một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụ - Pdf 24

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Từ cơ chế tập trung chuyển sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động kinh doanh đang đứng trước nhiều vấn đề bức xúc. Một trong
những vấn đề nổi lên hàng đầu là vấn đề bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh sao cho có hiệu quả. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực in ấn nói chung và đối với Xí nghiệp in I - TTXVN ( thông tấn xã Việt Nam )
nói riêng thì một trong những mục tiêu phấn đấu hàng đầu chính là vấn đề bảo toàn
và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Có thể khẳng định rằng bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh là mục tiêu phấn đấu lâu dài của mỗi doanh nghiệp. Bảo toàn và nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh gắn liền và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường với môi
trường cạnh tranh khắc nghiệt thì việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh là một biện pháp quản trọng giúp doanh nghiệp không chỉ đứng vững
mà còn phát triển cả chiều rộng và chiều sâu quy mô sản xuất kinh doanh của mình.
Tuy nhiên xuất phát từ thực tiễn rất nhiều các doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trường thực hiện rất kém mục tiêu bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh của mình. Số vốn thu được sau một vòng tuần hoàn vốn lại
thường thấp hơn số vốn đã bỏ ra ban đầu, công tác quản lý vốn kinh doanh thường
lỏng lẻo, các biện pháp đưa ra thường mang tính chất lý thuyết không gắn với thực
tiễn hoạt động của doanh nghiệp đã làm nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và đi
đến bờ vực của sự phá sản. Trong số các doanh nghiệp đó thì các doanh nghiệp nhà
nước chiếm một phần không nhỏ, điều này là một mỗi trăn trở của các nhà quản lý
doanh nghiệp và cũng là của những người thường xuyên quan tâm đến vấn đề bảo
toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp, cần phải có
những hướng đi đúng, những giải pháp hợp lý để công tác bảo toàn và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh thực sự có hiệu quả giúp cho các doanh nghiệp
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đứng vững trong nền kinh tế thị trường là yêu cầu và khách quan của mọi doanh

Với lượng vốn này doanh nghiệp có thể xây dựng, đảm bảo cho hoạt động như xây
dựng nhà xưởng, mua TSCĐ, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí
khác có liên quan, tức là vốn được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và
được thể hiện dưới dạng nhiều hình thái vật chất khác nhau.
Như vậy, vốn sản xuất kinh doanh là gì ?
Các nhà kinh tế học từ thời xa xưa đã đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau
về vốn kinh doanh như sau :
- Theo quan điểm kinh tế học cổ điển : Vốn kinh doanh là yếu tố đầu
vào nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng hình thái vật chất khác
nhau như : tiền, lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,
- Theo quan điểm của Các Mác cho rằng : "Tư bản là giá trị mang lại
giá trị thặng dư". Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế ủng hộ do phản ánh
được đúng bản chất và tác dụng của vốn.
- Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh còn được gọi là một loại
quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh nghiệp và có các đặc trưng chủ yếu
sau:
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thứ nhất : Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực của các tài sản có
giá trị dùng để sản xuất ra một lượng giá trị các sản phẩm khác. Đó là các loại
nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp.
Thứ hai : Vốn vận động phải sinh lời. Ban đầu vốn được biểu hiện bằng một
lượng tiền nhất định, trong quá trình vận động vốn tồn tại dưới nhiều hình thái vật
chất khác nhau. Tuy nhiên, điểm xuất phát và điểm cuối cùng của quá trình tuần
hoàn vốn đều được biểu hiện bằng tiền, nhưng để bảo toàn và sử dụng vốn có
hiệu quả thì đồng vốn bỏ ra phải nhỏ hơn hoặc bằng số tiền thu về.
Thứ ba : Vốn có giá trị về mặt thời gian. Trong cơ chế thị trường như hiện
nay thì đặc trưng này thể hiện rất rõ, đồng vốn bỏ ra luôn chịu ảnh hưởng của các
yếu tố lạm phát, giảm phát, khủng hoảng, tiến bộ khoa học kỹ thuật, nên giá trị

