BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN PHÚC
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG , HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH
CƯ Ở MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG LONG BIÊN
VÀ PHƯỜNG GIANG BIÊN QUẬN LONG BIÊN – TP HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trung thực, kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong bất kì công
trình khoa học nào khác. Các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Phúc ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3
1.1.1. Khái quát về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 3
1.1.2. Các quan điểm chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
1.1.3. Đặc điểm của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 5
1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 7
1.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước và quy
định bồi thường của ngân hàng thế giới 9
1.2.1. Chính sách bồi thường của Trung Quốc 9
1.2.2. Chính sách bồi thường của Inđônêxia 11
1.2.3. Chính sách bồi thường của Nhật Bản 14
1.2.4. Quy định bồi thường của ngân hàng thế giới 16
1.3. Tính pháp lý và cơ sở thực tiễn về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 17
1.3.1. Các văn bản pháp quy của nhà nước về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 17
1.3.2. Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại
Việt Nam 27
1.3.3. Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội 33
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.3. Đánh giá việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án 49
3.3.1. Khái quát 2 dự án 49
3.3.2. Đối tượng và điều kiện được bồi thường của 2 dự án 54
v
3.3.3. Bồi thường về đất và tài sản trên đất 56
3.3.4. Các khoản hỗ trợ của 2 dự án 59
3.3.5. Chính sách tái định cư của 2 dự án 63
3.3.6. Kết quả thực hiện tại 2 dự án 64
3.3.7. Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của 2 dự án 65
3.4. Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn
phường Long Biên và phường Giang Biên 68
3.4.1. Về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 68
3.4.2. Về tổ chức thực hiện 69
3.5. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất 70
3.5.1. Giải pháp về chính sách và thực hiện chính sách 70
3.5.2. Giải pháp về tổ chức thực hiện và trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ 70
3.5.3. Giải pháp về cơ chế bồi thường 71
3.5.4. Giải pháp về cơ chế hỗ trợ 71
3.5.5. Các giải pháp khác 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73
1. Kết luận 73
2. Kiến nghị 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Long Biên 38
Hình 3.2. Cơ cấu kinh tế phường Long Biên năm 2013 41
Hình 3.3. Cơ cấu kinh tế phường Giang Biên năm 2013 43
Hình 3.4. Cơ cấu các loại đất phường Long Biên năm 2013 46
Hình 3.5: Cơ cấu các loại đất phường Giang Biên năm 2013 46
Hình 3.6: Khu đất GPMB thực hiện dự án khu đấu giá Giang Biên 64 viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN
GPMB
KT-XH
NĐ-CP
TĐC
QĐ-UBND
UBND
WB
: Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
: Giải phóng mặt bằng
: Kinh tế xã hội
: Nghị định - Chính phủ
Tái định cư
: Quyết định - Uỷ ban nhân dân
: Uỷ ban nhân dân
hưởng khi quỹ đất nông nghiệp giảm dần do lạm dụng việc thu hồi đất.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự nhất trí của Khoa Quản lý đất đai - Học
viện Nông nghiệp Việt Nam và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Thị Lam Trà
2
chúng tôi nghiên cứu đề tài: : “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
ở một số dự án trên địa bàn phường Long Biên và phường Giang Biên - quận
Long Biên - thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn phường Long Biên và phường
Giang Biên - quận Long Biên.
- Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt hơn các chính
sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và rút ra những bài học kinh nghiệm trong
công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư với mong muốn góp phần triển khai các
dự án một cách hiệu quả, ổn định đời sống người dân và phát triển kinh tế ở địa
phương.
3. Yêu cầu của đề tài
- Các số liệu, tài liệu điều tra thu thập phải phản ánh đúng quá trình thực hiện
chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án
trên địa bàn bàn phường Long Biên và phường Giang Biên - quận Long Biên.
- Các giải pháp và kiến nghị phải có tính khả thi, phù hợp thực tế, đảm bảo
tôn trọng và đúng pháp luật hiện hành.
3
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.2.1. Bồi thường về đất đai
Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có
cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng
giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi (Khoản 2, Điều 42,
Luật đất đai năm 2003).
