A. Lời nói đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc. Việc mở cửa hội
nhập về kinh tế - xã hội là điều mà rất nhiều ngời đang hớng tới. nhng ngoài
những mặt tích cực rất rõ nét của chúng. Nó còn để lại ở đây những nguy cơ vô
cùng to lớn: Đó là tham nhũng và tụt hậu xa hơn về kinh tế. Nó có thể ảnh hởng
đến sự tồn vong của cả một quốc gia. Do đó Đảng và Nhà nớc ta đã xác định
việc đấu tranh chống tham nhũng và tụt hậu xa hn về kinh tế là vấn đề hết sức
khó khăn và nó có ảnh hởng rất lớn đối với việc phát triển kinh tế đất nớc ta.
Với tham nhũng, đợc nhân dân Việt Nam coi là quốc nạn, là một nguy cơ
làm tàn hại đất nớc. Đây là một căn bệnh của xã hội loài ngời. Nó xảy ra ở
những quốc gia và khu vực rất khác biệt về hệ t tởng, lịch sử, văn hoá, chế độ
chính trị, xã hội.
Còn việc tụt hậu xa hơn về kinh tế, đây cũng là vấn đề rất nan giải và là
bài toán khó cho Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta trong quá trình bắt kịp với đà
phát triển của nền kinh tế thế giới. Từ những năm 1975, nớc ta đi theo con đờng
kế hoạch hoá tập trung. Nhng nhìn thấy mặt tiêu cực của nó, Đảng và Nhà nớc
ta đã đa nớc ta phát triển theo kinh tế thị trờng và có những thành tựu đáng kể.
Nhng để bắt kịp đợc với đà phát triển của thế giới thì đó là cả vấn đề cực kỳ khó
khăn.
Vì vậy, việc tìm hiểu và các biện pháp phòng chống về tham nhũng và
vấn đề tụt hậu xa hơn về kinh tế đã trở thành vấn đề trung tâm thu hút sự chú
ý của cộng đồng thế giới hiện nay.
Với đề tài này, em viết để nắm bắt về thực trạng vấn đề của đất nớc và
các biện pháp, giải pháp phát triển kinh tế nớc ta. Em xin chân thành cảm ơn
thầy.
1
B. Nội dung
Chơng I: Tham nhũng và tụt hậu xa hơn về kinh tế
1.1. Nguyên nhân ra đời và sự gia tăng của nạn tham nhũng
1.1.1. Tham nhũng
1.1.1.1. Khái niệm về tham nhũng
- Thứ hai: đó là do bản chất của cơ chế thị trờng, của việc tự do hoá cạnh
tranh tạo ra.
- Thứ ba: Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của bộ phận không nhỏ cán
bộ Đảng viên và sự yếu kém của công tác quản lý, giáo dục đào tạo cán bộ đảng
viên của các tổ chức Nhà nớc và Đảng.
Trớc đây, trong cơ chế cũ tập trung, quan liêu bao cấp đã có tham nhũng
nhng ở phạm vi hẹp hơn và mức độ thấp hơn. Từ khi chuyển sang nền kinh tế
thị trờng, mở rộng giao lu với bên ngoài, do tác động bởi yếu tố vật chất của cơ
chế đó và do không chịu thờng xuyên rèn luyện tu dỡng nhiều cán bộ đảng viên,
công chức đã sa ngã, thoái hoá, chạy theo lối sống chủ nghĩa cá nhân, bị lợi ích
vật chất cám dỗ, sống đồi truỵ xa hoa, đã trợt vào cùng bùn tham nhũng, tội lỗi.
Trong khi đó công tác quản lý, giáo dục kiểm tra cán bộ Đảng, cán bộ và công
chức bị buông lỏng, yếu kém, không chuyển kịp trớc tình hình mới.
- Thứ t: Cơ chế, chính sách, pháp luật cha đầy đủ, thiếu sự đồng bộ, cha
thực sự chuyển mạnh sang cơ chế thị trờng.
Mặc dù nớc ta đã trải qua hàng chục năm đổi mới, nhng chúng ta cha xây
dựng đợc một hệ thống cơ chế, chính sách quản lý kinh tế vĩ mô đồng bộ và
hoàn chỉnh phục vụ cho sự nghiệp đổi mới.
- Thứ năm: Sự lãnh đạo chỉ đạo của Đảng và Nhà nớc có lúc, có nơi còn
thiếu sâu sát, chặt chẽ, cha quyết tâm cao, cơ chế tổ chức và giải pháp phòng
ngừa tham nhũng cha hiệu quả.
