BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
- Tên đề tài: Dạy học nêu vấn đề nhằm nâng cao chất lượng học tập trong giờ
văn học lớp 7 Trường THCS Bàu Năng.
- Họ và tên tác giả:
+ Đặng Thị Ngọc Liễu.
+ Võ Thị Nhớ.
- Đơn vị công tác: Trường trung học cơ sở Bàu Năng.
1. Lí do chọn đề tài:
- Thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Bộ, Sở, Phòng Giáo dục về việc đổi mới
phương pháp dạy học.
- Để góp phần đào tạo học sinh thành những con người năng động, độc lập, sáng tạo,
tiếp thu được tri thức, biết vận dụng tìm ra những giải pháp hợp lý. Học sinh tự giác chủ
động tìm tòi, phát hiện giải quyết những vướng mắc nhận thức và có ý thức vận dụng linh
hoạt, sáng tạo, nhằm khơi dậy hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn.
2. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học nêu vấn đề nhằm nâng cao chất lượng trong giờ
văn học lớp 7 Trường THCS Bàu Năng.
- Phương pháp nghiên cứu :
+ Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung bài học.
+ Dự giờ, học hỏi trao đổi các đồng nghiệp.
+ Điều tra, đàm thoại, tìm hiểu thực trạng học sinh.
+ Kiểm tra đối chiếu, so sánh.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới :
Dạy học nêu vấn đề giúp học sinh phát triển năng lực tư duy chủ động tích cực,
độc lập sáng tạo hình thành và phát triển năng lực tự học, giáo dục học sinh ý thức tự học,
nghiêm túc trong học tập, biết tự đánh giá được khả năng, hứng thú say mê học tập môn
văn học và có ý thức cầu tiến, vươn lên.
4. Hiệu quả áp dụng:
Học sinh nắm được kiến thức trọng tâm bài học để vận dụng vào bài tập, say mê
hứng thú học tập, phát huy tính độc lập, quan sát, tự giác, tìm tòi, phân tích, so sánh, rút ra
nhận xét để đi đến kết luận, rút ra kiến thức cơ bản.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Các tác phẩm văn học có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong việc giáo dục quan điểm,
tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Các tác phẩm văn học góp phần hình thành những con
người biết tu dưỡng, biết u thương, q trọng con người, biết u q hương đất nước,
biết hướng tới cái đẹp cảm thụ giá trị của chân, thiện, mĩ trong tác phẩm văn học.
Để đạt được mục đích trên các nhà khoa học đã dày cơng nghiên cứu phương các
pháp dạy học tối ưu. Trong đó phương pháp dạy học nêu vấn đề là một phương pháp được
đặc biệt áp dụng.
Phương pháp dạy học nêu vấn đề gồm nhiều yếu tố khác nhau, nhưng đối vối phân
mơn văn học giáo viên phải đặc biệt chú ý đến câu hỏi có vấn đề, tình huống có vấn đề để
giúp học sinh dễ nhớ, nhớ lâu một tác phẩm mà các em đã được học qua. Dạy học nêu vấn
đề là hoạt động dạy học sáng tạo. Nó khác các bản chất dạy học truyền thống về mục đích
cũng như về phương pháp thực hiện. Ngun tắc cơ bản của nó là song song với việc lĩnh
hội tích cực về kiến thức là sự phát triển những năng lực sáng tạo ở học sinh. Con đường
hình thành nhân cách và lĩnh hội kiến thức phải thơng qua sự vận động bên trong của bản
thân chủ thể học sinh, làm tăng khả năng tư duy của các em trong giờ học văn.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Dạy học nêu vấn đề nhằm nâng cao chất lượng
học tập trong giờ học văn lớp 7 Trường THCS Bàu Năng.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung bài học.
- Dự giờ, học hỏi trao đổi các đồng nghiệp.
2
- Điều tra, đàm thoại, tìm hiểu thực trạng học sinh.
- Kiểm tra đối chiếu, so sánh.
5. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Quá trình dạy học Ngữ văn sẽ trở nên tẻ nhạt, nhàm chán, khó hiểu khi giáo viên sử
dụng các phương pháp không linh hoạt, không phù hợp. Nhưng nếu như trong một tiết
dạy giáo viên sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, đặc biệt là phương pháp nêu vấn đề để
hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung và nghệ thuật một cách sinh động, tạo được niềm
giải quyết những vấn đề có liên quan đến kiến thức đời sống xã hội.