Khi giao đất mới ở khu tái định cư, nếu giá trị đất khu tái định cư nhỏ hơn thì
được nhận tiền chênh lệch, nếu giá trị đất khu tái định cư lớn hơn thì bù tiền chênh
lệch trừ trường hợp hộ nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà giá trị nhỏ hơn một suất tái
định cư tối thiểu thì được hỗ trợ phần chênh lệch đó. Trường hợp đất nông nghiệp
vượt hạn mức không được cơ quan thẩm quyền phê duyệt, chứng nhận, đất nông
nghiệp thuộc quỹ đất công ích, đất nhận giao khoán được bồi thường chi phí đầu tư
còn lại (Điều 14; Nghị định 69/2009/NĐ-CP).
1.1.2.2. Bồi thường về hoa màu
Bồi thường cây hàng năm được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch
theo vụ có năng suất cao nhất trong 3 năm và giá trung bình tại thời điểm thu hồi.
Đối với cây lâu năm nếu đang thời kỳ kinh doanh được bồi thường bằng giá trị hiện
có của vườn cây, nếu cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển thì bồi
thường chi phí di chuyển, thiệt hại do di chuyển và chi phí trồng lại (Điều 24, Nghị
định 197/2004/NĐ- CP).
Đối với vật nuôi, đến thời điểm thu hoạch thì không bồi thường, chưa đến kỳ
thu hoạch được bồi thường do phải thu hoạch sớm, nếu di chuyển được thì bồi
thường chi phí di chuyển và thiệt hại khi di chuyển (Điều 24, Nghị định
197/2004/NĐ- CP).
1.1.2.3. Bồi thường công trình trên đất
Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân được
bồi thường bằng giá trị xây dựng mới, do UBND cấp tỉnh quy định. Đối với nhà,
công trình xây dựng khác thì mức bồi thường tính bằng tổng giá trị hiện có của công
trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của
công trình, nhưng tối đa không lớn hơn 100% giá trị xây dựng mới của công trình
5
Quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng có các đặc điểm sau:
6
1.1.3.1. Tính đa dạng thể hiện
Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự
nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau. Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao,
ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập
trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng:
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành,
hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp. Do đó mỗi khu vực
bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp
riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể
(Phạm Phương Nam, 2011).
1.1.3.2. Tính phức tạp
Đất đai là tài sản có giá trị, có vai trò quan trọng trong đời sống KT-XH đối
với mọi người dân. Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi
trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn, do
đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn
được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê. Mặt khác, cây
trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động
dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn. Bởi vậy, để đảm bảo
đời sống dân cư cần thiết phải thực hiện tốt việc hỗ trợ, chuyển đổi nghề nghiệp cho
người dân.
- Đối với đất ở phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:
+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của
người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở.
+ Nguồn gốc với chế độ quản lý khác nhau qua nhiều thời kỳ, cơ chế chính
sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai, xây nhà trái phép.
+ Thiếu quỹ đất để xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái
chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản lý đất đai cùng
với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai và công bằng ở các
địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất
lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến độ
GPMB của dự án (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2007).
8
1.1.4.2. Giá đất và định giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB
hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi.
Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định
hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Theo quy định của
pháp Luật Đất đai 2003 tại Điều 55 thì giá đất được hình thành trong các trường
hợp sau đây.
- Do UBND các Tỉnh, Thành phố Trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh)
quy định căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá đất do
Chính phủ quy định và được công khai ngày 01 tháng 01 hàng năm.
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất.
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan
khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;
góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những
hiểu biết về định giá đất. Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế nhằm tính
toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng tham
gia trong một thị trường nhất định. Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sự
ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích cụ thể
đã được xác định tại một thời điểm xác định. Khi định giá đất người định giá phải căn
cứ vào mục đích sử dụng của từng loại tại thời điểm định giá để áp dụng phương
pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế. Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử
tác động tới giá bồi thường.