Tuy Đảng và Nhà nớc có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phòng, chống, tham
nhũng nhng việc triển khai cụ thể cha bàn kỹ, thiếu những giải pháp có hiệu
quả, tổ chức chỉ đạo cha chặt chẽ.
3
Tóm lại, tình trạng tham nhũng phổ biến và nghiêm trọng ở nớc ta xét về
mặt chủ quan là hệ quả tổng hợp của 5 nguyên nhân trên, trong đó nguyên nhân
về sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên
là nguyên nhân chủ yếu.
1.1.1.3. Sự gia tăng hơn của nạn tham nhũng
nhũng trong bộ máy Nhà nớc và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các
ngành, từ TW đến cơ sở?
1.1.2. Tụt hậu xa hơn về kinh tế, mặt yếu kém của sự phát triển
Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền
kinh tế thị trờng trong bối cảnh kinh tế - chính trị thế giới đang trong quá trình
cơ cấu lại một cách sâu sắc. Hơn nữa, Việt Nam nằm trong khu vực châu á với
nền văn minh Trung Hoa đặc sắc và có sự phát triển kinh tế năng động nhất
trong thập kỷ qua. Liệu Việt Nam có phát triển vợt lên đợc theo con đờng phơng
Đông, con đờng Việt Nam riên của mình hay không?
So với nhiều nớc trong khu vực, sự phát triển của Việt Nam đang bị chậm
vài thập kỷ, Việt Nam đã bị tụt hậu khá xa về kinh tế, là một trong những nớc
nghèo nhất thế giới và có nguy cơ tụt hậu mạnh hơn nữa nếu không có một đ-
ờng lối, chiến lợc thông minh và có một quyết tâm cao.
Đó là sự nhìn nhận với nền kinh tế Việt Nam. Còn nhìn vào sự tụt hậu xa
hơn về kinh tế giữa các nớc trên thế giới. Với xu thế càng ngày càng phát triển
hiện nay thì khoảng cách giữa các nền kinh tế, các nớc ngày càng đợc gia tăng.
Song, có không ít những thăng trầm trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử.
Với điểm xuất phát rất cao, các cờng quốc nh Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật Bản
(các nớc phát triển) rất thuận lợi. Trong quá trình phát triển kinh tế nhng với
điểm xuất phát thấp nh Việt Nam, Lào, Campuchia và một số nớc châu Phi,
châu Mỹ (các nớc chậm và kém phát triển) thì việc phát triển kinh tế là vấn đề
rất nan giải. Trong những năm 90, thế giới đã chứng kiến sự thay đổi lớn lao ch-
a từng có kể từ đầu thế kỷ đến nay. Sự kiện nổi bật nhất là sự sụp đổ của mô
hình xây dựng chủ nghĩa xã hội Xô viết, kéo theo đó là sự sụp đổ của cả hệ
thống xã hội chủ nghĩa. Tác động của những sự kiện đó đối với nền kinh tế thế
5
giới rất to lớn, chúng đã, đang và sẽ diễn ra có thể cho đến nay chúng ta vẫn cha
lờng trớc đợc.
Thực vậy, trong thập kỷ 90 chiều hớng giảm sút nhịp độ tăng kinh tế toàn
cầu có thể tiếp tục. Bảng số liệu mức tăng tổng sản phẩm xã hội (% so với năm
Hội nghị TW 6 (lần 2) khoá VIII đã đề ra nghị quyết về xây dựng và chỉnh đốn
Đảng. Đại hội Đảng IX (tháng 4-2001) đã quyết định thực hiện nghị quyết về
xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết TW 6 (lần 2) khoá VIII, tập trung làm tốt
công tác giáo dục chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá
nhân, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Tháng11-2001 Hội nghị
trung ơng lần thứ 4 (khoá IX) đã ra kết luận số: 04/KL-TW về tiếp tục thực hiện
cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tệ nạn tham
nhũng, lãng phí. Kết luận của Trung ơng đã xác định chống tham nhũng lãng
phí là nhiệm vụ trớc mắt, đồng thời cần nhận rõ đây là cuộc đấu tranh khó khăn,
quyết liệt lâu dài, gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong quá trình thực hiện chủ trơng chống tham nhũng của Đảng và Nhà
nớc, các tổ chức, chính quyền đoàn thể TW - địa phơng đã bền bỉ, tích cực đấu
tranh và đạt đợc một số kết quả nh: Đã phát hiện và xử lý đợc nhiệm vụ tham
nhũng, trừng trị nghiêm khắc những kẻ đục khoét tài sản của Nhà nớc, tập thể
và của dân; thu hồi lại cho nhà nớc và trả lại cho dân một giá trị tài sản rất lớn,
đã xây dựng và hoàn thiện nhiều cơ chế chính sách quản lý có tác dụng hạn chế
một phần tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng. Những việc đó đã góp phần vào
sự nghiệp đổi mới, xây dựng Đảng và kiện toàn bộ máy Nhà nớc, đảm bảo an
ninh chính trị xã hội đất nớc. Mặc dù có những cố gắng quyết tâm nhng cuộc
đấu tranh chống tham nhũng ở nớc ta đạt kết quả còn thấp, hiệu quả rất hạn chế.
