TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
Bộ Môn Sinh Học và Bệnh Thủy Sản
NGUYỄN THỊ BÉ HẬU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CỦA VI KHUẨN PHÂN LẬP
TRÊN CÁ KÈO (Pseudapocryptes lanceolatus) BỆNH XUẤT
HUYẾT NUÔI Ở TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
2012
LỜI CẢM TẠ
Em xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu trường Đại Học Cần Thơ cùng
toàn thể quý thầy cô Khoa Thuỷ Sản đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ em trong
suốt quá trình học tập, rèn luyện và thực hiện luận văn này. Đặc biệt em xin chân
thành cảm ơn Cô Đặng Thị Hoàng Oanh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý
chân thành cho em thực hiện tốt đề tài, hoàn thành luận văn tốt nghiệp đại học
này.
Xin gởi lời cám ơn đến cô cố vấn Nguyễn Thị Thu Hằng và quý thầy cô,
các anh chị trong khoa Thủy sản và bộ môn Sinh học & Bệnh Thuỷ sản đã giảng
dạy và hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong
suốt thời gian học tập cũng như trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
tại trường đại học.
Xin chân thành cảm ơn chị Dung, anh Hoàng, anh Văn và chị Hà đang công
tác ở tỉnh Bạc Liêu đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian đi thu mẫu và điều
tra tại địa phương.
Và xin chân thành biết ơn sâu sắc gia đình và những người thân của em đã
tạo mọi điều kiện, sự động viên, tình yêu thương về vật chất cũng như tinh thần
trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Gửi lời cảm tạ đến tập thể lớp BHTS khóa 34 đã hết lòng ủng hộ, quan tâm,
giúp đỡ trong suốt thời gian qua.
Xin chân thành cám ơn!
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG v
DANH SÁCH HÌNH vi
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm hình thái 3
2.1.3 Phân bố và tập tính sống 4
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.6 Mùa vụ sinh sản 5
2.2 Một số bệnh vi khuẩn trên cá Biển 5
2.2.1. Bệnh do Vibrio 5
2.2.2. Bệnh do Pseudomonas 6
2.2.3. Bệnh do Streptococcus 6
2.2.4. Bệnh do Flexibacter 6
2.2.5. Bệnh do Photobacter 7
2.2.6. Bệnh vi khuẩn trên thận (Bacterial Kidney Disease – BKD) 7
2.2.7. Bệnh Mycobacteriosis 7
2.2.8. Bệnh furuculosis ở cá 8
2.2.9. Bệnh Piscirickettsiosis 8
v
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Thông tin về ao nuôi cá kèo 15
Bảng 4.2 Đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh hoá của 20 chủng vi khuẩn đại
diện 23
1
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu
Hiện nay ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới rất phát triển, đóng vai trò
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Chính vì thế, nguồn lợi thủy sản ngày
càng cạn kiệt do đánh bắt, khai thác bừa bãi, vì vậy mô hình nuôi công nghiệp
ngày càng phổ biến ở nước ngoài, trong nước và đặc biệt là Đồng Bằng Sông
Cửu Long (ĐBSCL). Trước kia người nuôi chỉ chú trọng đến con tôm, do nó
mang lại lợi nhuận cao, mặt khác nuôi tôm cũng mang lại rủi ro không nhỏ cho
người nuôi. Nhận ra được mối trở ngại đó, và biết được nguồn thu nhập từ việc
nuôi cá biển cũng không kém nên nhiều hộ nuôi đã dùng ao nuôi tôm chuyển
sang nuôi cá, một số loài có giá trị kinh tế cao được chọn nuôi như cá kèo, cá
chẽm, cá chình,vv.