xuất kinh doanh và toàn bộ giá trị sẽ chuyển dịch ngay vào giá trị sản phẩm sản
xuất ra.
 Căn cứ vào quan hệ sở hữu : Theo cách phân loại này vốn kinh doanh
được chia làm hai loại đó là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
• Vốn chủ sở hữu: Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
bao gồm vốn để hình thành mọi loại tài sản trong doanh nghiệp, vốn điều lệ, vốn tự
bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và từ các quỹ của doanh nghiệp. Đối với DNNN thì
vốn được bổ sung từ Ngân sách tức là Nhà nước là chủ sở hữu. Nguồn vốn này
được đánh giá là ổn định và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nắm giữ nếu
biết sử dụng hợp lý.
• Nợ phải trả : Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình doanh nghiệp
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoàn trả cả vốn gốc và lãi vay trong một thời gian nhất định, nguồn vốn này được
hình thành từ các khoản nợ vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản
nợ người cung cấp, nợ công nhân viên, tiền vay do phát hành trái phiếu hoặc các
khoản nợ phải trả Nhà nước,
 Căn cứ theo phạm vi huy động vốn kinh doanh : Cũng được phân
thành hai loại là vốn bên trong và vốn bên ngoài doanh nghiệp.
• Vốn bên trong doanh nghiệp : Là nguồn vốn có thể huy động được từ
hoạt động bên trong doanh nghiệp từ các nguồn như tiền khấu hao TSCĐ, lợi
nhuận để lại doanh nghiệp, các quỹ dự phòng, các khoản thu do thanh lý nhượng
bán TSCĐ, Đây là nguồn vốn quan trọng đảm bảo khả năng tự chủ về tài chính
của doanh nghiệp.
• Vốn bên ngoài doanh nghiệp : Là số vốn mà doanh nghiệp huy động
từ bên ngoài doanh nghiệp nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình như vốn vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, phát hành trái
và các khoản nợ khác.
1.2- Nguồn hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

tự bổ sung trong quá trình kinh doanh chủ yếu dựa vào hai nguồn là lợi nhuận và
quỹ khấu hao của doanh nghiệp. Nguồn vốn tự bổ sung mang ý nghĩa rất quan
trọng do nó là cơ sở nhằm đánh giá khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh
nghiệp.
- Nguồn vốn tín dụng : Thông thường nguồn vốn vay tín dụng là nguồn
vốn mà các doanh nghiệp sử dụng thường xuyên và nhiều nhất trong nền kinh tế.
Đây là nguồn vốn vay có khả năng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hoạt động SXKD
nhất là vốn để đáp ứng cho các nhu cầu của dự án đầu tư có quy mô lớn, thời gian
dài. Nguyên tắc cơ bản mà doanh nghiệp phải thực hiện khi sử dụng nguồn vốn này
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
là phải sử dụng đúng mục đích, và chứng minh được tính hiệu quả của dự án, phải
có tài sản đảm bảo và phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đầy đủ và đúng thời hạn. Sử dụng
có hiệu quả nguồn vốn vay tín dụng trong giới hạn cho phép của hệ số nợ sẽ góp
phần phân tán bớt rủi ro trong hoạt động SXKD. Tuy nhiên, khi sử dụng nguồn
vốn này cần đánh giá, phân tích kỹ lưỡng tình hình tài chính cũng như đặc điểm
của từng nhu cầu nhằm đạt hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng lệ thuộc quá nhiều
vào vốn vay.
- Các nguồn vốn khác : Ngoài các nguồn vay chính trên, để đáp ứng yêu
cầu về tài trợ nguồn vốn ngắn hạn, doanh nghiệp cũng có thể vay vốn từ một số
nguồn như :
• Tín dụng thương mại : Đây là một hình thức quan trọng trong việc đáp
ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Bản chất của hình thức này chính là
việc chiếm dụng vốn hợp pháp của người khác trong một khoảng thời gian nhất
định. Nó xuất phát từ việc doanh nghiệp nhận được hàng hoá hoặc dịch vụ của nhà
cung cấp nhưng lại chưa phải trả tiền ngay, do vậy doanh nghiệp có thể sử dụng số
tiền phải trả đó như một nguồn vốn để tài trợ trong ngắn hạn. Quy mô của nguồn
vốn này phụ thuộc vào giá cả và số lượng của hàng hoá hay dịch vụ mà người bán
đã cung cấp. Sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại có ưu điểm là đơn giản,
thuận tiện. Nếu người cung cấp là bạn hàng quen biết thì khả năng đánh giá rủi ro