Có nhiều lĩnh vực và thậm chí ngày càng nghiêm trọng hơn trớc. Tham nhũng
xảy ra rộng khắp trong bộ máy nhà nớc, ở hầu hết các ngành các cấp từ trên
xuống dới với quy mô ngày càng lớn, thủ đoạn ngày càng tinh vi xảo quyệt hơn.
Đã có nhiều doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp t nhân thua lỗ, phá sản vì tệ
nạn tham nhũng. Tệ nạn tham ô, ăn cắp của công, cố ý làm trái vì động cơ vụ
lợi cá nhân, báo cáo sai sự thật để thanh quyết toán khống, bòn rút công quỹ
trong các lĩnh vực để làm giàu bất chính, lạm dụng chức quyền để nhũng
7
nhiễu đã lan rộng khắp các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, th ơng
binh xã hội. Tham nhũng đã xâm nhập ngay vào các cơ quan bảo vệ, pháp luật,
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định, quan liêu tham nhũng là những hiện
tợng xã hội gắn liền với sự hình thành xã hội có giai cáp và sự ra đời và phát
triển của bộ máy Nhà nớc Chúng là những căn bệnh đồng hành đặc tr ng của
mọi nhà nớc, là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực, là biểu hiện của sự tha hoá
"quyền lực nhà nớc", tệ nạn tham nhũng, quan liêu diễn ra ở tất cả các quốc gia,
không phân biệt chế độ chính trị xã hội, không kể quốc gia đó giàu nghèo, ở
trình độ phát triển thấp hay cao. Chúng len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội,
làm giảm hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nớc, làm xói mòn đạo đức, phẩm
chất con ngời, gây ra sự cản trở đi lên và phát triển của xã hội. Tuy nhiên, hình
thức, tính chất và mức độ quan liêu, tham nhũng không mang tính cố định, bất
biến mà thay đổi tuỳ thuộc vào bối cảnh kinh tế chính trị xã hội và trình độ dân
trí, khả năng quản lý xã hội của Nhà nớc.
Với việc tham nhũng ngày càng gia tăng, và có quy mô ngày càng lớn nh
hiện nay. Và với các biện pháp phòng ngừa đang dần dần có hiệu quả. Nếu nh
những yếu tố của các chiến dịch chống tham nhũng thành công cho đến nay đã
đợc hiểu tơng đối đầy đủ, thì việc thực hiện và duy trì chúng lại cực kỳ khó
khăn. Bất kỳ yếu tố nào cũng đều có thể góp phần đa chúng đến chỗ thất bại.
Hơn nữa, những nơi mà tham nhũng hoành hành và ăn sâu vào toàn bộ bộ máy
chính phủ, thì các cơ hội để bắt đầu cải cách sẽ rất hiếm hoi và hàng loạt cản trở
sẽ xuất hiện.
Thêm vào đó, áp lực cải cách bắt nguồn từ những đẳng cấp thấp hơn trong
bộ máy quan liêu có thể bị cản trở do sự thiếu vắng ý chí hay sự quan tâm chính
trị trong những công chức ở cấp cao hơn và các quan chức chính trị. Tại bất cứ
trong tiến trình này, sự thiếu vắng một cam kết từ cấp cao nhất hay tầng thấp
nhất đều có thể thực sự phá hỏng những nỗ lực cải cách. Hơn nữa, cải cách có
thể bị đe doạ nếu nh, một nhân vật có thế lực không tuân thủ hay một công chức
làm chậm tiến độ của nó.