Từ năm 2000 đến nay nguồn lợi cá kèo rất được quan tâm và tiến hành
nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề đánh giá nguồn lợi, biến động quần thể,
khai thác cá kèo giống, thử nghiệm nuôi, đặc điểm sinh học, tập tính di cư, …
(Võ Thành Toàn, 2005). Hàng năm sản lượng khai thác cá kèo trong tự nhiên cao
và chiếm vị trí quan trọng ở ĐBSCL, cá kèo có thịt thơm ngon được nhiều người
ưa chuộng, cá có thể được ăn tươi hoặc phơi khô.
Do khai thác nhiều mà cung không đủ cầu nên ngày càng thúc đẩy người
nuôi chuyển sang nuôi cá kèo, tại Bạc Liêu diện tích nuôi tôm sú đã và đang
chuyển sang mô hình nuôi cá kèo ở mật độ thấp và mật độ cao vào mùa mưa, gần
3
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1.1 Phân loại
Theo (Mai Đình Yên, 1992) ở Nam bộ có hai loại cá kèo là
Pseudapocryptes lanceolatus (cá bống kèo vẩy nhỏ) và Parapocryptes
serperaster (cá bống kèo vẩy to). Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng có
hai loại cá kèo này (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Nguyễn
Hữu Phụng (1997) đã phân loại được hai loài cá kèo Pseudapocryptes
lanceolatus và Pseudapocryptes macrolepis. Larson (2000) xác định cá bống kèo
có tên khoa học là Pseudapocryptes elongate, loài Pseudapocryptes elongatus có
tên đồng nghĩa là Pseudapocryptes lanceolatus (Bloch & Scheneider, 1801);
(Rainboth, 1996). Hiện nay cá bống kèo vẩy nhỏ đang được gọi phổ biến là
Pseudapocryptes elongatus (Cuvier, 1816). Tên tiếng việt là cá kèo, cá bống kèo
hay cá kèo vẩy nhỏ. Tên tiếng anh là Lanceolate goby. Theo Cuveir (1816) thì cá
kèo vẩy nhỏ được phân loại như sau:
Bộ: Perciformes
Họ: Gobiidae
Giống: Pseudapocryptes
Loài: Pseudapocryptes elongatus hay Pseudapocryptes lanceolatus
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Theo Rainboth (1996) thì cá kèo có chiều dài đến 20cm, chiều cao thân
bằng 14% chiều dài chuẩn, có 6 - 7 vạch đen chạy xiên từ lưng đến giữa bên
thân, có những chấm nhỏ trên má, nắp mang và gáy nhưng không có trên thân.
Công thức vi của loài này là: D1. V; D2. I, 30-31; A. I, 28-29; P 18-19; V 1,5
(Mai Đình Yên, 1992). Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993)
thì công thức vi của loài Pseudapocryptes elongatus được xác định là: D1. V;
D2. I, 30-33; A. I, 27-30; P 17-20; V 1,5. Còn theo Trần Đắc Định (2002) công
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Trần Đắc Định và ctv (2002) nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cá kèo ở
vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu cho thấy trên tổng số mẫu 508 mẫu cá thu được có
chiều dài tổng của cá từ 10,1-20,3cm. Theo Võ Thành Toàn (2005) thì qua kết
quả phân tích các tham số tăng trưởng của 1.264 mẫu cá được thu trong 12 tháng
từ 3/2004-2/2005 tại khu vực Kinh Xáng – Bạc Liêu (L
∞
=22,1cm, K=0,81/năm,
t
o
=-0,8) và chỉ số tăng trưởng là 2,778. Theo kết quả nghiên cứu của Trần Đắc
Định và ctv (2007) thì cá kèo có kích thước tương đối nhỏ trong số tổng 1.058
mẫu thu từ tháng 1 năm 2004 đến tháng 6 năm 2005, chiều dài cơ thể cá cái đạt
từ 9,0cm đến 24,0cm, chiều dài ban đầu (L
m
) cho cá trưởng thành đối với cá cái
là 15,4cm và cá đực là 16,3cm. Theo dữ liệu tần suất chiều dài của cá kèo vẩy
nhỏ cho thấy chiều dài cực đại cá có thể đạt được là L
∞
=25,9cm với tốc độ tăng
trưởng K=0,66/năm và t
o
=-0,26. Dự kiến tuổi thọ cao nhất của cá kèo là 4,35
năm.