Phương pháp giảng dạy truyền thống không thể đáp ứng những đòi hỏi nặng nề
và cấp bách trên. Với những cố gắng của nó phương pháp truyền thống chỉ có thể làm
được chủ yếu là truyền thụ một cách thụ động một khối lượng kiến thức và kiểm tra sự
tiếp thu đó theo con đường tái hiện. Giáo viên khêu gợi tư duy của học sinh cũng chỉ
nhằm mục đích truyền thụ được tốt khối lượng kiến thức cần truyền thụ. Dạy học nêu vấn
đề là dạy học có sáng tạo. Nó khác bản chất dạy học truyền thống, về mục đích cũng như
về phương thức thực hiện. Một nguyên tắc cơ bản của nó là song song với việc lĩnh hội
tích cực về kiến thức là sự phát triển năng lưc sáng tạo của mỗi học sinh. Kiến thức vừa là
sản phẩm vừa là phương pháp. Con đường hình thành nhân cách và lĩnh hội kiến thức
phải thông qua sự vận động bên trong của bản thân chủ thể học sinh. Chúng ta đều biết xu
hướng giữa tâm lý tư duy và tâm lý dạy học là một đặc điểm ngày càng nổi rõ trong khoa
học sư phạm.
2/ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
2.1/ Thực trạng vấn đề :
Qua dự giờ các đồng nghiệp chúng tôi nhận thấy thái độ học tập của học sinh
đối với môn Ngữ văn c̣n mang cảm giác hết sức nặng nề, giờ học môn Ngữ văn chưa hấp
dẫn được học sinh, đa số học sinh cho rằng đây là môn học khó, trừu tượng. Học sinh nổ
lực học tập không phải yêu thích môn Ngữ văn mà vì để hoàn thành nhiệm vụ học tập.
Thực trạng của việc dạy học dùng phương pháp nêu vấn đề ở các Trường THCS
nói chung và trường THCS Bàu Năng nói riêng qua trực tiếp giảng dạy và dự giờ các
đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy những vấn đề sau:
- Các em chưa hiểu hết những nội dung hàm chứa trong tranh, ảnh,…Chưa xem
kiến thức bài học và nội dung câu hỏi nêu vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau.
4
- Giáo viên có sử dụng câu hỏi nêu vấn đề nhưng hiệu quả chưa cao. Giáo viên c̣òn
làm việc nhiều, c̣òn trả lời thay học sinh do sợ mất thời gian, học sinh không chịu khó suy
nghĩ.
2.2/ Sự cần thiết của vấn đề:
Chúng ta ai cũng biết rằng cảm thụ văn học bao giờ cũng mang tính cá nhân sâu
giáo viên phải biết lựa chọn và sử dụng một cách đúng đắn phương pháp dạy học có ý
nghĩa to lớn đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh, đối với chất lượng và hiệu
quả của dạy học. Lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học phải phụ thuộc vào mục tiêu
và nội dung của bài học, vào đặc điểm của từng phương pháp vì không có một phương
pháp nào là “vạn năng”, cần biết phối hợp một cách khéo léo và hợp lí các phương pháp
dạy học khác nhau.
Qua thực tế giảng dạy văn học lớp 7 nhiều năm qua tôi nhận thấy học sinh còn thụ
động, ít tập trung chú ý nghe giảng, ít phát biểu, xây dựng bài, đa số các em chưa có
phương pháp học tập tốt, chưa hệ thống được kiến thức đã học, ít suy nghĩ khi gặp những
nội dung văn bản có vấn đề, một số em còn sử dụng sách giải để đối phó với giáo viên.
Để đạt được kết quả tốt trong việc giảng dạy bộ môn, giáo viên phải có phươg pháp
hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài tốt nhằm phát huy tính tích cực, khả năng tư duy của học
sinh. Như thế không khí trong giờ học sẽ thoải mái, sinh động và sẽ đạt được kết quả tốt.
5
Tạo cho học sinh hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn, có yêu thích bộ môn thích học
sinh sẽ tự giác tích cực và tự lực trong các hoạt động học tập là nhiệm vụ của người thầy,
học sinh sẽ tích cực chủ động tham gia các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức. Bởi
một không khí học tập đầy hứng khởi sẽ kích thích sự say mê, giúp học sinh tập trung tốt
hơn vào bài học và có niềm tin vào những gì mà các em tiếp thu được, như thế hiệu quả
giáo dục sẽ được nâng cao.
