh tình trạng sử dụng vốn lưu động của công
ty cổ phần đầu tư và phát triển nhà Trường Linh 47
Bảng 3.1. Số dư bình quân cuối năm 2012 54
Bảng 3.2. Tỷ lệ phần trăm các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu 55 LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu của thế giới. Sự xuất hiện của các
công ty nước ngoài đem lại sự mới mẻ trong cách thức quản lý, chiến lược kinh doanh
rất hữu ích đối với nền kinh tế mới hội nhập với thế giới như Việt Nam. Hiện nay
chúng ta đang tham gia vào quá trình hợp tác kinh tế nhằm đẩy mạnh sự phát triển của


4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận đã kết hợp sử dụng các phương pháp thu
thập thông tin, thống kê, phân tích, tổng hợp nhằm giải quyết mối quan hệ giữa lý luận
và thực tiễn về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp
5. KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo, kết cấu
khóa luận có 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về vốn lƣu động trong doanh nghiệp
Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản lý và việc sử dụng vốn lƣu động trong
công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển nhà Trƣờng Linh
Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trong
công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển nhà Trƣờng Linh

1

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƢU ĐỘNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn lƣu động trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn lưu động
Trong nền kinh tế hiện nay, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào của nền
kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra sản phầm, hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Để tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức
lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra
sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Khác với tư liệu sản xuất, đối tượng lao động khi tham
gia vào quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị
của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá
trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động
gọi là tài sản lưu động. Trong tài sản lưu động của doanh nghiệp thì có tài sản lưu

2
Giáo trình kinh tế thương mại, NXB Thống Kê
2

tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục,
doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó,
khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Như vậy, sẽ
khiến cho chuyển hoá hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.
Vốn lưu động tồn tại ở nhiều hình thái khác nhau trong quá trình sản xuất. Để
cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư
vào các hình thái khác nhau đó khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và
đồng bộ với nhau. Như vậy, các quá trình sản xuất sẽ không bị gián đoạn hay là bị ngắt
quãng với số vốn lưu động có đủ.
1.1.2. Đặc điểm vốn lưu động
Vốn lưu động là một yếu tố quan trọng gắn liền với toàn bộ quá trình sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp, luôn được biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên
đặc điểm của vốn lưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu
động. Quá trình vận động của vốn lưu động là một chu kỳ khép kín từ hình thái này
sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động luôn thể hiện dưới các hình
thái khác nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen
với nhau mà không tách biệt riêng lẻ, vốn lưu động luân chuyển không ngừng, do vậy
đòi hỏi công tác quản lý vốn lưu động là hết sức quan trọng, thường xuyên phải nắm
bắt được tình hình vốn lưu động trong doanh nghiệp để tránh tình trạng việc sản xuất
kinh doanh bị gián đoạn. Vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh
và khi tham gia vào quá trình sản xuất thì bị hao mòn hoàn toàn trong quá trình sản
xuất đó. Giá trị của nó chuyển hết một lần vào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị
sản phẩm. Khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và vốn lưu
động được thu hồi. Đây là đặc điểm khác biệt của vốn lưu động so với vốn cố định
luôn chuyển dần giá trị của nó vào sản phầm thông qua mức khấu hao. Qua mỗi giai

loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Hay nguồn
vốn này còn có thể huy động từ việc phát hành cổ phiếu mới tăng thêm vốn
theo quy định của pháp luật.
- Nguồn vốn chiếm dụng: Phán ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng hợp
pháp của cá tổ chức, cá nhân khác trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn
vốn này thể hiện qua nợ người bán, nợ phải trả, tiền trả cho công nhân viên …
chưa đến hạn phải thanh toán.
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh có nguồn gốc từ lợi nhuận tái đầu tư của doanh
nghiệp.
Nguồn vốn lƣu động hình thành bên ngoài doanh nghiệp:
- Nguồn vốn lao động liên kết: là số vốn lưu động được hình thành từ vốn góp
liên doanh của các bên tham gia liên doanh liên kết với doanh nghiệp trong
quá trình sản xuất.
- Vốn đi vay: Doanh nghiệp thường có nguồn vay ở các ngân hàng thương mại,
tổ chức tín dụng, vay thông qua phát hành trái phiếu của doanh nghiệp, thương
4

