Nguyễn Văn Lộc – Trường THCS Bình Minh
MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong thời đại ngày nay, khoa học- kó thuật phát triển như vũ bão, khối
lượng tri thức của các khoa học đều tăng lên nhanh chóng, trong đó có môn địa
lí , thời lượng giảng dạy môn này mỗi tuần một tiết. Vì thế, một yêu cầu đặt ra là
phải lựa chọn kiến thức cơ bản của nội dung bài học của bộ môn ở nhà trương
phổ thông như thế nào cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh, tương
ứng với quỹ thời gian dành cho bộ môn. Để làm được điều này, một mặt bộ mơn
địa lí phải tinh giản những kiến thức có tính chát sự kiện để tăng cường những
kiến thức cơ bản. Môn địa lí cũng cần trang bò những kiến cho học sinh các
phương pháp sử dung tranh ảnh, bản đồ, quan sát đòa phương, phương pháp làm
việc với các số liệu, sơ đồ Nhờ nắm được các phương pháp đó, học sinh có thể
tự mình mở rộng được thêm những hiểu biết về kiến thức bộ môn, tự bổ sung cho
mình cách thức rèn luyện phẩm chât đạo đức, pháp luật đúng đắn. Ngoài ra còn
làm cho bộ môn địa lí trong nhà trường xích lại gần hơn đối với các bộ môn khác
trong hệ thống kiến thức giảng dạy.
Chính vì điều đó, đòi hỏi người giáo viên phải nắm được sự thay đổi tích
cực trong quá trình dạy và học trong trường phổ thông. Việc thay đổi SGK mới
đồi hỏi lượng kiến thức phải tăng lên. Do đó, trong dạy học phải có sự kết hợp
các phương pháp thật linh hoạt, khoa học, nhằm giúp học sinh nắm bài một cách
chủ động, sâu sắc.Ở đây, phương pháp dạy học trực quan không chỉ là vật để
minh hoạ kiến thức, mà nó còn là nguồn tri thức quan trọng mà học sinh qua quá
trình làm việc biết khai thác tối đa. Để giúp học sinh khai thác được kiến thức
cũng như khắc sâu kién thức, đồi hỏi người giáo viên phải hiểu được ưu, nhược
điểm của phương pháp dạy học trực quan, để từ đó vận dụng tốt hơn.
II. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
1. Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề lí luận về phương pháp dạy học
mơn đđịa lí và nội dung chương trình mơn địa lí – lớp 6.
2. Phạm vi:
kiến thức bài học thì việc giáo dục tư tưởng, cảm xúc thẩm mỹ của đồ dung dạy
học trực quan cũng có ý nghóa to lớn. Ngắm nhìn một " Bức tranh phong cảnh"
hay hình ảnh về một con người, xem một cuốn phim tài liệu nói về Bác Hồ ,
học sinh sẽ có những tình cảm mạnh mẽ về lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất
nước. Kính trọng và quý mến người tài. Đặc biệt các em luôn nhớ tới lãnh tụ -
Anh hùng dân tộc.
Với vai trò giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đã nêu trên, đồ dùng trực
quan góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy - học, gây hứng thu học tập cho
học sinh " Nó là chiếc cầu nối giữa kiến thức lí thuyết và thực tiễn".
SKKN
2
Nguyễn Văn Lộc – Trường THCS Bình Minh
Trong môn địa lí có hai nội dung kiến thức, đó là Tự nhiên và Xã hội. Do đó
PPDH địa lí cũng phải lựa chọn nội dung mà sử dụng đồ dùng trực quan cho phù
hợp. Chính việc đó là nguyên nhân làm nảy sinh PPDH trực quan trong bộ môn
địa lí.
II. CÁC LOẠI ĐỒ DÙNG DH TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÍ – LỚP 6 :
Có nhiều cách phân loại đồ dùng dạy học trực quan trong dạy học môn địa
lí, nhưng nội dung chương trình địa lí, chủ yếu có ba nhóm trực quan sau:
* Nhóm trực quan thực tiễn: Các loại cảnh quan tự nhiên, văn hóa….
