Lời mở đầu
ãi suất không chỉ là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp, đa
dạng và phức tạp mà đây còn là một trong những công của chính sách
tiền tệ, rất nhạy cảm và có ảnh hởng mạnh mẽ tới sự phát triển và ổn định
kinh tế của một quốc gia. Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy
sản xuất và lu thông hàng hoá phát triển và ngợc lại.
L
Sau hơn mời năm đổi mới, chính sách lãi suất của Việt Nam đã góp
phần thực hiện tốt các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia đồng thời đợc
đổi mới mạnh mẽ, thận trọng và từng bớc phù hợp với từng giai đoạn. Tuy
nhiên, vẫn còn có những tồn tại, hạn chế trong chính sách lãi suất.
Thực tiễn khách quan đòi hỏi phải có một sự đổi mới sâu rộng trong
việc sử dụng công cụ lãi suất cho phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện
thực hiện của thị trờng tiền tệ trong nớc. Vì thế, xây dựng một chính sách lãi
suất hiệu quả trên cơ sở phù hợp với tiến trình hội nhập của đất nớc vừa đảm
bảo sự định hớng của Nhà nớc đang là bài toán đặt ra cho các nhà hoạch định
chính sách. Do đó có thể thấy, nghiên cứu về chính sách lãi suất và định hớng
đổi mới và hoàn thiện lãi suất có ý nghĩa thực tiễn cao.
Trong khuôn khổ một đề án, em xin trình bày những vấn đề chung
nhất về lãi suất và chính sách lãi suất đồng thời phân tích chính sách lãi suất
Việt Nam thời gian qua ,nhận rõ xu thế phát triển của chính sách lãi suất, từ
đó đa ra đề xuất góp phần hoàn thiện chính sách lãi suất.
Do còn hạn chế về trình độ cũng nh về kiến thức thực tế nên đề án của
em còn nhiều sai sót. Em rất mong sẽ nhận đợc sự chỉ bảo, góp ý của các
thày cô giáo, đặc biệt là thày giáo Đàm Viết Huệ để bài viết này hoàn chỉnh
hơn.
Phần i
Lý luận chung về
1
lãi suất và chính sách lãi suất
1. Lãi suất trong cơ chế thị trờng.
- Lãi suất tín dụng dài hạn: áp dụng với các khoản tín dụng dài hạn,
thời hạn trên 5 năm.
1.1.2.2. Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất.
- Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền
tệ tại thời điểm nghiên cứu.
- Lãi suất thực: là lãi suất đã đợc điều chỉnh theo những biến đổi của
lạm phát.
i
r
= i
n
-
e
Vì đợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi vì lạm phát nên lãi
suất thực phản ánh một cách chính xác chi phí của quan hệ tín dụng.
1.1.2.3. Căn cứ vào sự ổn định của lãi suất.
- Lãi suất cố định: là lãi suất đợc áp dụng cố định trong suốt thời hạn
vay.
- Lãi suất thả nổi là lãi suất có thể thay đổi lên xuống, có thể báo trớc
hoặc không báo trớc.
1.1.2.4. Căn cứ vào phơng pháp tính.
- Lãi suất đơn: là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suốt kỳ hạn
vay.
I = n *i *Co
Trong đó : I: Số tiền lãi.
n : số thời kỳ gửi vốn.
i : lãi suất
Co: vốn gốc
Hình thức lãi suất này thờng áp dụng cho các khoản tín dụng ngắn hạn
+ Lãi suất tái chiết khấu
+ Lãi suất liên ngân hàng
+ Lãi suất cơ bản
-Lãi suất tín dụng nhà nớc: áp dụng khi Nhà nớc đi vay của các chủ thể
khác nhau trong xã hội dới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu.
Loại lãi suất này có thể do Nhà nớc ấn định căn cứ vào lãi suất tiền gửi tiết
kiệm ngân hàng, và các yếu tố khác nh sự biến động của lạm phát, nhu cầu
cấp thiết về vốn của Nhà nớc hoặc đ ợc hình thành thông qua hoạt động đấu
thầu tín phiếu, trái phiếu Nhà nớc.
-Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho ngời tiêu
dùng vay phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Mức lãi suất tín dụng tiêu dùng này
thờng cao hơn lãi suất tín dụng ngân hàng và lãi suất tín dụng Nhà nớc.
1.2. Vai trò của lãi suất trong cơ chế thị trờng.
4
Lãi suất có vai trò và ảnh hởng to lớn tới sự phát triển và ổn định kinh
tế của một quốc gia. Lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản
xuất và lu thông hàng hoá phát triển và ngợc lại. Vì thế, việc hoạch định
chính sách lãi suất phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đảm bảo lãi
suất thoả mãn các yêu cầu mà nền kinh tế đặt ra.
Trong nền kinh tế thị trờng, ngời đi vay cũng nh ngời cho vay có thể là
các doanh nghiệp, các cá nhân, hộ gia đình, chính phủ hoặc ngời nớc ngoài.