phiếu vay của tổ chức, cá nhân. Vốn đi vay là một nguồn vốn quan trọng của
doanh nghiệp để đáp ứng kịp thời được nhu cầu của vốn lưu động trong kinh
doanh.
Doanh nghiệp phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành từ vốn giúp cho
việc quản lý được nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp được xem xét và quyết định
huy động nguồn vốn nào cho hợp lý nhất để đảm bảo cho nhu cầu vốn lưu động
thường xuyên, ổn định, không bị lãng phí và tránh được sự thiếu hụt vốn trong quá
trình sản xuất.
1.1.3.2. Căn cứ vào thời gian huy động vốn
Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động nằm trong các giai đoan sản xuất của chu
kỳ kinh doanh cho nên căn cứ vào thời gian thì nguồn vốn lưu động được chia làm hai
bộ phận. Đó là nguồn vốn lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời.

lưu động của doanh nghiệp:
Nguồn vốn lưu động = Nguồn vốn lưu động thường xuyên + Nguồn vốn lưu động tạm
thời
Trong đó:
Nguồn vốn lưu động tạm thời là các khoản nợ ngắn hạn
Nguồn vốn lưu động thường xuyên thì bao gồm vốn chủ sở hữu, các khoản nợ
trung và dài hạn
Như vậy, các doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu sử dụng vốn lưu động trong từng
khâu, khả năng đáp ứng vốn lưu động của nguồn vốn chủ sở hữu để tổ chức khai thác
và sử dụng tốt các nguồn nợ dài hạn và ngắn hạn hợp lý, đáp ứng nhu cầu vốn lưu
động giúp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
1.1.4. Phân loại vốn lưu động
Trong mỗi doanh nghiệp, việc quản lý và tổ chức tốt được vốn lưu động có vai
trò hết sức quan trọng. Có thể nói, quản lý vốn lưu động là việc trọng yếu trong công
tác quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động
càng có hiệu quả thì càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm, từ loại này sang
loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác thì tổng số vốn lưu động luân chuyển sẽ
tương đối ít hơn mà lại có hiệu quả cao hơn. Để quản lý vốn lưu động được tốt cần
phải phân loại vốn lưu động. Có nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác
dụng riêng phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý. Thông qua các phương pháp
phân loại giúp cho nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và
sử dụng vốn của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác
quản lý kỳ này để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động. Do đó, muốn quản lý
tốt vốn lưu động thì phân loại theo các tiêu thức sau:
1.1.4.1. Phân loại vốn lưu động theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình
sản xuất kinh doanh
Vốn lƣu động trong khâu dự trữ sản xuất
- Nguyên vật liệu chính: là số tiền biểu hiện trị giá những loại nguyên vật liệu
khi tham gia vào quá trình sản xuất, chúng cấu tạo nên thực thể sản phẩm.
6

- Vốn hàng gửi bán là giá trị của hàng hoá, thành phẩm đơn vị đã xuất gửi cho
khách hàng mà chưa được khách hàng chấp nhận.
- Vốn bằng tiền gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng mà trong quá trình
luân chuyển vốn lưu động thường xuyên, tiền đang chuyển.
- Vốn trong thanh toán là những khoản phải thu tạm ứng phát sinh trong quá
trình bán hàng hoặc thanh toán nội bộ.
7

- Vốn đầu tư chứng khoán ngắn hạn là giá trị các loại chứng khoán ngắn hạn.
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của vốn lưu động trong từng
khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có biện pháp điều chỉnh cơ cấu vốn hợp
lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.
1.1.4.2. Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện
Vốn vật tƣ hàng hóa hay còn gọi là hàng tồn kho:
Hàng tồn kho chủ yếu là nguyên vật liệu chính,vật liệu phụ, sản phẩm đang chế
tạo, phí tổn chờ phân bổ, thành phẩm, hàng đang trên đường, hàng gửi đi bán, Tùy
theo đặc điểm kinh doanh của từng ngành, của từng mặt hàng, tùy quy mô hoạt động,
điều kiện hoạt động mà doanh nghiệp có chính sách dự trữ hàng tồn kho một cách có
hiệu quả và hợp lý. Bên cạnh đó cần ước lượng, dự báo và có biện pháp duy trì mỗi
loại hàng tồn kho để có tỉ trọng của từng loại đạt ở mức hợp lý trong suốt quá trình
hoạt động.
Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán:
- Vốn bằng tiền: Tiền mặt là một loại tài sản có tính thanh khoản cao và tồn tại
dưới nhiều hình thức như: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển đổi cho nên đòi hỏi trong hoạt động kinh doanh mỗi doanh nghiệp cần
có một lượng tiền nhất định.
- Vốn trong thanh toán của doanh nghiệp bao gồm:
Các khoản phải thu từ khách hàng, là một trong những bộ phận quan trọng nhất
của vốn luân chuyển. Khi tiến hành bán các sản phẩm của mình, doanh nghiệp thường
sẽ không thu được tiền ngay. Đây là biểu hiện của quan hệ tín dụng thương mại và

phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền
sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp được hình
thành bằng nguồn vốn của bản thân doanh nghiệp hay bằng từ các khoản nợ. Từ đó các
quyết định huy động và quản lý vốn được sử dụng hợp lý hơn, đảm bảo tài chính trong
sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.1.5. Kết cấu của vốn lưu động
1.1.5.1. Khái niệm
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc tổ chức quản lý, sử dụng vốn lưu
động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc
doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ
loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quay của
vốn. Đối với các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống
nhau. Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân
loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu
động mà mình đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện
pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh
nghiệp. Phân tích kết cấu vốn lưu động là xem xét tỷ trọng từng loại tài sản của doanh
9

nghiệp đã hợp lý và đã phát huy được hiệu quả hay chưa. Hoạt động của doanh nghiệp
có hiệu quả hay không là phụ thuộc một phần vào công tác phân bổ vốn, nếu phân bổ
hợp lý, phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh, phù hợp với sự thay đổi nhanh
chóng của thị trường sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tóm
lại, kết cấu vốn lưu động phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa từng bộ
phận vốn lưu động trên tổng số vốn lưu động của donh nghiệp.
Khi phân tích kết cấu vốn lưu động cho thấy chỉ tiêu này càng lớn. chứng tỏ tài
sản lưu động của doanh nghiệp càng cao. Để đánh giá được kết cấu vốn lưu động thì ta


phầm. Việc quản lý tồn kho dữ trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, không
phải vì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối trong vốn lưu động của doanh nghiệp.
Điều quan trọng hơn là nhờ có lượng dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽ giúp cho
doanh nghiệp không bị gián đoạn trong quá trinh sản xuất, đồng thời lại sử dụng tiết
kiệm và hợp lý vốn lưu động.
Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm tiền tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí phải trả,
các khoản thế chấp, ký quỹ ký cược ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn…
Doanh nghiệp có thể sử dụng một phần vốn của mình để chi trả một số khoản chi phí
cần trả trước hoặc có thể dùng một lượng vốn đem đi đầu tư vào các công cụ tài chính
với mục tiêu sinh lợi. Đối với các khoản đầu tư ngắn hạn còn có khả năng chuyển đổi
thành tiền mặt ngay khi doanh nghiệp cần để đáp ứng được nhu cầu. Điều này giúp
cho doanh nghiệp sinh lợi tốt hơn, chủ động hơn trong việc huy động được nguồn vốn
bằng tiền, kịp thời đảm bảo nhu cầu thanh toán. Chỉ tiêu này tuy chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng vốn lưu động nhưng cũng phản ánh được phần nào khả năng sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp.
Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp cho ta nhìn nhận được tình hình
phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản chiếm trong các giai đoạn luân chuyển để
xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong từng diều kiện cụ thể.
1.1.5.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động
Nhân tố về mặt sản xuất: gồm các nhân tố quy mô sản xuất, tính chất sản
xuất,đặc điểm kỹ thuật, quy trình công nghệ, mức độ phức tạp của sản phẩm khác
nhau, độ dài của một chu kỳ sản xuất khác nhau thì có tỷ trọng vốn lưu động ở trong
các khâu sản xuất kinh doanh (dự trữ,sản xuất,lưu thông) cũng khác nhau.
Nhân tố về mặt cung ứng tiêu thụ: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp cần dự trữ nhiều vật tư, hàng hóa và cần có nhiều nguồn cung cấp hay các đơn
vị cung ứng khác nhau. Tùy thuộc vào khoảng cách giữa doanh nghiệp với nhà cung
cấp, kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng cũng ảnh
hưởng ít nhiều đến kết cấu vốn lưu động do mất nhiều khoản chi phí cho việc di

