Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ, đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển tại tiểu khu 14 vườn quốc gia Cúc Phương huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình - Pdf 24



ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM
NGUYỄN THỊ LÊ NGA

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT THÂN GỖ,
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
TẠI TIỂU KHU 14 VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
TẠI TIỂU KHU 14 VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG
HUYỆN NHO QUAN - TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Sinh thái
học

Mã số:
60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH THỊ PHƯỢNG THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Sinh thái học tại khoa Sinh - KTNN Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ này là hoàn
toàn trung thực, tuyệt đối không sao chép của bất kì ai ở bất kì tài liệu nào và không
trùng với bất kì tài liệu nào khác.

Ý kiến của cán bộ hướng dẫn Tác giả Nguyễn Thị Lê Nga
1.1.4. Hệ sinh thái 4
1.1.5. Quần xã sinh vật 4
1.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam 5
1.2.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 5
1.2.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam 5
1.3. Những nghiên cứu về hệ thực vật 8
1.3.1. Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới 8
1.3.2. Những nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam 9
1.4. Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống 9
1.4.1. Những nghiên cứu về thành phần loài 9
1.4.2. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 13
1.5. Nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng 17
1.5.1. Tổng quan về sách đỏ thế giới và sách đỏ Việt Nam 17
1.5.2. Một số công trình nghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có
nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam
17
1.6. Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật trên thế giới và Việt Nam 19

iv
1.6.1. Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật trên thế giới 19
1.6.2. Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật ở Việt Nam 20
Chương 2
:

Đ
ỐI T
Ư
ỢNG, NỘI DUNG V
À PHƯƠNG PHÁP


3.1.4.1. Địa chât 30
3.1.4.2. Thổ nhưỡng 30
3.1.5. Tài nguyên động thực vật 31
3.1.5.1. Hệ thực vật 31
3.1.5.2. Hệ động vật 33
3.2. Điều kiện xã hội 33

v

3.3. Nhận xét và đánh giá chung 34
3.3.1. Thuận lợi 34
3.3.2. Khó khăn 34
Chương 4
: K
ẾT QUẢ NGHI
ÊN C
ỨU

35
4.1. Đặc điểm chung của thảm thực vật và sự đa dạng các kiểu thảm thực
vật thân gỗ ở KVNC
35
4.2. Những đặc trưng cơ bản của thực vật trong khu vực38
4.2.1. Đa dạng hệ thực vật ở bậc ngành 52
4.2.1.1. Mức độ đa dạng ngành 52
4.2.1.2. Các chỉ số đa dạng 52
4.2.2. Đa dạng ở bậc dưới ngành 53

ỆU THAM KHẢO

68
PH
Ụ LỤC ẢNH

73 iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
IUCN
The International Union for Conservation of nature and
Natural Resources - Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và
Tài
nguyên thiên nhiên Quốc tế

WWF

Quỹ bảo vệ thiên nhiên Quốc tế
ĐDSH Đa dạng sinh học
HST Hệ sinh thái
UNESCO
United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization - Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của
Liên Hợp Quốc
KVNC Khu vực nghiên cứu

Bảng 4.4. Các họ giàu loài tại tiểu khu 14 VQG Cúc Phương
Bảng 4.5. Các chi đa dạng nhất hệ thực vật thân gỗ tiểu khu 14 VQG Cúc Phương
Bảng 4.6. Thành phần dạng sống của HTV thân gỗ tiểu khu 14 VQG Cúc Phương
Bảng 4.7. Phân loại giá trị sử dụng của thực vật ở tiểu khu 14 VQG Cúc Phương
Bảng 4.8. Các loài thực vật thân gỗ quý hiếm ở KVNC
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí ODB trong OTC
Hình 3.1. Bản đồ vị trí vườn Quốc gia Cúc Phương
Hình 3.2. Địa hình vườn Quốc gia Cúc Phương
Hình 3.3. Biểu đồ khí hậu Goussen - Walter khu vực Cúc Phương
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố các bậc taxon trong các ngành ở KVNC
Hình 4.2. Biểu đồ dạng sống của thực vật thân gỗ ở KVNC
Hình 4.3. Biểu đồ phân loại thực vật theo giá trị sử dụng
1 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới có hệ sinh thái rừng vô cùng
phong phú và đa dạng. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn
giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu,
đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn
định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm
giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt, nước ngầm và
làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế

Vườn Quốc gia Cúc Phương hiện nay được coi là lá phổi xanh của tỉnh, nhưng
nguồn tài nguyên thực vật cũng đang đứng trước nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng
nếu không có những biện pháp bảo tồn kịp thời. Vì vậy, việc nghiên cứu tính đa
dạng của hệ thực vật và thảm thực vật là rất cần thiết. Chính vì những lý do trên
chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “ Nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ
và đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển tại tiểu khu 14 vườn Quốc gia Cúc
Phương huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Xác định tính đa dạng của hệ thực vật và thảm thực vật thân gỗ ở khu vực
nghiên cứu.
- Đề xuất các biện pháp cụ thể để bảo tồn đa dạng thực vật thân gỗ ở khu vực
nghiên cứu.