- Tác phong, thái độ và sự chuẩn bị – đầu tư của người thầy: Vững vàng, sư phạm,
chủ động trong mọi hoạt động trên lớp; tự tin, thân thiện kiên nhẫn; tỏ thái độ quan tâm và
thương yêu học sinh; óc khôi hài đúng chỗ; lời nói rơ ràng chắc chắn, dứt khoát, không
lấp lững, liên tục tạo các tình huống có vấn đề, có hệ thống, đồ dùng dạy học phong phú.
- Không khí lớp học: Phòng học phải được trang trí sạch đẹp, thoáng mát; hoạt
động học được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, thoải mái; tập thể học sinh có
những hoạt động đồng bộ, thống nhất theo sự điều khiển của giáo viên; Tránh các tình
huống căng thẳng không cần thiết; vui tươi mà nghiêm túc.
Để hoàn thành được vai trò là người điều khiển, hướng dẫn học sinh lĩnh hội tri thức
người giáo viên phải tiếp cận với những thành tựu khoa học giáo dục, học hỏi nâng cao
áp dụng cho học sinh đã quen với cách thức làm việc độc lập.
6
- Mức độ thứ tư: Giáo viên gợi ý để học sinh tự phát hiện vấn đề, tự nêu lên tình huống
có vấn đề và tự giải quyết trọn vẹn vấn đề. Đây là mức độ cao nhất của dạy học nêu vấn
đề. Mức độ này có thể tiến hành trên lớp học song chủ yếu là để tiến hành khi giao các bài
tập hoặc các chủ đề cho học sinh làm việc ở nhà.
Việc đặt và sử dụng câu hỏi nêu vấn đề theo 4 mức độ trên nhằm tạo điều khiện cho
học sinh động não trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Muốn thực hiện tốt hoạt động này
thì giáo viên phải biết cách chọn những câu hỏi nêu vấn đề trong bài học như thế nào thì
có hiệu quả để giúp các em trả lời đúng chính xác nội dung câu hỏi có vấn đề.
* Vấn đề trong tác phẩm có thể có nhiều, có ít tuỳ vào tính chất khái quát và độ sâu
của tác phẩm. Nhưng vấn đề cũng phụ thuộc vào khả năng và sự nhạy cảm, thiên hướng
của người dạy nữa. Ví dụ trong tác phẩm Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến. Giáo
viên có thể nêu lên những vấn đề sau:
Gia cảnh của Nguyễn Khuyến như thế nào?
Tình bạn của Nguyễn Khuyến trong bài thơ “Bạn đến chơi nhà” được thể hiện như
thế nào ?
Qua bài thơ, tác giả muốn thể hiện điều gì ?
Phân tích vấn đề nào sâu hơn, kỹ hơn lại phụ thuộc vào chủ định của người dạy.
Nhưng dù thế nào cả 3 vấn đề cũng phải tập trung vào câu chuyện “Bạn đến chơi nhà”.
Có thể thấy rằng câu hỏi nêu vấn đề liên quan chặt chẽ đến tình huống có vấn đề.
Trong nhiều trường hợp khi đã xác định được vấn đề, nhờ câu hỏi (hoặc hệ thống câu hỏi,
tuỳ thuộc vào vấn đề đơn giản hay vấn đề phức tạp) mà giáo viên tạo được tình huống có
vấn đề, tức là xác định được cái chưa biết, cuốn hút sự quan tâm của học sinh.
Câu hỏi nêu vấn đề không nhằm mục đích tái hiện kiến thức, cũng không nhằm khơi
gợi sự tự biểu hiện của học sinh khi đánh giá chi tiết hay toàn bộ tác phẩm văn học. Câu
hỏi nêu vấn đề phải làm rõ được vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận
thức cho học sinh và phải động viên, khuyến khích học sinh giải thích vấn đề đã nêu. Câu
hỏi nêu vấn đề phải làm rõ hoặc đặt ra được vấn đề, đưa học sinh vào tình huống có vấn
đề. Tính chất khái quát, tính chất phức tạp, tính chất hệ thống và tính chất phù hợp với tác
kỹ năng).
- Trình bày nội dung vấn để.
- Kiểm tra giải đáp.
- Kết luận.
Dù vấn đề đơn giản hay phức tạp thì khi dạy học nêu vấn đề người giáo viên cũng
cần tuân thủ theo các bước của quy trình nêu trên. Tuy nhiên ở những vấn đề đơn giản thì
chứng minh cũng khá đơn giản và không nhất thiết phải tiến hành kiểm tra lại lời giải khi
nó đã có độ tin cậy và chính xác cao. Dù sử dụng phương pháp dạy học nào cũng phải chú
ý thiết kế các hoạt động của học sinh nhằm huy động được cao nhất hoạt động tích cực
nhận thức và sự hợp tác của học sinh. Có thể kể ra những hoạt động mà giáo viên thường
hay sử dụng như:
• Đàm thoại khi giáo viên giảng bài.