* Nhóm trực quan tạo hình: Tranh ảnh, phim đèn chiếu, băng hình
Video
* Nhóm trực quan quy ước: Bản đồ, số liệu, sơ đồ, biểu đồ
a. Nhóm trực quan thực tiễn:
Bao gồm các loại cảnh quan tự nhiên, văn hóa…. sử dụng dưới hình thức
trực quan bằng cách tham quan thực tế . Nó có giá trò, ý nghóa to lớn về mặt nhận
thức, thông quaviệc tiếp xúc những các loại cảnh quan tự nhiên, văn hóa….học
sinh sẽ có những hình ảnh cụ thể, chân thực, đúng đắn. Tuy nhiên, việc sử dụng
hình thức này bò hạn chế bởi vì nó không có sẵn trong phòng học. do đó cần tạo
điều kiện thuận lợi nhằm tổ chức cho học sinh tham quan các loại cảnh quan tự
trước hết giáo viên cần cho học sinh hiểu được mục đích quan sát và nhiệm vụ
của việc quan sát. Khi quan sát phải chú ý đến đặc điểm của đối tượng, trên cơ
sở đó liên hệ đến kiến thức trong nội dung bài học, nhằm tìm ra khái niệm chính
xác.
Thực ra, kó năng quan sát không phải được hình thành trong một lúc. Đối
với học sinh lớp 6 các em chưa quen cách quan sát, chính vì vậy vai trò của giáo
viên ở đây rất quan trọng. Giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh
quan sát, trình tự tiến hành quan sát. Công việc này phụ thuộc khá nhiều vào đối
tượng quan sát. Ngoài ra giáo vien phải duy trì thường xuyên hứng thú quan sát
cho học sinh. Muốn thế giáo viên phải khuyến khích, giúp đỡ, động viên, gây
cho các em hứng thú trong việc tìm ra được câu trả lời, lời giải đáp cho những
vấn đề các em quan tâm. Sau đó, cho các em trình bày kết quả quan sát được và
bày tỏ tình cảm trước đối tượng.
2. Phần cụ thể:
Trong nội dung chương trình SGK địa lí THCS, nhóm trực quan thực tiễn có
thể áp dụng cho rất nhiều bài ở lớp 6.
Ví dụ : Bài 23 : "SƠNG VÀ HỒ"
* Phương pháp dạy trong phòng : GV cho HS quan sát mơ hình, hình ảnh
về một dòng sơng:
SKKN
4
Nguyễn Văn Lộc – Trường THCS Bình Minh
Sau đó GV u cầu HS mơ tả về dòng sơng đó có những bộ phận nào, hình
dang dáng ra sao… và rút ra nội dung bài học.
* Phương pháp tham quan thực tế: Đối với bài này, quá trình dạy - học
không nhất thiết chỉ tiến hành trong lớp học. Nếu như có điều kiện, giáo viên
nên tổ chức dạy - học ngoài trời, ở những nơi có sơng , hồ.
số câu hỏi cho học sinh phân tích tranh trước, rồi sau đó mới dùng cách quy nạp
trình bày tài liệu, rút ra kết luận, nhưng cũng có thể giáo viên dùng tranh ảnh để
củng cố bài học, bổ sung kiến thức cụ thể cho học sinh sau khi đã dạy bài mới. "
Trong quá trình dạy học, tranh ảnh cũng phải được sử dụng đúng chỗ, đúng lúc
thì mới phát huy được hết tác dụng, không làm giảm hứng thú hoặc phân tán tư
tưởng".
Cùng với những tranh ảnh giáo khoa về kiến thức , có thể sử dụng tranh
ảnh địa sưu tầm được, tranh ảnh vẽ , những tranh ảnh đó được lựa chọn, sắp xếp
lại theo chủ đề khác nhau: Tranh ảnh thiên nhiên như: các dòng sơng, hồ, các
hang động, các bãi bển, vònh Hạ Long, Sapa trong việc lựa chọn, sưu tầm tranh
ảnh, giáo viên có thể huy động lực lượng học sinh tham gia, hướng dẫn học sinh
cùng làm.
2. Phần cụ thể:
Cách sử dụng tranh ảnh được ví dụ qua một số bài cụ thể sau:
- Bài 12: " Tác động của nội lực và ngoại lực trong việc hình thành bề mặt
Trái đất"
- Bài 23: " Sơng và hồ"
- Bài 24: " Biển và đại dương".
Ví dụ: Bài 12: " TÁC ĐỘNG CỦA NộI LỰC VÀ NGOẠI LỰC TRONG
VIỆC HÌNH THÀNH BỀ MẶT TRÁI ĐẤT"
Đối với bài này, giáo viên có thể sử dụng các loại tranh in sẵn của Bộ GD-
ĐT, mô tả các loại địa hình như: núi cao, bình ngun, đồng bằng, động đất, núi
lửa…
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh ảnh, sau đó đặt ra một số câu hỏi
cho học sinh thảo luận về đặc điểm, hình dạng của các loại địa hình. Sau đó giáo
SKKN
6
Nguyễn Văn Lộc – Trường THCS Bình Minh
viên tập hợp kết quả, thảo luận rồi rút ra kết luận chính xác. Cuối cùng rút ra nội
Sơ đồ nhằm cụ thể hoá nội dung kiến thức bằng những mô hình, hình học
đơn giản, diễn tả nội dung cơ bản về các quy luật tự nhiên và mối quan hệ giữa
những nội dung trong bài.
