Lê Anh Tuấn, PhD.
Khoa Nuôi trồng Thủy sản
Đại học Nha Trang
Nội dung môn học
Chủ đề 1. Những vấn đề cơ bản liên quan đến thống kê
trong nuôi trồng thủy sản
Chủ đề 2. Xác định vấn đề và xây dựng giả thuyết
nghiên cứu trong lĩnh vực NTTS.
Chủ đề 3. Thiết kế thí nghiệm trong lĩnh vực NTTS
Chủ đề 4. Thu và lưu trữ số liệu
Chủ đề 5. Phân tích số liệu
Chủ đề 6. Viết và công bố một báo cáo khoa học
©1: Những vấn đề cơ bản liên quan
đến thống kê trong nuôi trồng thủy sản
1.1 Giới thiệu về thống kê thực nghiệm
1.2 Các đơn vị trí nghiệm trong NTTS
1.3 Tính đúng đắn của số liệu và phân tích thăm dò
1.4 Các điểm hội tụ và tính biến thiên
1.1 Giới thiệu về thống kê thực nghiệm
1.1.1 Lịch sử và định nghĩa (1)
Từ “thống kê”, tiếng Anh là “statistics” xuất phát từ
tiếng Latin “state”, nghĩa là chính quyền.
Ở dạng danh từ số nhiều (statistics), thuật ngữ này có
nghĩa là các số lượng được tính toán hoặc được ước
tính – các số liệu thống kê, ví dụ các số liệu thống kê
của FAO về sản lượng gạo, sản lượng nuôi trồng thủy
sản.
Ở dạng danh từ số ít (statistic), nó có nghĩa một số
liệu (datum) hoặc sự kiện bằng số (numerical fact)
1.1 Giới thiệu về thống kê thực nghiệm
1.1.1 Lịch sử và định nghĩa (2)
Các nỗ lực để định nghĩa từ thống kê (statistics) đ~ từng được
thực hiện dựa trên tính ứng dụng của nó.
Thống kê đối với các ngành khoa học sinh học (Biological
sciences) thường được định nghĩa là Thống kê sinh học
(Biometry).
Từ biometry được ghép từ hai từ: bio có nghĩa là sự sống và
metron có nghĩa là sự đo lường. Nói một cách nôm na, từ
biometry có nghĩa là đo lường các sinh vật.
Nó cũng được đề cập với tên gọi “Bio-statistics”, nghĩa là áp dụng
các phương pháp thống kê vào việc giải quyết các vấn đề sinh
học.
Francis Galton, người anh em họ của Charles Darwin, từng
được xem là cha đẻ của ngành Thống kê sinh học (Biometry).
Những học giả khác đóng góp vào ngành học này gồm có Karl
Pearson (1857-1936) và Ronald Fisher (1890-1962).
1.1 Giới thiệu về thống kê thực nghiệm
1.1.3 Phạm vi ứng dụng: - các ngành khác
Ngoài thống kê sinh học, Thống kê còn được ứng
dụng trong nhiều ngành khác nhau, hình thành nên
các chuyên ngành hẹp như:
Thống kê xã hội học (Sociometrics),
Thống kê kinh tế học (Econometrics),
Thống kê tâm lý học (Psychometrics),
Thống kê hóa học (Chemometrics), và
Thống kê lâm nghiệp (Forest Biometrics).
Còn có nhiều lĩnh vực khác nữa đang sử dụng thống
kê như một hợp phần thiết yếu trong các ngành này.
1.1 Giới thiệu về thống kê thực nghiệm
1.1.3 Phạm vi ứng dụng: - ngành NTTS
Mặc dù nghề nuôi cá có lịch sử trên 4000 năm, nhưng
Đơn vị thí nghiệm có thể mang ý nghĩa
theo không gian, như các ao trồng rong, các bể nuôi cá,
các loại máy thí nghiệm cùng một lúc… hoặc
theo thời gian, như các lần đo năng suất liên tiếp trên
cùng một máy thu rong…
1.2 Các đơn vị thí nghiệm trong NTTS
1.2.2 Các loại đơn vị thí nghiệm:
- bể sinh vật cảnh
Thí nghiệm quy mô nhỏ.
Dễ lắp đặt và vận hành.
Không bị hạn chế bởi phương tiện,
thiếu sự lặp lại (replication), hoặc số
nghiệm thức (treatment).
Các bể nhỏ này có thể được bố trí
trên các giá đặt chồng lên nhau để tiết
kiệm không gian.
Kiểm soát tốt các yếu tố môi trường.
Phần lớn các thí nghiệm liên quan
đến sản xuất giống và một số thí
nghiệm dinh dưỡng và thức ăn được
tiến hành với các đơn vị thí nghiệm
dạng này.
Kết quả của các thí nghiệm trong các
bể sinh vật cảnh có hạn chế khi ứng
dụng ở quy mô thương mại.
1.2 Các đơn vị thí nghiệm trong NTTS
1.2.2 Các loại đơn vị thí nghiệm:
- bể
Hình tròn, vuông, hoặc chữ nhật.
Bể xi-măng, bể thủy tinh sợi.
phẩm có thể thay đổi từ 500 m
2
đến 1
ha, hoặc thậm chí lớn hơn.
Ao là đơn vị thí nghiệm trong các
nghiên cứu thì không nên lớn quá vì
liên quan kinh phí cho việc lặp lại.