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
5
Theo Trần Đắc Định và ctv (2002), cá kèo là loài cá có tính ăn thiên về
thực vật do tỷ lệ giữa chiều dài ruột (L
cao nhất trong chuỗi thức ăn của cá kèo (83,1%), kế đến là mùn bã hữu cơ trong
nền đáy (14,9%) và tảo lam (1,9%). Ngoài ra, một số ít động vật phù du cũng
hiện diện trong thức ăn của cá bao gồm: Copepoda (0,06%) và Cladocera
(0,03%). Kết quả này cho thấy cá kèo sống trong môi trường rất giàu tảo khuê và
mùn bã hữu cơ, nền đáy là bùn hay bùn cát.
2.2 Một số bệnh vi khuẩn trên cá biển
Theo Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Ngọc Du (2010) các bệnh nguy hiểm thường
gặp trên động vật nuôi biển là những bệnh sau:
2.2.1. Bệnh do Vibrio
6
Tác nhân chủ yếu là vi khuẩn V. anguillarum, V. ordalii, V. Salmonicida và V.
Vulnificus. Ở khu vực Đông Nam Á, bệnh xảy ra chủ yếu trên cá mú, cá chẽm.
Biểu hiện bệnh lý là xuất huyết, đốm đỏ, lở loét, vây bị ăn mòn. V. anguillarum
có 23 kiểu huyết thanh O đã biết, chỉ có O
1
, O
2
O
3
có liên quan đến bệnh Vibrio
trên cá. Vaccin cho V. anguillarum có thành phần chủ yếu là kiểu huyết thanh
O
1
, O
2
hoặc kết hợp O
1
, O
hoặc sử dụng một số kháng sinh.
2.2.4. Bệnh do Flexibacter
Tác nhân gây bệnh là Flexibacter maritimus. Bệnh phát tán rộng ở châu Âu,
Nhật Bản, Bắc Mỹ và Australia. Bệnh mòn đuôi gây ra bởi Flexibacter
maritimus, thường xảy ra ở cá con. Đuôi cá bị lở loét, ăn mòn, thậm chí mất hẳn.
7
Bệnh xảy ra khi nồng độ muối trong nước cao. Vi khuẩn xâm nhiễm vào cá
thông qua những vùng tổn thương của vây. Mặc dầu có tính đồng nhất về mặt
sinh hóa, vi khuẩn có ít nhất hai nhóm chính huyết thanh O. Sự biến đổi về mặt
huyết thanh học cho thấy vaccine cho cá này có thể không có hiệu quả đối với
bệnh flexibacteriosis ở những loài cá biển khác. Hiện đã có vaccine đa giá để
phòng bệnh flexibacteriosis và vibriosis, flexibacteriosis và streptococcosis cho
cá bơn.
2.2.5. Bệnh do Photobacter
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Photobacterium damselae subsp. piscicida. Năm
1990, bệnh đã gây tổn thất về kinh tế rất lớn cho nghề nuôi cá biển cá tráp, cá
chẽm… ở các quốc gia thuộc vùng Địa Trung Hải. Cá bệnh có những nốt trắng ở
vùng nội tạng, đặc biệt ở thận và lách. Bệnh xảy ra nghiêm trọng khi nhiệt độ
nước ấm (trên 18
0
C), khi nhiệt độ thấp, cá ở tình trạng ủ bệnh. Sự khác biệt về
độc lực vi khuẩn phụ thuộc vào nguồn phân lập. Ngoài ra sự nhạy cảm với bệnh
còn tùy thuộc vào độ tuổi của cá. Hiện nay đã có nhiều vaccine thương mại
phòng bệnh do Ph. damselae subsp. piscida, nhưng hiệu quả còn phụ thuộc nhiều
vào loài cá, kích cỡ cá, thành phần vaccine và chất kích thích miễn dịch.