VD: sơ đồ "Cấu tạo của Trái đất”, “ Các đai khí áp và gió trên Trái đất”…
Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần phải chuẩn bò cẩn thận từ
trước ( nắm chắc nội dung, ý nghóa của sơ đồ phục vụ cho nội dung nào của bài
học).
Giáo viên có thể vẽ ra giấy cỡ lớn để treo lên bảng hoặc vẽ ra cỡ giấy nhỏ
để dùng đèn chiếu, chiếu lên lên màn hình cho học sinh quan sát dễ dàng. Sau
đó giáo viên giới thiệu, giải thích các nội dung cơ bản trong sơ đồ để học sinh
hiểu và ghi chép được dễ dang, ngắn gọn.
2. Phần cụ thể:
Trong nội dung chương trình SGK địa lí - Lớp 6, sơ đồ có thể sử dụng cho
các bài sau:
- Bài 8: “Sự chuyển động của Trái Đất quanh Mặt trời”
- Bài 10: “Cấu tạo trong của Trái đất”
SKKN
8
Nguyễn Văn Lộc – Trường THCS Bình Minh
- Bài 9: "Hiện tượng ngày, đêm dài theo mùa"
- Bài 19: "Khí áp và gió trên trái đất"
……….
Ví dụ: Bài 8: "SỰ CHUYỂN ĐỘNG CỦA TRÁI ĐẤT QUANH MẶT TRỜI"Bài này giáo viên cho học sinh quan sát bài giảng bằng sơ đồ, ( ở trong hoạt
động1). nhằm xác đònh hướng chuyển động và vị trí của Trái đất quanh Mặt trời vào
các ngày Hạ chí, Đơng chí, Xn phân, Thu phân để từ đó cho học sinh biết ngun
nhân sinh ra các mùa.
Ví dụ : Bài 10: " CẤU TẠO TRONG CỦA TRÁI ĐẤT"
………
VD: Bài 21: " THỰC HÀNH: PHÂN TÍCH BIỂU ĐỒ NHIỆT ĐỘ, LƯỢNG MƯA"
Bài này, để học sinh nhận biết các yếu tố được thể hiện trên biểu đồ và cách
đo tính lượng mưa nhiệt độ, GV cần đua ra một biểu đồ bất kì của một địa phương
nào đó trình diễn cho HS quan sát.
SKKN
10
Nguyễn Văn Lộc – Trường THCS Bình Minh
- Giáo viên có thể lập biểu đồ từ trước vào giấy khổ lớp hoặc chiếu lên màn hình
để học sinh quan sát một cách dễ dàng. Qua đó GV hướng dẫn cho học sinh thực
hành.
SKKN
11
Nguyễn Văn Lộc – Trường THCS Bình Minh
KẾT LUẬN
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn trên nhiều lónh vực, được dư luận quốc tế rất hoan nghênh và ủng hộ. Nền
giáo dục Việt Nam cũng đang tỏ rõ sự chuyển biến mãnh liệt của nó trong hoàn
cảnh mới. Nó trở thành một nhân tố quan trọng góp phần quyết đònh vào thắng
lợi của công cuộc phát triển đất nước hiện nay.
Ngành Giáo dục- Đào tạo ngày càng được đánh giá đúng về vai trò, vò trí
của nó nói chung, về chức năng hình thành, xây dựng nhân cách con người mới
nói riêng, đáp ứng yêu cầu của xã hội Việt Nam hiện tại và tương lai. Chính vì
vậy, trong Đại hội VIII của Đảng khẳng đònh : " Giáo dục - Đào tạo là quốc sách
hàng đầu". Để thực hiện tốt chức năng của mình, ngành Giáo dục - Đào tạo đã
có những chính sách cụ thể, từ việc đổi mới khâu quản lí cho đến đổi mới SGK
và phương pháp dạy học, đó là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Trong dạy
học không chỉ vận dụng rập khuôn những phương pháp dạy học truyền thống mà
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Tổ trưởng
* Hội đồng khoa hoc nhà trường:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………
TM. Hội đồng KH
Chủ tịch
SKKN
13