• Đặt ra những câu hỏi nêu vấn đề, gợi ý nhằm khuyến khích học sinh suy nghĩ,
tích cực học tập.
• Thiết kế các hoạt động để học sinh điều tra, tìm tòi, khám phá.
• Thảo luận (theo từng cặp hay theo nhóm).
• Tổ chức các hoạt động để học sinh tự phản ánh và tự đánh giá kết quả học tập
của mình.
* QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ
TRONG PHÂN MÔN VĂN HỌC:
Đối với giáo viên:
Vấn đề đặt ra là giáo viên cần phải làm gì để mỗi tiết dạy giúp học sinh nắm vững
kiến thức mà mình truyền đạt. Muốn như thế, giáo viên phải đưa ra những câu hỏi đa
dạng, phong phú có sức hấp dẫn và phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. Tạo
cơ hội cho học sinh tham gia một cách tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình lĩnh
hội kiến thức. Sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học hợp lí.
- Biện pháp: Giáo viên nêu câu hỏi, học sinh trả lời nhằm củng cố và hoàn thiện kiến
thức, qua đó giáo viên biết được tình trạng nắm bắt kiến thức của học sinh để sữa chửa và
bổ sung những kiến thức thiếu xót nhằm khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh.
- Yêu cầu: Giáo viên đưa những câu hỏi có tính chất nêu vấn đề để huy động học sinh
khoa thì giáo viên cần phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý xoay quanh kiến thức trọng
tâm bài học. Giáo viên phải phân loại đối tượng học sinh để có thể yêu cầu mức chuẩn bị
bài phù hợp với khả năng từng em.
Bản thân giáo viên phải phấn đấu tìm tòi trong từng tiết dạy. Giáo viên khi bước
lên bục giảng phải có sự đầu tư cho từng tiết dạy sao cho thật khoa học.
Giáo viên khi vận dụng dạy học nêu vấn đề phải vận dụng một cách linh hoạt.
Không phải bất cứ bài giảng nào cũng nêu câu hỏi có vấn đề. Tuỳ bài, tuỳ đặc điểm của
học sinh tuỳ thời gian mà vận dụng dạy học nêu vấn đề. Cho nên vai trò của người giáo
viên rất quan trọng trong việc chọn lựa hệ thống câu hỏi có vấn đề giúp học sinh có thể
tiếp thu bài học tốt hơn.
- Tổ chức lớp học cho học có sự say mê hứng thú trong giờ học.
- Khi tổ chức cho học sinh thảo luận câu hỏi có vấn đề phải chú ý đến thời gian.
- Học, thảo luận, tự do phát biểu ý kiến.
- Hệ thống câu hỏi phải khoa học, phù hợp nội dung bài học.
- Khuyến khích, động viên dù học sinh trả lời câu hỏi đúng hay sai.
- Gọi học sinh khác nhận xét, phát biểu ý kiến.
- Giáo viên chốt lại ý đúng nhất sau khi học sinh phát biểu.
Chuẩn bị bài mới:
Đối với đề tài này khâu chuẩn bị là vô cùng quan trọng, tốn nhiều thời gian, công
sức cho việc nghiên cứu tác phẩm trước khi lên lớp dạy học nhất là trong thời gian soạn
giáo án: Đọc tác phẩm, soạn bài, chuẩn bị bài.
9
Xây dựng một hệ thống câu hỏi có tình huống là một việc làm quan trọng hệ
thống câu hỏi phải có sự lựa chọn, đầu tư phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tuy
nhiên, khi chọn câu hỏi giáo viên nên chọn những câu hỏi phát triển tư duy cho học sinh
và lựa chọn như thế nào cho phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp, câu hỏi phải
theo từng mức độ từ thấp đến cao: từ câu hỏi nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích,
tổng hợp đến đánh giá.
- Nhận biết: Là nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây, nghĩa là có thể nhận
biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn
- Tình bạn của ông là một tình bạn chân thành, ấm áp, bền chặt, dựa trên
giá trị tinh thần.
- Hỏi: Tiếng thơ tình bạn hồn nhiên dân dã chân thành này được viết bằng hình thức
ngôn từ tương ứng nào khiến bài thơ trở nên trong sáng hồn nhiên và dễ hiểu?
+ Trả lời: Hệ thống ngôn từ thuần Việt của lời thơ.
