ĐÊ TÀI: BỒI DƯỠNG HỌC SINH KHÁ GIỎI MÔN VẬT LÝ 9
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong giai đoạn đổi mới của đất nước, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa
công tác giáo dục, và coi đây là một trong những yếu tố đầu tiên, yếu tố quan trọng
góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.Bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ then chốt
trong mỗi nhà trường, là thành quả để tạo lòng tin với phụ huynh và là cơ sở tốt để xã
hội hoá giáo dục.
Qua nhiều năm giảng dạy bộ môn tại trường THCS , tôi cũng đã thu được một
số kết quả trong công tác ôn học sinh giỏi, đã có các học sinh đạt giải nhất, giải nhì và
giải khuyến khích cấp huyện vào các năm học 2010- 2011; 2011- 2012; 2012- 2013.
Với mong muốn công tác ôn luyện này đạt kết quả tốt, thường xuyên và khoa học hơn,
góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục của địa phương,
tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm năm học này là: “ Bồi dưỡng học sinh khá giỏi
bộ môn vật lý 9”.
II. NỘI DUNG
Việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tổ chức thi
học sinh giỏi còn có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, việc bồi
dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên. Để có thể bồi dưỡng
học sinh giỏi, người giáo viên luôn phải học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao
trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải bồi dưỡng lòng yêu nghề, tinh
thần tận tâm với công việc.
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, các sự vật hiện tượng vật lý rất quen thuộc
gần gũi với các em. Việc tạo lòng say mê yêu thích và hứng thú tìm tòi kiến thức lại phụ
thuộc rất nhiều vào nghiệp vụ sư phạm của người thầy. Qua giảng dạy và tìm hiểu tôi
nhận thấy phần lớn các em chưa có thói quen vận dụng những kiến thức đã học vào giải
bài tập vật lý một cách có hiệu quả, nhất là đối với các bài tập khó dành cho học sinh
khá giỏi.
1
1.Đối với học sinh
Để tự tin và học giỏi môn Vật lý trong nhà trường, học sinh cần có phương pháp
dưỡng nâng cao tốt thì sẽ ít hiệu quả hoặc không có hiệu quả. Đồng thời giáo viên lại
phải lựa chọn đúng đối tượng học sinh vào bồi dưỡng và phải tự soạn thảo chương trình
bồi dưỡng một cách hợp lý, khoa học, sáng tạo. Ngoài ra giáo viên cần tập cho các em
có phương pháp tự học, tự đọc và tự nghiên cứu tài liệu ở nhà. Hướng cho các em có ý
chí, quyết tâm, biết đặt ra mục tiêu của mình cần vươn tới, đạt được cái đích mà mình đã
đặt ra.
Cần tổ chức thi chọn lọc qua vài vòng loại để lựa chọn chính xác đối tượng học
sinh vào bồi dưỡng.
Giáo viên cần đánh giá học sinh một cách khách quan, chính xác, không chỉ qua
bài thi mà cả qua việc học tập bồi dưỡng hằng ngày. Việc lựa chọn đúng không chỉ nâng
cao hiệu quả bồi dưỡng, mà còn tránh bỏ sót học sinh giỏi và không bị quá sức đối với
những em không có tố chất.
Hiện nay có rất nhiều sách nâng cao và các tài liệu tham khảo, Internet, song
chương trình bồi dưỡng của Huyện nhà chưa có sách hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng tiết,
từng buổi học như trong chương trình chính khoá. Vì thế soạn thảo chương trình bồi
dưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như chúng ta không có sự
tham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt. Giáo viên cần soạn thảo nội dung bồi dưỡng dẫn dắt
học sinh từ cái cơ bản của nội dung chương trình học chính khoá, tiến dần tới chương
trình nâng cao (tức là trước hết phải khắc sâu kiến thức cơ bản của nội dung học chính
khoá, từ đó vận dụng để mở rộng và nâng cao dần).
Cần soạn thảo chương trình theo vòng xoáy: Từ cơ bản tới nâng cao, từ đơn giản
tới phức tạp. Đồng thời cũng phải có ôn tập củng cố. Ví dụ: Cứ sau 2, 3 tiết củng cố kiến
thức cơ bản và nâng cao thì cần có một tiết luyện tập để củng cố kiến thức; và cứ sau 5,
6 tiết thì cần có một tiết ôn tập để củng cố khắc sâu. Khi soạn thảo một tiết học chúng ta
3
cần có đầy đủ những nội dung:
- Kiến thức cần truyền đạt (lý thuyết, hay các công thức có liên quan đến
tiết dạy)
- Bài tập vận dụng.
- Bài tập về nhà luyện thêm (tương tự bài ở lớp).
chi tiết (không nên giải tắt) để giúp học sinh hiểu sâu sắc bài toán; đặc biệt là những bài
toán khó những bài học sinh sai sót nhiều. Đồng thời uốn nắn những sai sót và chấn
chỉnh cách trình bày của học sinh một cách kịp thời.