Cũng nh những nỗ lực cải cách phải đợc sự hỗ trợ rộng rãi, chúng phải đ-
ợc hớng vào tất cả những ngời liên quan và hởng lợi từ tham nhũng. Những
9
hại đội ngũ viên chức tốt. Những kẻ tham nhũng chính là những tên phá hoại từ
10
bên trong của hệ thống hành chính quốc gia. Tham nhũng là căn bệnh mãn tính
của nhiều quốc gia, khi các viên chức xấu đã mất lơng tri và đạo đức của mình.
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng ta cũng một lần nữa khẳng định: Nạn tham
nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp quan hệ đến sự sống còn của hệ thống
chính trị. Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta đã có các biện pháp khắc phục song
hiệu quả còn thấp. Phải tién hành đấu tranh kiên quyết, thờng xuyên và hiệu quả
chống tham nhũng trong bộ máy nhà nớc, những biện pháp cấp bách với những
giải pháp có tầm chiến lợc nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách, kiện toàn tổ
chức, chấn chỉnh công tác quản lý, khắc phục sơ hở, vừa xử lý nghiêm kịp thời
mọi vi phạm, tội phạm, huy động và phối hợp chặt chẽ mọi lực lợng đấu tranh.
Làm ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ tham nhũng. Thủ trởng các cơ quan đơn vị
chủ chốt các cấp phải gơng mẫu đi đầu trong đấu tranh chống tham nhũng, trớc
hết là đối với bản thân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với đấu tranh
chống buôn lậu, lãng phí, quan liêu, tập trung vào các hành vi tham ô, chiếm
đoạt làm thất thoát tài sản nhà nớc, đòi hối lộ, đa và nhận hối lộ.
11
Tham nhũng
Tài nguyênChức quyền Tài sản khác
Trong nớc Ký kết móc ngoặt
với nớc ngoài
Đất
đai
Phá hoại công
trình di tích
Tiền
Thông
tin
Phơng tiện
Để tránh tụt hậu, chắc chắn Việt Nam phải hội nhập vào cộng đồng thế
giới, nhng hội nhập thế nào, theo hớng nào, theo phơng thức nào, tiếp thu cái gì
là một vấn đề lựa chọn mang tính quyết định. Trong khi đang tiếp tục tiến hành
mới và phát triển kinh tế Việt Nam phải đối mặt với chính mình với quá khứ và
di sản của mình.
Khi đất nớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa thực chất là một cuộc giải phóng xã hội lần thứ 2, theo đó mỗi tiềm năng
của môi cá nhân, mỗi tổ chức kinh tế, xã hội, mỗi địa phơng và vùng lãnh thổ đ-
12
ợc "giải phóng". Sự kết nối, tác động tơng hỗ giữa chúng sẽ đợc thực hiện thông
qua một cơ chế mới là cơ chế thị trờng kết hợp với các chuẩn mực đạo đức, văn
hoá và xã hội mang bản sắc Việt Nam.
Trên một thập kỷ qua, công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng đa
đa đất nớc ta thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội, đạt đợc sự tăng trởng
cao và liên tục từ năm 1991, đời sống nhân dân đã ngày đợc cải thiện, nhiều
mặt của đời sống xã hội đã đợc thay đổi tích cực; nền kinh tế đã đợc mở cửa với
thế giới gúp Việt Nam sử dụng đợc các lợi thế so sánh của mình có đợc nguồn
tăng trởng quan trọng bên ngoài Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện nhiều vấn đề
mới khiến chúng ta phải suy ngẫm. Các quan hệ kinh tế thị trờng một mặt phá
vỡ những cơ cấu và cơ chế kìm hãm phát triển, nhng mặt khác cũng gây ra
những vấn đề mới, mặt tiêu cực, mặt trái cần phải đợc xem xét và xử lý.
2.2. Nguyên nhân của tụt hậu xa hơn về kinh tế
Kể từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) đã lãnh đạo nhân dân
ta vợt qua hết các khó khăn này tới khó khăn khác. Nhân dân ta đã đánh bại tên
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ để xây dựng lên n ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Và kể từ khi đất nớc đợc hoàn toàn giải phóng Đảng lại lãnh đạo nhân dân ta
trong công cuộc phát triển kinh tế. Song, ngoài những thành tựu rất đáng kể,
chúng ta còn có những khó khăn riêng. Đó là sự tụt hậu hơn so với đà phát triển
của thế giới. Mà sự tụt hậu này ngoài những nguyên nhân chủ quan, còn có
những nguyên nhân khách quan của nó.