Ví dụ 2:
Văn bản “Một thứ quà của lúa non: Cốm”.
- Hỏi: Để ca ngợi cốm, tác giả cảm thụ cốm bằng nhiều giác quan, Đó là giác quan
nào ?
+ Trả lời:
10
- Khứu giác : mùi thơm của lúa.
- Xúc giác : chất ngọt của cốm.
- Thị giác : màu xanh của cốm.
- Hỏi: Bằng lí lẽ nào tác giả đã thuyết phục người mua cốm ?
+ Trả lời: Hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ, chút chiu mà vuốt ve,
- Hỏi: Tại sao chúng ta phải nhẹ nhàng, vuốt ve và nâng đỡ ?
+ Trả lời: Vì cốm là lộc của trời, là sự khéo léo của con người, là sự cố tìm tàng và
nhẫn nại của thần lúa.
- Hỏi: Qua đó, tác giả muốn truyền tới bạn đọc tình cảm và thái độ nào trong ứng xử với
thức quà dân tộc là cốm ?
+ Trả lời: Trân trọng và giữ gìn cốm như một vẻ đẹp văn hóa dân tộc.
- Hỏi: Cảm nghĩ về cốm của Thạch Lam cho em hiểu gì về nhà văn này ?
+ Trả lời: Thạch Lam là người sành cốm, sành các món ăn ẩm thực của Hà Nội. Ca
ngợi cốm là ca ngợi một nét đẹp văn hóa truyền thống. Điều đó cho thấy tình cảm dân tộc
tinh tế và sâu sắc của nhà văn này.
Phần dặn dò:
Sau mỗi bài học, ở phần dặn dò nếu tiết học sau có hệ thống câu hỏi có vấn đề
ngoài những câu hỏi trong sách giáo khoa, chúng tôi cho các em ghi hệ thống câu hỏi này
để các em chuẩn bị cho tiết học sau tốt hơn tiết học trước.
sáng tạo, độc lập suy nghĩ .
+ Vấn đề được đặt ra gì?
+ Biết tư duy giải quyết vấn đề .
- Rèn luyện cho học sinh các tư duy: phân tích, so sánh, nêu nhận xét, diễn đạt ý,
tổng hợp, khái quát,
Trong quá trình đó, học sinh nắm kiến thức, phương thức giải quyết và phương pháp
nhận thức khoa học.
4. KẾT QUẢ ĐỀ TÀI:
Sau quá trình hướng dẫn tổ chức cho các em học tập có sử dụng câu hỏi nêu vấn đề
kết quả tăng dần như sau:
THỐNG KÊ
LỚP – TS HS
TỈ LỆ HỌC SINH CÓ ĐIỂM TRUNG BÌNH TRỞ LÊN
ĐẦU NĂM GIỮA HỌC KÌ I CUỐI HỌC KÌ I
7A1 –38 HS 28 - 73,7 % 32 - 84,2 % 37 - 97,4 %
7A2 - 39 HS 24 - 61,5 % 27 - 69,2 % 30 - 76,9 %
7A3 - 37 HS 22 - 59,5 % 26 - 70,3 % 29 - 78,4 %
7A4 - 39 HS 29 - 74,4 % 33 - 84,6 % 37 - 94,9 %
7A5 - 38 HS 26 - 68,4 % 30 - 78,9 % 35 - 92,1 %
TSHS: 191 129 – 67,5 % 148 – 77,54 % 168 – 88,0 %
* Kết quả đạt được khi sử dụng đề tài:
Qua quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy có những mặt đã thực hiện được
như sau:
- Về chất lượng:
Qua bảng thống kê cho thấy kết quả học tập của học sinh khối 7 tăng so với đầu
năm 20,5 %.
- Về học sinh:
+ Nắm được kiến thức trọng tâm bài học.
+ Học sinh chủ động tiếp thu kiến thức từ tác phẩm văn học.
+ Phát hiện nội dung ý nghĩa, nghệ thuật của tác phẩm một cách sâu sắc.
Dương Minh Châu.
3/ Hướng nghiên cứu tiếp đề tài:
Kết hợp với các giáo viên cùng bộ môn, chúng tôi sẽ tiếp tục áp dụng đề tài mình
nghiên cứu vào các năm học tới để các tiết dạy học môn Ngữ văn đạt hiệu quả cao hơn.
Dù rằng gặp nhiều khó khăn trong công việc nghiên cứu nhưng chúng tôi cố gắng hoàn
thành bài viết của mình với giúp đỡ góp ý nhiệt tình của các giáo viên trong tổ Ngữ văn,
của Ban giám hiệu trường THCS Bàu Năng. Cuối lời tôi xin chân thành cảm ơn các giáo
viên, quý cấp lãnh đạo đã giúp chúng tôi hoàn thành bài viết.