Đối với ngời đi vay, lãi suất tạo nên chi phí, làm giảm lợi nhuận của ngời
vay. Còn với ngời cho vay, lãi suất chính là thu nhập của họ. Vì thế lãi suất
đóng vai trò to lớn trong các quyết định của các chủ thể kinh tế. Thông qua
những quyết định của các chủ thể kinh tế, lãi suất ảnh hởng đến sự phát triển
cũng nh cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
Trớc hết, lãi suất là công cụ đợc sử dụng nhằm phân phối hiệu quả và
hợp lý các nguồn lực trong nền kinh tế. Bởi lãi suất chính là phần thu nhập
cho những khoản tiền tiết kiệm hoặc cho vay để đáp ứng vốn cho nền kinh tế.
Khi đầu t vào một ngành hoặc một dự án nào đó, chúng ta đều phải quan tâm
vay. Tuy nhiên, trong nền kinh tế, ngời vay. Lợi ích thực tế mà ngời cho vay
đợc hởng là lãi suất thực. Nghiên cứu và tìm hiểu về lãi suất, nhà Kinh tế học
I.Fisher đã chỉ ra đợc mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát.
l
n
= i
r
+
e
Trong đó: l
n
: lãi suất thực tế
i
n
: lãi suất danh nghĩa
e
: lạm phát dự tính
Vì thế bảo toàn vốn là nguyên tắc đầu tiên khi hình thành lãi suất
nhằm bảo đảm quyền lợi của ngời cho vay. Có nghĩa lãi suất danh nghĩa phải
ít nhất bằng tỷ lệ lạm phát dự tính(i
n
e
). Sự bảo đảm này cho phép ngời cho
vay có thể bù đắp đợc sự biến động rủi ro về giá mà lạm phát gây ra, bảo toàn
vốn kinh doanh cho vay.
2.2. Nguyên tắc bảo đảm tỷ lệ khuyến khích về thu nhập hợp lý cho ng-
ời gửi tiền và các tổ chức tín dụng.
thông qua cơ chế điều chỉnh của NHTW và hệ thống NHTM .
Trên cơ sở này, mức cầu tiền tệ trong nền kinh tế trong các thời kỳ khác
nhau sẽ đợc thoả mãn một cách tự nhiên. Khi nền kinh tế tăng trởng cao, dự
trữ của NHTM đã đợc huy động hết cho đầu t trong khi nền kinh tế vẫn còn
cầu về tín dụng cao, NHTW sẽ cung cấp tiền cho hệ thống NHTM một lợng
tiền cung ứng cần thiết cho nền kinh tế theo sự vận hành của quy luật tối đa
hoá lợi nhuận. Các chủ thể kinh tế thoát khỏi tình trạng kẹt vốn cho đầu t. Sự
gia tăng của mức cần tiền đợc nguồn tiền tự nhiên đáp ứng sẽ không gây sức
ép đối với lãi suất tín dụng vì ngân hàng sẽ không phải quá hao tổn sức lự c
cho việc huy động tiền gửi cho đầu t trung và dài hạn.
7
Hạn chế của lý thuyết cổ điển là đã coi lãi suất nh là nhân tố tạo ra sự
cân bằng giữa nhu cầu đầu t và tiết kiệm, là giá cả đơn thuần của đầu t và coi
nhẹ vai trò điều tiết của Nhà nớc.
Lý thuyết lãi suất có xu hớng bình quân tự nhiên của trờng phái tự do
cổ điển có ảnh hởng tới nhiều nớc phơng Tây vào thế kỷ 19.
3.2. Quan điểm của trờng phái Keynes.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 M.Keynes đã phê
phán quan điểm của trờng phái lãi suất tự động bình quân và chủ trơng Nhà
nớc phải tham gia điều tiết lãi suất và tăng chi tiêu chính phủ khi cần thiết
vào các chơng trình mà nền kinh tế t nhân không thể đảm nhận để kích thích
sự tăng trởng một cách liên tục.
Trờng phái này cho rằng, hạ lãi suất tín dụng luôn là đòn bẩy cho sự
phát triển. Keynes lập luận : thay vì gia tăng huy động vốn bằng biện pháp
thu hút ký thác, NHTW có thể làm gia tăng khối lợng tiền tệ để cung ứng cho
đầu t trong những thời kỳ mà mức cầu tiền tệ tăng cao bằng cách phát hành
thêm giấy bạc hoặc giảm dự trữ bắt buộc đối với NHTM. Tổng khối lợng tiền
tệ gia tăng sẽ làm giảm sức ép của mức cầu tiền tệ cho đầu t và làm giảm lãi
suất tín dụng. Lãi suất hạ làm hiệu quả của t bản sẽ đợc nâng cao kích
thích các doanh nghiệp, mở rộng đầu t (trung và dài hạn) tạo sức bật cho tăng
tỏ rõ những u điểm của nó.