3. Một số bài tập cụ thể
3.1. bài tập chuyên đề cơ học
Một động tử xuất phát từ A chuyển động trên đường thẳng hướng về điểm B với vận tốc
ban đầu v
1
= 32m/s. Biết rằng cứ sau mỗi giây vận tốc của động tử lại giảm đi một nửa
và trong mỗi giây đó động tử chuyển động đều.
a) Sau bao lâu động tử đến được điểm B, biết rằng khoảng cách AB = 60m
b) Ba giây sau kể từ lúc động tử xuất phát, một động tử khác cũng xuất phát từ A
chuyển động về B với vận tốc không đổi v
2
= 31m/s. Hai động tử có gặp nhau không?
Nếu có hãy xác định thời điểm gặp nhau đó.
* Hướng dẫn bài 1 :
a) Thời gian chuyển động, vận tốc và quãng đường đi được của động tử có thể
biểu diễn bởi bảng sau :
Giây thứ 1 2 3 4 5 6
Vận tốc (m/s) 32 16 8 4 2 1
Quãng đường (m) 32 48 56 60 62 63
Căn cứ vào bảng trên ta thấy : Sau 4s động tử đi được 60m và đến được điểm B
b) Cũng căn cứ vào bảng trên ta thấy hai động tử sẽ gặp nhau tại điểm cách A một
khoảng là 62m.
Để được quãng đường này động tử thứ hai đi trong 2s:
5
s
2
= v
.
Cho nhiệt dung riêng của nước C
1
= 4200J/Kgđộ; Của nước đá C
2
= 2100J/Kgđộ; Nhiệt
nóng chảy của nước đá λ = 3,4.10
5
J/kg. Bỏ qua khối lượng của nhiệt lượng kế
* Hướng dẫn bài
Khi được làm lạnh tới 0
0
C, nước toả ra một nhiệt lượng bằng:
Q
1
= m
1
.C
1
(t – 0) = 0,5.4200.20 = 42 000J
Để làm “nóng” nước đá tới 0
0
C cần tốn một nhiệt lượng:
Q
2
= m
2
.C
2
(0 – t
6
Vậy sau khi cân bằng nhiệt được thiết lập nước đá không tan hoàn toàn và nhiệt
độ của hỗn hợp là 0
0
C
3.3. Một số bài tập chuyên đề điện học
Có 3 điện trở giá trị lần lượt bằng R; 2R;
3R mắc nối tiếp với nhau vào hiệu điện thế U
không đổi. Dùng một vôn-kế (điện trở R
V
) để đo
lần lượt hiệu điện thế giữa 2 đầu điện trở R và 2R
thì được các trị số U
1
= 40,6 V và U
2
= 72,5 V.
Nếu mắc vôn-kế này vào 2 đầu điện trở 3R thì
vôn-kế này chỉ bao nhiêu?
* Hướng dẫn bài
Gọi I
1
là cường độ dòng điện trong mạch chính
ở lần đo thứ nhất. Ta
U = U
1
+ I
1
(2R + 3R) (1)
Với I
2
+ I
2
(R + 3R)
Với I
2
=
V
22
R
U
R2
U
+
=> U = 3U
2
+ 4U
2
V
R
R
(3)
Với lần đo thứ ba: U = U
3
+ I
3
(R + 2R). Trong đó: I
3
=
V
R
R
=>
V
R
R
=
3,0
87
1,26
U5U4
U3U6
12
21
==
−
−
=> U = 304,5(V) . Thay vào (4) => U
3
= 105 (V)
3.4. Một số bài tập chuyên đề quang học
Bài 1: Một người không đeo kính có thể nhìn rõ các vật cách mắt xa nhất 210cm .Người
ấy dùng một gương cầu lồi hình tròn ,đường kính rìa gương bằng 8cm ,bán kính cong
bằng 400cm ,để quan sát các vật ở phía sau mình.Mắt người ấy đặt trên trục chính của
gương và cách gương 50cm .
a. Nếu người ấy nhìn thấy rõ trong gương ảnh của một vật nhỏ thì khoảng cách
lớn nhất từ vật đến gương theo phương trục chính bằng bao nhiêu?
b. Một vật hình tròn đặt vuông góc với trục chính của gương ,tâm của vật ở trên
trục chính ,cách gương 600cm.Hỏi bán kính lớn nhất của vật bằng bao nhiêu thì người
OM
OP
tg
641,0)40600()'(.'
1,0
40
4
'
max
=+=+===
===
αα
α
8
MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy đây là bước
đầu vừa làm vừa rút kinh nghiệm nhưng đã có bước chuyển biến mới. Các em nắm chắc
kiến thức hơn và đã được tiếp xúc với một số dạng bài tập nâng cao. Kết quả cuối học kì
I vừa qua, chất lượng bộ môn đã có sự tiến bộ, cụ thể:
Tổng số học sinh: 38 em, trong đó
Giỏi Khá T.Bình Yếu kém
Số lượng 6 7 21 4 0
Tỉ lệ 15,7% 18,4% 55,4% 10,5%
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua những năm bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy rằng: Người thầy cần
không ngừng học hỏi và tự học hỏi để nâng cao trình độ đúc rút kinh nghiệm, thường
xuyên xây dựng, bổ sung chương trình và sáng tạo trong phương pháp giảng dạy.
Để đưa con thuyền đến bến bờ vinh quang thì vai trò của người cầm lái thật vô
cùng quan trọng. Muốn công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả, trước hết phải có