13
PHỤ LỤC
GIÁO ÁN MINH HOẠ:
Tiết PPCT : 30
Ngày dạy :
BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ Nguyễn Khuyến
I.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:
1. Kiến thức :
- Sơ giản về tác giả Nguyễn Khuyến.
- Sự sáng tạo trong việc vận dụng thể thơ Đường luật, cách nói hàm ẩn sâu sắc,
thâm thuý của Nguyễn Khuyến trong bài thơ.
2. Kỹ năng :
- Nhận biết được thể loại của văn bản.
- Đọc – hiểu văn bản thơ Nôm Đường luật thất ngôn bát cú.
- Phân tích một bài thơ Nôm Đường luật.
3. Thái độ:
- Giáo dục cho học sinh có tình cảm tốt đẹp với bạn bè.
II. CHUẨN BỊ:
1. Giáo viên : Bảng phụ, SGK
2điểm
3. Bài mới: Giới thiệu bài
Nguyễn Khuyến là một trong những hà thơ có nhiều bài thơ thật hay về làng cảnh
quê hương, về nổi buồn và niềm vui trong cuộc sống ần dật nơi thôn dã. Về tình bạn, ông
để lại cho đời hai bài đặc sắc: Bạn đến chơi nhà và Khóc Dương Khuê. Mỗi bài một vẻ.
Nếu Khóc Dương Khuê đau đớn, xót xa, nghẹn ngào khi nghe tin bạn qua đời đột ngột thì
Bạn đến chơi nhà là một niềm vui mừng khôn xiết, là nụ cười hiền khi đã bấy lâu nay bạn
già mới về thăm. Để biết được Nguyễn Khuyến đối với bạn như thế nào chúng ta cùng
tìm hiểu trong bài học hôm nay.
14
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC
SINH
NỘI DUNG BÀI HỌC
Hoạt động 1
: Hướng dẫn đọc – tìm hiểu chú
thích
Giọng chậm rãi, ung dung, hóm hỉnh như thấp
thoáng một nụ cười.
Khi đọc có thể đọc nhịp thơ 4/3, 2/2/3; đặc biệt
là câu 6 đọc nhịp 4/1/2.
Giáo viên treo ảnh tác giả.
Nguyễn Khuyến
Em hãy giới thiệu sơ lược về tác giả ?
Gọi học sinh.
Giáo viên chốt: Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) –
có tên là Tam Nguyên Yên Đỗ, là nhà nho ẩn dật,
nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, nhà thơ trữ tình
và trào phúng lớn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX.
Câu1: Mở đầu là cảm xúc khi bạn đến nhà.
Câu 2: Cảm xúc về gia cảnh.
Câu 3: Cảm xúc về tình bạn.
Hoạt động 2 : Hướng dẩn tìm hiểu văn bản.
Gọi 1 học sinh đọc câu 1.
Trong lời thông báo bạn đến chơi nhà có 2 chi
tiết đáng chú ý:
Một là chi tiết nhắc đến thời gian. Hai là chi tiết
dùng để xưng hô. Quan sát dòng thơ đầu chỉ ra chi
tiết đó ?
- Đã bấy lâu nay.
- Bác.
Thời gian đã bấy lâu nay được chủ nhà nhắc tới
có ý nghĩa nhắc nhở thời gian hay bày tỏ niềm chờ
đợi bạn đến chơi đã từ lâu ?
Gọi bạn là bác, cách xưng hô này có ý nghĩa gì?
Qua những biểu hiện gần gũi, thân tình cho
thấy quan hệ tình bạn ở đây như thế nào?
Từ đó, em hãy hình dung tâm trạng của chủ nhà
khi có bạn đến chơi? (hồ hởi, vui vẻ, thoả lòng).
Gọi học sinh từ câu 27.
Lẽ thường, khi bạn đến chơi, chủ nhà nghĩ đến
việc tiếp đãi bạn để tỏ tình thân thiện. Nhưng
trong bài thơ này, hoàn cảnh của chủ nhà có gì
khác nên ông không thể tiếp bạn theo lẽ thường ?
Gọi học sinh trả lời. (ngắn gọn từ câu 2 7).
Giáo viên: Chợ thì xa, mọi thứ sản vật của gia
đình có đấy mà lại như không. Có cả cá và gà,
nghĩa là có thực phẩm, nhưng cũng bằng không vì
ao sâu nước cả, vườn rộng rào thưa, không đánh
yêu đời).