2.2.6. Bệnh vi khuẩn trên thận (Bacterial Kidney Disease – BKD)
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Renibacterium salmoninarum có dạng hình que,
gram dương, gây bệnh trên cả cá nước ngọt và nước mặn. Bệnh xảy ra ở Bắc Mỹ,
cách dùng kỹ thuật thay thế gen đồng vị, đã được thử nghiệm thành công trong
phòng thí nghiệm giống như vaccine sống an toàn.
2.2.9. Bệnh Piscirickettsiosis
Là bệnh nhiễm trùng máu ở cá hồi. Tác nhân gây bệnh là Piscirickettsia
salmonis, là vi khuẩn di động gram âm và là vi khuẩn nội bào bắt buộc. Ngoài
thận và gan, não cũng được xem là mô đích tấn công của vi khuẩn gây bệnh. Cá
bị bệnh có biểu hiện lờ đờ, biếng ăn, sậm màu, thở khó khăn và bơi trên mặt
nước. Dấu hiệu đầu tiên là những vết thương màu trắng nhỏ và những vết loét
cạn ở trên da. Biểu hiện đặc trưng nhất của tổn thương bên trong là sự hiện diện
của những nốt có vỏ bọc màu trắng ngả sang vàng, kích thước 2cm, rải rác ở gan.
Hiện nay, một vaccine tiểu đơn vị tái tổ hợp đơn giá (monovalent recombinant
subunit vaccine) được tạo ra có tính bảo hộ cao trên cá hồi coho đã được thử
nghiệm.
9
CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2012.
Địa điểm:
- Phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh Học và Bệnh Thủy Sản, Khoa Thủy Sản,
Trường Đại Học Cần Thơ.
- Địa điểm điều tra và thu mẫu: tỉnh Bạc Liêu.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Cá kèo thương phẩm
3.2.2 Dụng cụ và hóa chất
Dụng cụ
- Bộ tiểu phẫu, lame, lamen, kính hiển vi.
Đọc kết quả dưới kính hiển vi ở vật kính 40x và 100x.
3.3.2 Phân lập và định danh vi khuẩn
Phân lập, nuôi cấy
Khử trùng mặt ngoài cơ thể cá bằng cồn 70%. Sau khi mổ cá, khử trùng cơ quan,
dùng dao mổ tiệt trùng rạch một đường trên thận, tỳ tạng, gan hay vết thương.
Đặt que cấy vào nơi vừa rạch, xoay nhẹ để lấy mẫu bệnh phẩm và cấy trên đĩa
agar. Trường hợp tỳ tạng quá nhỏ có thể dùng nhíp lấy 1 ít tỳ tạng và cấy lên đĩa
agar. Ủ các đĩa môi trường này trong tủ ấm ở nhiệt độ 30-32
o
C. Sau 24-48 giờ,
quan sát và ghi nhận kết quả phân lập.
Tách ròng vi khuẩn
Mẻ cấy ròng (thuần) là mẻ cấy trong đó chỉ có một loài hoặc một chủng vi sinh
vật duy nhất sống và phát triển. Thao tác tách ròng mẻ cấy vi khuẩn cần được
thực hiện nếu sau khi phân lập vi khuẩn phát triển trên môi trường nhân tạo với
nhiều loại khuẩn lạc khác nhau. Tách ròng vi khuẩn bằng cách dùng que cấy nhặt
từng loại khuẩn lạc từ trên đĩa có chứa nhiều loại vi khuẩn cấy vào các đĩa agar
mới.
Xác định đặc điểm hình thái vi khuẩn
Sau khi ủ vi khuẩn 24-48 giờ (ở 30-32
o
C), tiến hành quan sát hình dạng, màu sắc
của khuẩn lạc để xác định tính ròng của mẻ cấy. Nếu chỉ có 1 dạng khuẩn lạc thì
11
nhuộm Gram, quan sát với vật kính 100X để xác định Gram, hình dạng và kích
thước vi khuẩn sau khi tách ròng. Sau đó quan sát khả năng di động và kiểm tra
một số chỉ tiêu sinh hóa của vi khuẩn.