Thông thường ao có diện tích 50 - 100
m
2
dành cho các thí nghiệm về ương
giống và ao có diện tích 200 - 500 m
2
dành cho các thí nghiệm về nuôi
thương phẩm là thích hợp.
1.2 Các đơn vị thí nghiệm trong NTTS
1.2.2 Các loại đơn vị thí nghiệm:
- Lồng: lồng trong ao
Không phải lúc nào cũng dễ tiến
hành thí nghiệm nuôi cá trực tiếp
trong ao với mỗi ao là một lần lặp.
Người ta thường phân ao thành
nhiều đơn vị thí nghiệm bằng
cách bố trí hệ thống các giai hoặc
lồng.
Có thể có những khác biệt về điều
kiện môi trường nuôi từ khu vực
gần bờ ao đến khu vực giữa ao.
Vì thế việc phân khối (block) theo
hàng thường được thực hiện
1.2.2 Các loại đơn vị thí nghiệm:
- Lồng: lồng trên biển
Các lồng nuôi biển thường có kích thước
khá lớn (tối thiểu là 3 x 3 x 4 m), đối tượng
nghiên cứu thường có giá rất cao.
Các giai hình trụ (R = 0.5 m; H = 0.5 m)
hoặc hình hộp chữ nhật (1 x 1 x 0.5 m) cỡ
0.4-0.5 m
3
được dùng làm các đơn vị thí
nghiệm.
Do trao đổi nước hoặc ảnh hưởng của
sóng gió có thể khác nhau giữa các giai ở
phía rìa và các giai ở bên trong của bè, mỗi
hàng giai dọc theo rìa bè nên được xem là
một khối.
Nếu nơi tiến hành thí nghiệm gần khu vực
có các hoạt động của con người như
thuyền qua lại thì cần phải lập thêm khối.
Nghĩa là phân khối 2 hướng như trường
hợp của lồng trong hồ tự nhiên và hồ chứa
như đ~ nói ở trên
1.2 Các đơn vị thí nghiệm trong NTTS
1.2.2 Các loại đơn vị thí nghiệm:
- Các loại đơn vị thí nghiệm khác
Trong ngành nuôi trồng thủy
sản còn có những đơn vị thí
nghiệm khác tùy thuộc vào
tính đặc thù của đối tượng
nghiên cứu.
Vì một yếu tố nào đó ảnh hưởng
trong quá trình cân đo, có thể có
trường hợp các số liệu thu được
qua các lần lặp gần nhau nhưng
chúng không chính xác do xa với
giá trị kỳ vọng.
Trong quá trình thu số liệu
chúng ta cần phải đảm bảo cả
tính chính xác và tính đúng của
số liệu: TRÚNG!
1.3 Tính đúng đắn của số liệu và
phân tích thăm dò
1.3.3 Các chữ số có ý nghĩa (1)
Mức độ chính xác trong thu số liệu sẽ quyết định loại hình
thiết bị cân đo.
khi cân cá bột, ta cần một cái cân có độ chính xác đến hai chữ
số thập phân của một gam (0,01 g), nhưng
khi cân cá nuôi thương phẩm (≥100 g) thì chỉ cần dùng loại
cân cân được từ 1 g đến 1000 g.
Nguyên tắc cơ bản của việc cân đo đúng là phải có đủ
khoảng cách để thể hiện các sự biến thiên về số liệu. Nói
chung, giữa các giá trị cực tiểu và cực đại được kỳ vọng khi
cân đo nên có từ 30 đến 300 mức trung gian.
Nếu chúng ta kỳ vọng khối lượng cá trong thí nghiệm dao
động trong khoảng 10-15 g, thì ta nên dùng cái cân có độ
chính xác đến bao nhiêu g?
1.3 Tính đúng đắn của số liệu và
phân tích thăm dò
1.3.3 Các chữ số có ý nghĩa (2)
Nếu số liệu thu được có độ chính xác cao hơn mức yêu cầu, thì
2.573.000
2.570.000
2.600.000
3.000.000
50.000
50.000
50.000
50.000
50.000
Các chữ số có ý nghĩa
Lưu ý rằng số không chỉ giúp xác định giá trị vị trí, nghĩa là hàng trăm, phần trăm, hàng
ngàn, phần ngàn, và chúng không được xem như là những chữ số có ý nghĩa.
- Số ý nghĩa trong tính toán & trình bày kết quả
Nguyên tắc:
Lấy sai số chuẩn hoặc độ lệch chuẩn chia cho 3.
Thương thu được có chữ số kh|c không đầu tiên ở vị
trí n{o thì lấy vị trí đó để x|c định chữ số cuối của số
trung bình.
Nếu số trung bình có k chữ số thập ph}n, thì
Độ lệch chuẩn hoặc sai số chuẩn có k+1 chữ số thập
phân
- Làm tròn số liệu
Có 3 phương ph|p l{m tròn số:
Tròn lên: Bằng c|ch n}ng số đến h{ng chục tiếp theo,
vd. Số gốc = 174; Số l{m tròn = 180
Tròn xuống: Giảm xuống h{ng chục trước đó,
vd. Số gốc = 176; Số l{m tròn = 170
Tròn đến đơn vị gần nhất: Số được l{m tròn đến h{ng chục gần nhất,
vd. 171 – 174 được l{m tròn th{nh 170;
và 176 – 179 được l{m tròn th{nh 180.