Tình cảm của ông dành cho bạn ra sao? (yêu
bạn bằng tình cảm dân dã).
Giáo viên: Cái “không” được đẩy đến tận cùng
là trầu cũng không có, nghĩa là không có cả đến
cái tối thiểu cho nghi lễ tiếp khách. Để nói thẳng,
nói vui như thế, chủ nhà phải là người như thế
nào?
Tình bạn của họ ra sao?
Em đọc được cảm xúc nào của tác giả tiếp bạn
qua những lời lẽ đó? (vui tươi, thanh thản).
Gọi học sinh đọc câu cuối.
Theo em, trong lời thơ cuối: Bác đến chơi đây, ta
với ta, chi tiết ngôn ngữ nào đáng chú ý? (ta với
ta).
Quan hệ từ với liên kết hai thành phần ta. Ta ở
đây chỉ ai?
Ta thứ nhất là chủ nhà (Nguyễn Khuyến), ta
thứ hai là khách (bạn).
Trong hoàn cảnh gặp gỡ bạn bè ở đây, ta với ta
có nghĩa là gì ?
Từ việc trình bày hoàn cảnh của mình đến câu
cuối “ Bạn đến chơi ta với ta” Nguyễn Khuyến
muốn nói điều gì về tình bạn ?
(Tình bạn cao hơn vật chất, dù vật chất thiếu
hoặc không có đầy đủ, thì bạn bè vẫn quí mến
nhau, vẫn vui khi gặp gỡ … )
Vậy tình bạn của Nguyễn Khuyến trong bài
bài thơ này là gì? (tình bạn đậm đà dân dã, bất
* Ghi nhớ : SGK/105.
III. Luyện tập:
1.
Ngôn ngữ: một bên là ngôn
ngữ đời thường, một bên là ngôn
17
học?
So sánh cụm từ “ta với ta” trong bài bạn đến chơi
nhà của Nguyễn Khuyến với cụm từ “ta với ta”
trong bài “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh
Quan.
ngữ bác học, nhưng đều đạt đến
trình độ kết tinh hấp dẫn.
2.
Đại từ ta trong Tiếng Việt vừa
chỉ số ít, vừa chỉ số nhiều.
Trong bài Qua đèo Ngang ta
chỉ số ít.
Ta trong bài “Bạn đến chơi
nhà” dùng cả số ít lẫn số nhiều.
Ta là 2 người, ta cũng là thể
thống nhất và sự gắn bó chan hoà
của 2 người.
4. Củng cố và luyện tập:
Nhận xét chung về tình bạn của Nguyễn Khuyến?
Một tình bạn đậm đà, hồn nhiên, dân dã.
5. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà:
- Học thuộc bài thơ, học thuộc ghi nhớ SGK/95.
- Xem lại cách làm bài văn biểu cảm để chuẩn bị làm bài viết số 2 ở lớp.
dung tác giả : Thạch Lam.
2. Học sinh: Vở bài tập, SGK .
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC :
Phương pháp diễn giảng, nêu vấn đề, quy nạp kiến thức .
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC:
1. Ổn định lớp: Nắm sĩ số học sinh .
2. Kiểm tra bài cũ :
Học sinh 1: Đọc thuộc lòng và diễn
cảm bài thơ “Tiếng gà trưa” . Bài thơ
được viết theo thể thơ gì ?
Học sinh 2: Tiếng gà trưa đã gợi lại
trong tâm trí người chiến sỉ những
hình ảnh và kỷ niệm nào của tuổi
thơ?
Đọc diễn cảm bài thơ.
Thể thơ 5 tiếng.
- Quả trứng hồng.
- Xem gà đẻ trứng bị bà mắng.
- Người bà lo cho cháu.
- Ước mơ có quần áo đẹp.
8 điểm.
2 điểm.
5 điểm.
5 điểm.
3. Bài mới: Giáo viên giới thiệu bài mới.
“Cốm” một thức quà riêng biệt của đất nước, một món ăn bình dị, không cao sang
mà đậm đà hương vị thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam đã được Thạch Lam thể
hiện rất thành công trong “Hà Nội băm sáu phố phường”. Để hiểu rõ “Cốm” một đặc sản
quý báo của người Việt Nam chúng ta sẽ cùng tìm hiểu qua văn bản : “ Một thứ quà của
lúa non: Cốm”.
Thế nào là tùy bút? ( Tùy bút là một thể văn,
thiên về biểu cảm, chú trọng việc thể hiện cảm.