Quan sát hình dạng khuẩn lạc
Kiểm tra tính ròng của vi khuẩn: kiểm tra các khuẩn lạc trên đĩa cấy có cùng
nằm trên đường cấy, đồng nhất về màu sắc và hình dạng. Quan sát tiêu bản vi
khuẩn nhuộm Gram, xem các tế bào vi khuẩn có đồng nhất về kích thước, hình
dạng, màu sắc (màu tím/hồng).
Phản ứng Oxidase: dùng que cấy tiệt trùng nhặt một khuẩn lạc cho tiếp xúc trên
que thử oxidase. Quan sát que thử trong 30 giây và ghi nhận sự thay đổi màu sắc.
Phản ứng Catalase: nhỏ 1 giọt dung dịch 3% H
2
O
2
lên lame. Dùng que cấy tiệt
trùng lấy 1 ít vi khuẩn cho vào dung dịch 3 % H
2
O
2
.
Khả năng lên men và oxy hóa đường glucose (O-F): chuẩn bị 2 ống nghiệm
chứa môi trường O-F đã tiệt trùng với 1% đường glucose. Dùng que cấy tiệt
trùng lấy 1 ít vi khuẩn trên đĩa agar và cấy thẳng vào 2 ống nghiệm chứa môi
trường O/F (cấy thẳng đứng tới đáy ống nghiệm), sau đó phủ 0,5-1ml dầu
parafine tiệt trùng vào 1 ống nghiệm tạo diều kiện yếm khí trong ống nghiệm
(kiểm tra khả năng lên men glucose: F), ống còn lại sẽ kiểm tra tính hiếu khí của
vi khuẩn (khả năng oxy hóa: O) và ủ trong tủ ấm 30-32
o
C. Đọc kết quả sau 24-48
giờ (có thể kiểm tra kết quả trong vòng 7 ngày).
Khả năng phát triển của vi khuẩn trong môi trường TSB (+ 6,5%NaCl)
Hòa tan môi trường tryptic soy broth (theo nhãn hướng dẫn) thêm 6,5% NaCl,
cho 5ml vào ống nghiệm, thanh trùng ở 121
để định tính và bán định lượng kháng thể trong huyết thanh.
Phương pháp: Nhỏ một giọt dung dịch strep-B-latex (10l) lên lame và nhỏ một
giọt nước muối sinh lý lên lame, dùng tâm tre tiệt trùng lấy một vài khuẩn lạc
trên đĩa agar cấy thuần hòa vào giọt nước muối sinh lý và trộn hai giọt dung dịch
lại với nhau, phản ứng xảy ra khi ngưng kết xuất hiện trong vòng 5-10 giây. Nếu
phản ứng vượt quá 30 giây thì phản ứng có thể là sai. Nếu không có sự hiện diện
của kháng nguyên tương ứng sẽ không có ngưng kết xảy ra. Bột kít strep-B-latex
dùng phân biệt nhóm Streptococus agalaetiae týp 2 do vi khuẩn có màng
capsular polysaccharide.
Khả năng tan huyết
Ý nghĩa: Tan huyết là sự phân hủy của các tế bào máu, do quần thể vi khuẩn có
khả năng gây tan huyết khi phát triển trên môi trường thạch máu, nó được sử
dụng để phân loại vi khuẩn đặc trưng. Đặc biệt dùng trong việc phân loại các liên
cầu khuẩn, do liên cầu khuẩn có khả năng tiết ra chất hemolysin gây tan huyết.
Phương pháp: Vi khuẩn được phân lập trên mẫu cá bệnh, phải được xác định là
loài vi khuẩn gram dương, hình cầu, vi khuẩn nuôi trên đĩa TSA (+1,5% NaCl).