Trớc hết, khi lãi suất đợc tự do hoá theo cung cầu về vốn, nó làm cho nguồn
vốn trong nền kinh tế đợc phân bố hợp lý và hiệu quả. Tự do hoá lãi suất đem
lại khả năng phân bổ nguồn vốn tín dụng khan hiếm cho hàng ngàn ngời vay
cạnh tranh nhau, đáp ứng đúng thị hiếu của họ, đồng thời đảm bảo thu hút
tiền gửi của hàng triệu ngời gửi với chi phí hợp lý, phù hợp với mục tiêu của
cả ngân hàng và khách hàng gửi tiền. Điều này sẽ không thể có đợc trong
điều kiện lãi suất bị kiểm soát trực tiếp. Bởi cũng giống nh nhiều hình thức
kiểm soát kinh tế khác trong hệ thống XHCN, kiểm soát lãi suất không có lợi
cho cạnh tranh. Các tổ chức tín dụng kém hiệu quả có thể đợc bảo vệ từ sức
ép tự do cạnh tranh. Mặc khác, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là khó
khăn lớn gắn với kiểm soát lãi suất. Cả hai loại rủi ro này đều có xu hớng
nâng lãi suất lên và tăng rủi ro tín dụng. Lựa chọn đối nghịch chỉ ra khả năng
kiểm soát lãi suất sẽ hấp dẫn nhiều doanh nghiệp chấp nhận rủi ro; nhiều
doanh nghiệp lành mạnh sẽ bị loại ra khỏi thị trờng tín dụng do không sẵn
sàng trả mức lãi suất cao nh các doanh nghiệp đang khó khăn rủi ro đạo đức
phát sinh khi cơ chế kiểm tra giám sát yếu các hoạt động cho vay của ngân
hàng, trong trờng hợp ngời vay ngận đợc sự bảo trợ ngầm từ Chính phủ. Do
9
đó, lãi suất tự do sẽ kích thích cho tăng trởng tài chính, cải tiến và thay đổi cơ
cấu mà Chính Phủ hoặc không thể quản lý hoặc chậm thu kết quả.
Mặt khác, một vấn đề đặt ra là hiện nay các doanh nghiệp đòi hỏi hạ
lãi suất trong khi ngân hàng muốn duy trì lãi suất hiện tại.Tự do hoá lãi suất
sẽ làm lãi suất sẽ biến động linh hoạt theo sự phản ứng của thị trờng tạo ra sự
cạnh tranh lành mạnh. Giảm thiểu những tranh luận xã hội trong giới tài
chính khi xem xét tính hợp lý hay bất hợp lý của lãi suất áp đặt đồng thời
buộc NHTW thay đổi t duy làm việc chuyển sang sử dụng các công cụ điều
hành gián tiếp.
Hơn nữa, trong xu thế phát triển chung Toàn cầu hoá và Quốc tế hoá của
nhân loại, Việt Nam không thể đặt mình ngoài cuộc. Trong quá trình này hội
4.4. Kinh nghiệm một số nớc đi trớc và một số tác động tiêu cực của
Tự do hoá lãi suất.
Từ thập niên 70, xu hớng chung của thế giới là bãi bỏ lãi suất ấn định
có tính chất hành chính để chuyển sang lãi suất thả nổi. Nhiều nớc phát triển
và đang phát triển đã từng bớc thực hiện các bớc để Tự do hoá lãi suất hệ
thống tài chính.
Thực thế cho thấy kiểm soát lãi suất đã làm giảm vai trò trung gian tài
chính, hình thành và phát triển nhanh các thị trờng tài chính phi chính thức và
các tổ chức phi ngân hàng làm cho các nguồn taì chính không đợc chuyển tải
tới các hoạt động có hiệu quả nhất. Tự do hoá tài chính, đặc biệt là tự do hoá
lãi suất là bớc đi quan trọng góp phần huy động nguồn lực thông qua hệ
thống tài chính chính thức, nâng cao hiệu quả của hệ thống tài chính, góp
phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Quá trình này chịu tác động bởi nhiều yếu
tố, phụ thuộc vào điểm xuất phát và hoàn cảnh quốc tế của mỗi nớc trong
từng giai đoạn.
Xem xét quá trình này ở Malaysia, từ 1981 nớc này đã cho phép các
ngân hàng thơng mại tự xác định mức lãi suất cơ bản của mình dựa trên cơ sở
chi phí thực tế. Nhng ngay sau đó NHTW Malaysia đã nhận thấy trong điều
kiện thị trờng tiền tệ cha thực sự phát triển quyết định trên có thể dẫn tới khả
năng cạnh tranh quá mức giữa các ngân hàng, đe doạ sự an toàn của hệ thống
ngân hàng thơng mại. Năm 1987, Malaysia đã chuyển sang điều hành lãi suất
theo hớng vừa đảm bảo sự phối hợp chỉ đạo của NHTW, vừa đảm bảo quyền
tự chủ trong một khuôn khổ nhất định cho các ngân hàng thơng mại. Nhờ đó
lãi suất đợc quản lý theo sự biến động linh hoạt của thị trờng, vừa đảm bảo an
toàn cho sự hoạt động của hệ thống ngân hàng.
11