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học

Góp phần bổ sung thêm một số giải pháp trong bảo tồn, nâng cao tính đa dạng
thực vật thân gỗ tại khu vực nghiên cứu.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Xác định được tính đa dạng thực vật và các kiểu thảm thực vật thân gỗ tại khu
vực nghiên cứu, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo tồn và nâng
cao đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu.

3

4. Đóng góp mới của luận văn
- Bước đầu đã xác định được thành phần loài, dạng sống và cấu trúc thực vật
thân gỗ tại tiểu khu 14 vườn Quốc gia Cúc Phương huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình.

1.1.4. Hệ sinh thái: Đa dạng hệ sinh thái thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên. Các cơ thể sinh vật và các điều kiện sống (đất, nước, khí
hậu, địa hình…) nằm trong mối quan hệ tương hỗ tác động lẫn nhau tạo thành các hệ
sinh thái và các nơi ở [47]
1.1.5. Quần xã sinh vật: Là môt tập hợp các quần thể sinh vật thuộc các loài khác
nhau được hình thành trong một quá trình lịch sử, vùng sống trong một khoảng
không gian xác định gọi là sinh cảnh. Nhờ các mối liên hệ sinh thái tương hỗ mà gắn
bó với nhau như một thể thống nhất [28]

5

1.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Dop P. và Gaussen H. (1931), với công trình nghiên cứu về thảm thực vật
Đông Dương với lượng mưa hàng năm (dẫn theo Thái Văn Trừng [55]). H.G.
Champion (1936), khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện đã chia 4 kiểu
thảm thực vật lớn theo nhiệt độ là: nhiệt đới, á nhiệt, ôn đới và núi cao [59]. J. Beard
(1938), đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt quần hệ).
Ông cho rằng, rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa,
loạt quần hệ khô thường xanh, loạt quần hệ miền núi, loạt quần hệ ngập từng mùa và
loạt quần hệ ngập quanh năm (dẫn theo Hoàng Thị Thanh Thủy [50]). Maurand
(1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông
Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và Trung Đông Dương.
Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [63].
1.2.2. Những nghiên cứu về thảm thực vật ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với khu hệ thực vật
khá đa dạng, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thảm thực vật ở nước
ta.
Chevalier (1918) là người đầu tiên đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật
rừng Bắc Bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt

32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau [34].
Nguyễn Hải Tuất (1991) nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái
của các quần thể thực vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: rừng
hỗn giao ẩm á nhiệt đới, rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao, rừng kín hỗn giao
cây hạt kín và hạt trần [54].
Vũ Tự Lập và cộng sự (1995) [33] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình
thành và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm. Dựa vào mối quan
hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu rừng rậm
nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh; kiểu rừng rậm
nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt
đới khô; kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng
nhiệt đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới
ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng thưa á
7

nhiệt đới hơi ẩm; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng lùn đỉnh cao.
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam
đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo
làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm
tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm với 14 kiểu
quần hệ [56]. Bảng phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ
thống phân loại của UNESCO (1973).
Nguyễn Thế Hưng (2003), khi nghiên cứu thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ,
thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh cũng dựa trên nguyên tắc phân loại theo UNESCO
(1973) đã xây dựng được 4 trạng thái thảm cây bụi khác nhau: thảm cây bụi cao sau
khai thác, thảm cây bụi cao sau nương rẫy, thảm cây bụi thấp sau khai thác và thảm
cây bụi thấp sau nương rẫy. Ngoài ra còn một số kiểu thảm khác như: rừng phục hồi
sau khai thác, rừng thứ sinh, rừng non phục hồi sau nương rẫy [30].
Lê Ngọc Công (2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973)
đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm,

Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ (10.000 loài).
- Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài, trong đó: Hoa Kỳ và Canada (25.000 loài),
Mêhicô và Trung Mỹ (17.000 loài), Nam Mỹ (56.000 loài), Đất lửa và Nam Cực
(1.000 loài).
- Châu Phi có khoảng 40.500 loài, trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm (15.500
loài); Madagasca (7000 loài); Nam Phi (6.500 loài); Bắc Phi, Angieri, Marốc và các
vùng phụ cận khác (4.500 loài); Abitxini (4.000 loài); Tuynidi và Aicập (2.000 loài);
Xomali và Eritrea (1.000 loài).
- Châu Úc có khoảng 21.000 loài, trong đó: Đông Bắc Úc (6.000 loài); Tây
Nam Úc (5.500 loài); Lục địa Úc (5.000 loài); Taxman và Tây Tây Lan (4.500 loài)
(dẫn theo Lê Trọng Cúc [19]). Lecointre và Guyader (2001) [28] đã đưa ra bảng
đánh giá số loài thực vật bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau:

Bảng 1.1. Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới
Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài miêu
t


% số loài đã được mô tả

Fungi Nấm 100.800 5,80
Bryophyta Ngành Rêu 15.000 0.90
Lycopodiophyta Ngành Thông
Đ
ất

1.275 0,07
Polypodiophyta Ngành Dương
X


thể. Những số liệu này chưa được nghiên
cứu và điều tra đầy đủ. Vì vậy, số loài
thực vật hiện có chắc chắn còn dao

động và cao hơn nhiều.

1.4. Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống
1.4.1. Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu
được
tiến hành từ lâu trên thế giới. Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công tŕnh nghiên cứu của
Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933),
Creepva
(1978)…Nói chung, theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm
10

thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác
biểu thị bởi thành
phần loài, dạng sống, cấu trúc và động thái của nó. Vì vậy, việc nghiên cứu thành
phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm
thực vật [43].
Ramakrishman (1981 - 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng
Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài
ưu thế đạt cao
nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời
gian bỏ hoá.
Longchun và cộng sự (1993) nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái
nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: Khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài. Bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi
và 167 loài [51].

164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [37].
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) [13] nghiên cứu thành phần loài,
dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được
123
loài thuộc 47 họ khác nhau.

Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [29] khi nghiên cứu một số đặc
điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử
dụng đã
phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [47] đã thống kê thành phần loài của Vườn quốc
gia Tam Đảo có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478
chi, 213 họ thuộc 3 ngành: Dương xỉ, Hạt trần và Hạt kín. Các loài này được xếp
thành 8 nhóm có giá trị khác nhau. Năm 1998, khi nghiên cứu về họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số
425 loài của họ
Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng.

Lê Ngọc Công 1998 [14], khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường của
một số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loài gồm
211 loài thuộc 64 họ.

Thái Văn Trừng (1998) [56] khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có

nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái
thảm thực vật khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của
tầng cây
bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà
phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia,
Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae)

Nguyễn Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự

nhiên sau nương rẫy ở Bắc Kạn kết luận: quá trình phục hồi sau nương rẫy
chịu tác
động tổng hợp của các nhóm nhân tố sinh thái như nguồn giống, địa hình, thoái hoá
đất, con người. Mật độ cây giảm dần theo thời gian phục hồi của thảm thực vật cây
gỗ, trên đất tốt nhiều nhất 11 - 25 loài, trên đất xấu 8- 12 loài [53].
Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ
thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 10.373 loài thực
vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ [49].
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê
các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi,
654 loài
13

chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ,
Trai, Nghiến…[15].
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã
thu được 452 loài thuộc 326 chi, 153 họ [39].
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật
Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác
nhau.
Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ
yếu là cây gỗ
dạng bụi cao từ 2 - 5m [52].
1.4.2. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực vật
thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu từ rất sớm.
I. K. Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh;

điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo,
phương thức sống
của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên.
Thuộc về những đặc điểm này có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông,
sinh sản…
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất sinh thái
học hơn của Raunkiaer. Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái
sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần
trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ. Bảng phân loại này
không bao gồm những cây thuỷ sinh. Trong bảng phân loại này ông còn chia ra các
đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù.
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon
(1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra. Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất
đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc
nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây. Vì thế việc sử
dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá
đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường [17].
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như:
Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng cỏ
Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ
sa van, thảo nguyên [16].
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia
dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [55].
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng
phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của
15

Raunkiaer. Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống
(a. ký sinh; b. bì sinh; c. dây leo; d. cây chồi trên thân thảo). Tác giả không xếp
phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những

Trích đoạn Những nghiên cứu về bảo tồn thực vật ở Việt Nam Điều tra theo tuyến: Dựa vào bản đồ thảm thực vật, bản đồ địa hình, vạch những tuyến điều tra chính Trên mỗi tuyến điều tra tiến hành thống kê tất cả các loà Khí hậu thủy văn Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về bảo vệ ĐDSH Tăng cường chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status