Khi vi khuẩn đã thuần, dùng que cấy nhặt 1 khuẩn lạc và cấy lên đĩa môi trường
Blood (+1,5% NaCl). Sau 48 giờ ở 30-32
o
C vi khuẩn phát triển và đọc kết quả.
Đọc kết quả:
- Dạng alpha: Streptococcus Pneumoniae và một nhóm liên cầu khuẩn
(Streptococcus viridans hoặc viridans streptococci) sẽ cho ra kết quả alpha là
tán huyết không hoàn toàn. Nhóm vi khuẩn này làm thay đổi màu sắc trong
môi trường thạch nhưng tán huyết không đầy đủ và tán huyết một phần. Tán
huyết alpha được gây ra do vi khuẩn có khả năng sản xuất ra hydrogen
peroxide làm oxi hóa hemoglobin trong môi trường Blood.
- Dạng beta: còn được gọi là tán huyết đầy đủ, dùng để nhận biết Streptococcus
pyogenes hoặc nhóm strep (GAS), nó có khả năng tiết ra enzyme streptolysin
có khả năng gây ra sự tán huyết đầy đủ, làm xuất hiện một khu vực sáng trên
Sau 4 - 4,5 giờ, cho thuốc thử vào các ô
VP: 1 giọt VP1 + 1 giọt VP2.
HIP: 2 giọt NIN.
PYRA, αGAL, βGUR, βGAL, PAL, LAP: 1 giọt Zym A + 1 giọt Zym B
Đọc kết quả của các phản ứng sau 10 phút.
Sau 24 giờ, Đọc kết quả các ô ESC, ADH, RIB
→
GLYG. Không đọc lại kết
quả các ô HIP, PYRA, αGAL, βGUR, βGAL, PAL, LAP.
3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.
15
CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin về ao nuôi cá kèo
Qua khảo sát 6 hộ nuôi cá kèo với hình thức nuôi thâm canh (chiếm 100%),
đạt năng xuất khá cao trung bình 11 tấn/ha, diện tích nuôi trung bình của các ao
là 2.300m
2
(nhỏ nhất 2.000m
2
và lớn nhất 3.000m
2
) và mật độ thả trung bình
200con/m
2
với kích thước cá trung bình là 2cm (Bảng 4.1; Hình 4.1).
Bảng 4.1 Thông tin về ao nuôi cá kèo
(600g/con)
Nguyễn Thị Ân
Hòa Bình-Bạc
Liêu
6.000/3ao 200
Xuất
huyết,
cong thân
Amoxicillin
Trần Văn Thi
ấp Do Thới-xã
Vĩnh Mỹ A-
huyện Hòa
Bình- Bạc Liêu
15.000/5ao 200
Xuất
huyết,
xoang
bụng chứa
dịch
Amoxicillin
Capsules BP
(500mg)
Phan Thanh Việt
ấp Do Thới-xã
Vĩnh Mỹ A-
huyện Hòa
Bình- Bạc Liêu
5.000/2ao 200
làm ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của cá, bên cạnh đó chi phí cho vụ nuôi cũng
rất cao nhưng năng suất không được như mong muốn. Cá kèo tăng trưởng tốt
nhất ở độ mặn là 10‰ (Lê Văn Lĩnh, 2009), nhiệt độ dao động trong khoảng 23-
32
o
C (Quách Xuân Bửu, 2009).