Hiệu quả sử dụng vốn lưu động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp cũng như hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, thể hiện kết quả tối đa thu được với một chi phí vốn lưu động nhỏ nhất. Kết
quả thu được này càng cao so với chi phí bỏ ra ban đầu thì hiệu quả sử dụng vốn càng
tốt. Do đó, các doanh nghiệp luôn tìm biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động.
Một doanh nghiệp khi đi vào hoạt động thì luôn có mục tiêu là tối đa hóa lợi
nhuận của mình. Việc quản lý tốt vốn lưu động cũng góp phần giúp cho doanh nghiệp
đạt được mục tiêu mà đã đề ra từ đầu. Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành
nên giá thành sản phầm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm
cộng thêm một phần lợi nhuận. Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc
tính giá cả hàng hóa bán ra. Với lý do quản lý tốt vốn lưu động không những đảm bào
cho việc sử dụng vốn hợp lý, tránh lãng phí mà còn giúp cho việc sản xuất có chi phí
12

được hạ thấp, thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản phầm và có doanh thu bán hàng nhiều
hơn làm cho lợi nhuận tăng cao. Nếu như một doanh nghiệp mà đang trong tình trạng
quản lý vốn lưu động không tốt gây ra thừa vốn hoặc thiếu vốn lưu động sẽ làm giảm
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. Với
tình trạng thiếu vốn lưu động như vậy sẽ không đảm bảo được một chu kỳ sản xuất
kinh doanh được hoạt động một cách thường xuyên, liên tục, gây nên những thiệt hại
không thể lường trước được cho doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động nhằm tăng uy tín,
thế mạnh của mình trên thương trường, đồng thời tạo ra sản phẩm với dịch vụ chắt
lượng cao mà giá thành lại hạ thấp, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, làm
tăng khă năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Vốn lưu động còn có khả năng quyết
định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay,
doanh nghiệp với một nguồn lực vốn dồi dào về vốn lưu động thì sẽ tự chủ hơn trong

lưu động hay không thì đều biểu hiện qua chỉ tiêu này, vốn lưu động luân chuyển
nhanh hay chậm thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp cao hay thấp
tương ứng.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luân
chuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển vốn (số ngày một vòng quay vốn).
Số lần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện
trong một thời kỳ nhất định,một đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra huy động vào sản xuất
kinh doanh mang lại mấy đồng doanh thu, thường tính theo công thức:
L
=
M
VLĐ
BQ
Trong đó:
L: Số lần luân chuyển (số vòng quay) của vốn lưu động trong kỳ
M: Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ
VLĐ
BQ
: Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Kỳ luân chuyển vốn phán ành số ngày để thực hiện một vòng quay vốn lưu động.
chỉ tiêu này được tính theo công thức như sau:
K
=
360
L
Hay
K
=
VLĐ
BQ

+ V
Q3
+ V
Q4

4
Trong đó:
VLĐ: Vốn lưu động bình quân trong kỳ
V
q1
, V
q2
, V
q3
, V
q4
: Vốn lưu động bình quân các quý 1,2,3,4 trong năm.
1.2.2.2. Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển
Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển phản ánh số vốn lưu
động được tiết kiệm hay lãng phí của nó được luân chuyển từ kỳ này so với kỳ trước,
được thể hiện qua 2 chỉ tiêu sau:
- Mức tiết kiệm tuyệt đối: Là với mức luân chuyển vốn lưu động của doanh
nghiệp không thay đổi, thêm vào đó là tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanh
nghiệp có thể tiết kiệm được một lượng vốn lưu động được rút ra khỏi để sử
dụng vào việc khác. Công thức tính:
VLĐ
TKTĐ
=
VLĐ
BQ1

: Số lần luân chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch
15

- Mức tiết kiệm tương đối: Khi doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, việc
tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động giúp cho doanh nghiệp không cần tăng
thêm hoặc bỏ tăng thêm không đáng kể số vốn lưu động bỏ ra.
VLĐ
TKTgĐ
=
DTT
1
L
1
-
DTT
0
L
0
Trong đó:
VLĐ
TKTgĐ
: Số vốn lưu động tăng thêm (+) hay có thể tiết kiệm (-) do có sự tăng
tốc độ luân chuyển vốn lưu động của kỳ này so với kỳ trước.
DTT
1
: Doanh thu thuần kỳ kế hoạch
DTT
0
: Doanh thu thuần kỳ báo cáo
L

nhìn nhận qua các hệ số về khả năng thanh toán sau:

Trích đoạn Các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính của công ty cổ phần đầu tư và phát Môi trƣờng kinh doanh với những thuận lợi và khó khăn của công ty Định hƣớng phát triển của công ty Một số biện pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status