Ngôn ngữ tùy bút thường giàu hình ảnh và chất
chữ tình).
Em hãy cho biết bài tùy bút này nói về cái gì?
( Nói về cốm).
Để nói về cốm tác giả đã sử dụng phương thức
biểu đạt nào? (Miêu tả, thuyết minh, biểu cảm,
bình luận).
Phương thức nào là chủ yếu ? (biểu cảm).
Giáo viên hướng dẫn học sinh giải nghĩa các
từ khó.
Văn bản có thể chia làm mấy đoạn ? (3
đoạn).
- Đoạn 1 : Từ đầu chiếc thuyền rồng.
(sự hình thành của cốm).
- Đoạn 2 : Tiếp nhũn nhặn. (Giá trị đặc
sắc của cốm).
- Đoạn còn lại : (Bàn về sự thưởng thức
cốm).
Giáo viên : Để biết cốm được hình thành như
thế nào ? Giá trị ra sao ? Cách thưởng thức
cốm như thế nào ? Chúng ta cùng tìm hiểu qua
phần II.
Hoạt động 2 : Hướng dẫn học sinh đọc và
tìm hiểu văn bản.
Học sinh đọc từ đầu trong sạch của trời
Tác giả mở đầu bài viết về cố bằng những
hình ảnh và chi tiết nào ? ( Từ hương thơm của
lá sen đến hương vị của cốm, thứ quà đặc biệt
rất thích hợp với xứ sở nông nghiệp lúa nước ở
nước ta.
Ngoài cốm làm quà sêu tết, tác giả còn so
sánh cốm với loại nào ? (hồng).
Tìm những từ ngữ so sánh giữa hồng và cốm ?
Tác giả đã nhận xét thế nào về tục lệ hồng
cốm của nhân dân ta ? (ca ngợi tục lệ dùng
hồng cốm làm quà sêu tết).
Giáo viên treo tranh, hướng dẫn học sinh bình
tranh.
Để ca ngợi cốm, tác giả cảm thụ cốm bằng
nhiều giác quan, Đó là giác quan nào ?
- Khứu giác : mùi thơm của lúa.
- Xúc giác : chất ngọt của cốm.
- Thị giác : màu xanh của cốm.
Từ những giác quan cảm thụ trên, tác giả
khuyên chúng ta khi ăn cốm phải ăn như thế
nào ?
Bằng lí lẽ nào tác giả đã thuyết phục người
mua cốm ? (hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ, chút
chiu mà vuốt ve, ).
Tại sao chúng ta phải nhẹ nhàng, vuốt ve và
nâng đỡ ? (Vì cốm là lộc của trời, là sự khéo
léo của con người, là sự cố tìm tàng và nhẫn nại
của thần lúa).
Tác giả ca ngợi cốm như thế nào ? (ý 1 phần
ghi nhớ).
Em hãy nêu những nét đặc sắc về bài tuỳ
bút này ? (từ ngữ chọn lọc tinh tế, cảm xúc gắn
liền với miêu tả).
Giáo viên nhận xét, bổ sung.
* Ghi nhớ : SGK/163 .
III. Luyện tập :
1. Chọn học thuộc lòng đoạn văn
trong bài khoảng 5, 6 dòng.
2. Sưu tầm; Câu thơ, ca dao có nói
đến cốm:
Đêm giăng chày đập vang thôn
bản
Cốm phấn bay bay phủ lá ngàn.
(Thôi Hữu).
Giã gạo thì ốm, giã cốm thì khỏe.
4. Củng cố và luyện tập :
? Cốm có những giá trị đặc sắc nào ?
Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của đồng lúa
5. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà :
- Học thuộc ghi nhớ SGK/163. Chọn đọc một đoạn văn trong bài, sưu tầm thêm một
số câu thơ, ca dao nói về cốm.
- Chuẩn bị bài “Trả bài tập làm văn số 3” .
V. RÚT KINH NGHIỆM:
- Nội dung :
- Phương pháp :
- Hình thức tổ chức :
- Học sinh :
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập I .
TÀI LIỆU THAM KHẢO: Trang 22
MỤC LỤC: Trang 23
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI: Trang 24
24
Ý KIẾN NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
I. Cấp đơn vị (trường):
1. Nhận xét: 2. Xếp loại:
Bàu Năng, ngày tháng 3 năm 2011
TM.HĐKH
II. Cấp cơ sở (PGD):
1. Nhận xét: 2. Xếp loại:
Dương Minh Châu, ngày tháng năm 2011
TM.HĐKH
25