1.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước và quy định
bồi thường của ngân hàng thế giới
1.2.1. Chính sách bồi thường của Trung Quốc
Pháp luật đất đai Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai
Việt Nam về chế độ sở hữu và các hình thức sử dụng đất đai. Tuy nhiên nhìn tổng
thể, việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao, việc sử dụng đất tại
Trung Quốc thực sự tiết kiệm.
Về cơ sở bồi thường: Bồi thường không căn cứ giá thị trường, mức bồi
10
thường phụ thuộc vào mục đích sử dụng ban đầu của khu đất bị trưng mua, mức này
thấp hơn nhiều so với phí giao đất. Trong trường hợp mức bồi thường không đủ để
duy trì mức sống ban đầu, có thể tăng thêm, tuy nhiên, tổng mức bồi thường không
vượt quá 30 lần giá trị sản lượng trung bình của 3 năm trước khi thực hiện trưng
mua. Bồi thường cho giá trị nhà ở không thấp hơn giá thị trường. Cơ quan thẩm
định giá bất động sản sẽ do chủ sở hữu lựa chọn.
Về phương thức bồi thường: Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết
trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm. Người dân có quyền lựa
chọn các hình thức bồi thường chỉ bằng tiền; Tái định cư và có việc làm hoặc Tái
định cư với bảo hiểm xã hội.
Về mức bồi thường: Mức giá này được Nhà nước quy định cho từng khu vực
và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế.
Đối với đất nông nghiệp, bồi thường theo tính chất của đất và loại đất. Mức bồi
thường từ 6 đến 10 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3 năm trước khi bị
thu hồi. Trợ cấp tái định cư bằng 4 đến 6 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình.
Ngoài ra, Luật cũng giới hạn tổng mức bồi thường, hỗ trợ tái định cư đối với đất
nông nghiệp không vượt quá 30 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3
năm trước nếu như các quy định trong luật không đủ duy trì mức sống hiện tại của
người nông dân.
Bên cạnh những thành công, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của
Trung Quốc bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái
định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà
tái định cư…(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012b).
1.2.2. Chính sách bồi thường của Inđônêxia
Một khảo sát xã hội của trường Đại Học Padjadjaran ở một vùng hồ đào,
trong nhiều năm, sau khi gia đình được trả tiền bồi thường vào những năm 96 cho
thấy sở hữu đất đai của những gia đình này giảm còn 47% và thu nhập còn 50%.
Những ảnh hưởng của việc di chuyển chỗ ở khi sử dụng đất làm đập Cirata cho thấy
trong khi 59% hộ nghèo đã cải thiện được thu nhập thì có 21% số hộ bị sa sút vì
thấy đất cùng với thu nhập so với trước giảm 25%.
Di dân tái định cư, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất vì mục đích phát triển
của xã
12
hội từ trước đến nay vẫn bị coi là sự ‘hi sinh” mà một số người phải chấp nhận vì
lợi ích của số đông và lợi ích cộng đồng. Các chương trình bồi thường tái định cư
chỉ giới hạn trong phạm vi bồi thường theo Luật cho đất bị dự án chiếm dụng, hoặc
cho một số ít trường hợp đất tái định cư.
Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về công tác bồi thường tái định cư đang
từng bước thay đổi, nhận thức về hậu quả xấu có thể xảy ra đối với các vấn đề kinh
tế, xã hội, môi trường trong quá trình thu hồi đất và di dân, mặt khác từ thực tế
khách quan và sự chuyển biến về nhận thức, người bị ảnh hưởng quan tâm ngày
càng lớn hơn về quyền lợi và phúc lợi cho họ. Vì vậy, tái định cư ngày càng được
xem như những chương trình phát triển của quốc gia. Kinh nghiêm thực tiễn đã
giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các nhà
thực thi đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho những tổn thất do sự thiếu quan
tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách tái định cư có thể lớn hơn rất
nhiều chi phí tái định cư đúng đắn. Hơn nữa, những người bị bần cùng hoá đến một
thời điểm nhất định sẽ là nguyên nhân làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân. Do vậy,
người dân bản địa (các dự án nước ngoài) dân tộc thiểu số, nông dân vì họ là những
người có quyền lợi hoặc quyền hoa lợi theo phong tục đối với đất và các tài sản
khác bị dự án chiếm dụng;
- Bất cứ dự án nào về tái định cư cần có nhận thức và ý thức, thực hiện đạt
hiệu quả ở mức càng cao càng tốt, các kế hoạch tái định cư phải được soạn thảo và
xác lập tương ứng với thời gian và ngân sách phù hợp, người di chuyển được hưởng
các cơ hội về nơi ở, nguồn sống, nguồn lực ổn định cuộc sống càng nhanh càng tốt;
- Người bị ảnh hưởng phải được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến
chi tiết về các phương án bồi thường tái định cư;
- Người bị ảnh hưởng phải được hỗ trợ ở mức cao nhất về hoà nhập cộng
đồng dân cư địa phương bằng cách mở rộng lợi ích của dự án đến cả các cộng đồng
dân địa phương;
- Chú ý đến người nghèo nhất, trong đó có những người không hoặc chưa có
quyền hợp pháp về đât đai, tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ. Đồng
thời, sớm có kế hoạch xác định quyền hợp pháp của họ, cố ngắng hạn chế những
trường hợp coi lý do ngăn trở bồi thường tái định cư là việc thiếu quyền sở hữu,
quyền sử dụng đất hợp pháp;
14
- Để không ngừng cải tiến sự hỗ trợ của ngân hàng với các dự án trong lĩnh
vực nhạy cảm này, cần chính thức thông qua và thực hiện một số chính sách bồi
thường tái định cư bắt buộc. Chính sách này không thể thiếu trong việc nêu rõ các
mục tiêu và phương pháp, định ra các tiêu chuẩn trong hoạt động của các tổ chức
ngân hàng, mở ra một cách nhìn bao quát rõ ràng về tất cả các vấn đề đó và vận
dụng thủ tục chính thức để giải quyết có hệ thống những khía cạnh này trong các
hoạt động của ngân hàng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012b).
1.2.3. Chính sách bồi thường của Nhật Bản
Về thu hồi đất: Luật Trưng thu đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951 quy
định việc trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọng yếu
được pháp luật cho phép, chẳng hạn đường xá, công viên theo luật quy hoạch đô thị,
Hoạt động giải quyết việc làm cho người cao tuổi được chú trọng để xoá bỏ
những bất cân đối về việc làm do tuổi tác. Luật về ổn định việc làm của người lao
động cao tuổi nhấn mạnh yêu cầu các công ty kéo dài tuổi về hưu bắt buộc và thuê
mướn lại những người cao tuổi có năng lực, kinh nghiệm tại các công ty hiện đại
hoặc từ các công ty chi nhánh. Nhiều chính sách được đưa ra như các chính sách về
đào tạo lại, nâng cao tay nghề cho lao động trung niên. Các loại hình tuyển dụng và
thuê mướn được đa dạng hoá, coi trọng các công việc làm thêm không chính thức
như làm bán thời gian, tạm thời hoặc bất thường. Chế độ tuyển dụng thay đổi theo
khu vực, không tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn như trước kia mà chuyển sang
các khu vực lân cận và các địa phương.
Trong những năm 1960, 1970, các lĩnh vực như phúc lợi y tế, công nghệ tin
học và môi trường đang giữ một vai trò quan trọng then chốt trong việc mở ra
những thị trường mới ở Nhật Bản. Đồng thời, các ngành công nghiệp mới và các
dịch vụ liên quan được khuyến khích phát triển. Việc phát triển khoa học và công
nghệ địa phương được đẩy mạnh thông qua việc tận dụng đặc thù mỗi vùng. Chính
phủ Nhật Bản đã có những bước đi thích hợp nhằm ổn định chính thị trường lao
động ở tầm vĩ mô, nhưng để có thể tham gia được vào thị trường lao động thì bản
thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề nghiệp của mình
thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, tổ chức cũng phải ủng hộ điều này một
cách tích cực (Đào Trung Chính, 2010).