Nghiên cứu của Trương Hoàng Minh và Nguyễn Thanh Phương (2011), ở
hai Tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu, diện tích nuôi tôm sú đã và đang chuyển sang
mô hình nuôi cá kèo ở mật độ thấp và mật độ cao vào mùa mưa. Gần 50% số hộ
nuôi chuyên tôm đã chuyển sang hình thức nuôi cá kèo với mật độ cao và có trên
50% số hộ chuyển qua hình thức nuôi cá kèo ở mật độ thấp. Cùng với nghiên
cứu của Nguyễn Tấn Nhơn (2008) khảo sát 61 hộ nuôi cá kèo ở các tỉnh Sóc
Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau với mật độ nuôi bình quân là 80 con/m
2
. Nghiên cứu
của Trần Ngọc Hải và Nguyễn Tấn Nhơn (2009) nuôi cá kèo ở Sóc Trăng, Bạc
Liêu và Cà Mau mật độ nuôi trung bình 80 con/m
2
. Trước xu hướng chuyển từ
diện tích nuôi tôm sang nuôi cá kèo thì hiện nay tổng diện tích nuôi cá kèo tại
Bạc Liêu là rất lớn 342,22 ha (Hoàng Trang - TTKNKN Bạc Liêu, 2011) cùng
với mật độ nuôi cao trung bình 200 con/m
2
nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra
gây thiệt hại cho người nuôi. Theo hộ nuôi sau khi thả giống 1-2 tháng thì cá
thường có dấu bệnh như bệnh xuất huyết, đường ruột, bụng to, cong thân, tuột
nhớt, phân trắng. Bệnh xảy ra làm cá chết trung bình 2-5 kg/ngày. Cũng theo
người nuôi thì cá bệnh là do môi trường ô nhiễm, mật độ nuôi cao, thời tiết thay
đổi làm cá bị sốc, đặc biệt sau mỗi trận mưa. Ngoài ra, bệnh cũng do nguồn
giống tự nhiên nên chưa đảm bảo chất lượng và không được kiểm tra trước khi
vi như vi ngực, vi bụng, vi lưng, vi hậu môn, các khối u trên bề mặt cơ thể, mắt
lồi, mờ đục và phù ra. Dấu hiệu bệnh lý bên trong được ghi nhận là: xoang bụng
chứa đầy dịch nhờn, gan xuất huyết hoặc tái nhạt, tỳ tạng bị sưng to hoặc teo nhỏ
và xuất huyết, thận xuất huyết và bị nhũn, mật sưng to (Hình 4.2).
Theo Dương Nhựt Long (2003) thì khi cá bệnh có dấu hiệu bơi lảo đảo, trên
thân xuất hiện nhiều điểm xuất huyết nhỏ li ti, bệnh nặng thì các gốc vây xuất
huyết là bệnh xuất huyết (đốm đỏ) là do một số loài vi khuẩn như Aeromonas
hydrophila và Pseudomonas gây ra. Còn theo Từ Thanh Dung (2005), khi cá
bệnh xuất hiện từng đốm đỏ nhỏ trên da, quanh miệng và nắp mang, rõ nhất là
hai bên thân và bụng, vây bụng, cá bơi lội xoắn tròn (lảo đảo), mất thân bằng thì
cũng có thể là bệnh do Pseudomonas spp gây ra. Huỳnh Công Minh (2010), ghi
nhận được những dấu hiệu bệnh lý như xuất hiện nhiều đốm đỏ trên cơ thể, xuất
huyết trên thân, vây, quanh miệng, lưỡi, xuất hiện vết loét ăn sâu vào cơ thể, hoại
tử đuôi, vây, xuất hiện các vết thương trên lưng, các khối u trên bề mặt cơ thể,
vẩy dễ rơi rụng, mắt lồi, mờ đục và phù ra, bụng trương lên và chứa nhiều dịch,
nội tạng bị hoại tử, gan tái nhạt, mật và thận sưng to, bong bóng bị xuất huyết là
có liên quan đến vi khuẩn Aeromonas, Pseudomonas, Edwardsiella, Vibrio.
Brock et al. (1997) cho biết bệnh do Vibrio gây ra còn gọi là bệnh xuất huyết với
các dấu hiệu bệnh lý như lờ đờ, giảm ăn, trôi nổi gần bề mặt và bơi lội mất
phương hướng. Ruột chứa dịch, gan, thận và tỳ tạng có thể bị sưng phồng.