ờng tìm tòi, sáng tạo mô hình kinh tế mới, mô hình tổ chức xã hội mới. Nh vậy,
ở Việt Nam có một sự kết hợp giữa t tởng Nho giáo, t tởng Mác - Lênin đã có
phần bị giáo điều hoá và đợc nhận thức, đợc nuôi dỡng trong môi trờng chiến
tranh lâu dài. Vì vậy mô hình kinh tế Việt Nam là một mô hình rất đặc trng, pha
trộn nhiều màu sắc, phản ánh nhiều xu thế và rất phức tạp.
Lý luận Mác - Lênin là học thuyết khoa học có vị trí đặc biệt quan trọng
trong sự phát triển xã hội, trong đời sống chính trị thế giới và phong trào công
nhân quốc tế. Nó là nền tảng cho sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế
giới, thể hiện sự khát vọng cao cả của nhân loại, hớng tới một chế độ xã hội tốt
đẹp hơn, tiến bộ hơn theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này. Việc sụp đổ của hệ
14
thống XHCN vừa qua không có nghĩa đơn giản là sự sụp đổ của t tởng Mác -
Lênin. Với t cách là một học thuyết khoa học. Tuy nhiên cần ý thứuc rằng một
học thuyết khoa học thì không thể coi nó nh kinh thánh và cũng không thể giáo
điều; nó có sự sáng tạo và có những hạn chế tất yếu mang tính lịch sử. Do vậy,
một nhà yêu nớc chân chính phải là ngời có trách nhiệm, và sứ mệnh làu giàu
học thuyết đó về khoa học và thực tiễn để nó tiếp tục có sức sống nh một tinh
hoa của nhân loại.
Nhng đáng tiếc trong quá trình vận dụng t tởng Mác - Lênin đã có sự
nhầm lãn giữa mục tiêu và phơng tiện, có một sự trái ngợc giữa lời nói và việc
làm, có sự xa rời giữa triết lý nền tảng và phơng pháp luận khoa học của nó.
Đảng và Nhà nớc ta sở dĩ lãnh đạo đợc cách mạng dân tộc dân chủ và giải
phóng đất nớc thành công và đợc nhân dân tin yêu, ủng hộ chính là nhờ trớc hết
vào việc Đảng ta đã đề ra đợc các mục tiêu phù hợp với lợi ích thiết tha của dân
tộc, của nhân dân. Nhng sau khi cách mạng thành công và trong công cuộc xây
dựng kinh tế đã có sự nhầm lẫn trong cách xử lý mối quan hẹ giữa mục tiêu và
phơng tiện, coi trọng xử lý các vấn đề cơ chế, vì quan hệ sản xuất, coi đó mục
tiêu, trong khi đó lại sao nhãng, coi nhẹ các vấn đề giải phóng lực lợng sản xuất
để tạo ra của cải và dịch vụ cho xã hội. Bên cạnh đó còn rất nhiều thói quen,
nhiều tập quán, nhiều di sản tác động không có lợi rất nhiều cho sự phát triển.
Tăng trởng kinh tế luôn là mục tiêu số 1 của nhiều quốc gia và Việt Nam
cũng không ngoại lệ. Mặc dù, trong những năm đổi mới kinh tế, Việt Nam đã
đạt đợc tỷ lệ tăng trởng tơng đối cao so với các nớc trong khu vực, song chất l-
ợng tăng trởng vẫn là một khâu yếu, cần phải đánh giá trên các bình diện khác
nhau và đa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lợng tăng trởng, tránh tụt hậu
xa hơn nữa về kinh tế. Đánh giá vềkt năm 1999 của Việt Nam, có ý kiến cho
rằng tốc độ tăng trởng kinh tế của Việt Nam đã vợt qua đây; ngợc lại cũng có ý
kiến cho rằng nền kinh tế cha chặn đợc đà sút giảm của tốc độ tăng trởng. Năm
1989: 4,69%; 1990: 5,10%; 1991: 5,96%; 1992: 8,56%; 1993: 8,07%; 1994:
8,83%; 1995: 9,54%; 1996: 9,34%; 1997: 8,15%; 1998: 5,8%; 1999: 4,7%.
Trong khi đó, cũng vào những năm cuối cùng của thể kỷ XX Tây Âu
đang nhanh chóng trở thành một cực đặc biệt thu hút nền kinh tế thế giới và có
16