có lạm phát, giá cả thường xuyên biến động, do đó phải thường xuyên điều chỉnh
các loại vật tư hàng hoá theo hệ số trượt giá trên thị trường. Việc thực hiện bảo
toàn vốn trong doanh nghiệp cần chú ý các vấn đề cơ bản sau:
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Không để vốn kinh doanh bị thất thoát trong quá trình tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh như TSCĐ không sử dụng được do hư hỏng trước thời
hạn, vốn ứ đọng trong sản xuất do không tiêu thụ được sản phẩm, mất mát vật tư,
hàng hoá, vốn bị khách hàng chiếm dụng trong thanh toán quá nhiều.
+ Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nguyên tắc
cơ bản để bảo toàn vốn là số vốn cuối kỳ luôn phải lớn hơn hoặc bằng số vốn đã bỏ
ra đầu kỳ. Chỉ khi thực hiện được điều này vốn của doanh nghiệp mới không bị mất
đi và doanh nghiệp mới có thể tái sản xuất giản đơn quá trình sản xuất tiếp theo.
+ Trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, giá cả hàng hoá thay đổi
phải có biện pháp điều chỉnh tăng nguồn vốn để duy trì khả năng sản xuất hiện tại.
Nội dung của công tác bảo toàn vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
bao gồm việc bảo toàn vốn cố định và bảo toàn vốn lưu động. Do đặc điểm luân
chuyển vốn chậm, các loại TSCĐ là quan trọng, thiết yếu trong hoạt động sản xuất
kinh doanh nên bảo toàn và phát triển vốn cố định bao gồm cả việc bảo toàn về mặt
giá trị.
2.2- Sự cần thiết và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Mỗi doanh nghiệp để thực hiện tốt mục đích kinh doanh của mình phải
thực hiện quá trình kinh doanh có hiệu quả. Trong đó, yếu tố tác động có tính chất
quyết định nhất đến hiệu quả kinh doanh là hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp. Một đồng vốn bỏ ra phải có khả năng sinh lời, đây là vấn đề cốt yếu, liên
quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì thế tổ chức và sử
dụng vốn có hiệu quả là một yêu cầu khách quan đối với quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nói một cách cụ thể hơn, việc tăng cường công tác tổ
chức và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp xuất phát từ những
lý do chủ yếu sau :

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
giúp gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong hiện tại mà nó còn tạo lập cơ sở
vững vàng để thu lợi nhuận trong tương lai, tạo sự phát triển lâu dài cho doanh
nghiệp. Đó cũng chính là điều kiện nâng cao mức sống cho người lao động, tăng
các khoản nộp Ngân sách cho Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất
nước.
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp không
những đem lại hiệu quả thiết thực, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp mà nó còn ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
2.3- Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn.
3.3.1- Vốn kinh doanh :
- Chỉ tiêu vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ :
Vòng quay toàn bộ
vốn

=
Tổng mức luân chuyển vốn
Vốn sản xuất kinh doanh trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn sản xuất kinh doanh bình quân trong kỳ
quay được bao nhiêu vòng, từ đó có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản và
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
- Tỷ suất lợi nhuận tổng vốn :
Tỷ suất lợi nhuận
vốn
=
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Vốn sản xuất kinh doanh bình quân
trong kỳ
Là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn, phản ánh một đồng vốn
bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.

Chỉ tiêu này thể hiện cứ một đồng vốn cố định bình quân bỏ ra sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Chú ý khi sử dụng chỉ tiêu này cần lưu ý là tử số chỉ tính những lợi nhuận
sau thuế có sự tham gia trực tiếp của TSCĐ tạo ra, vì thế cần phải loại ra những
khoản thu nhập khác như lãi từ hoạt động tài chính, lãi do vốn góp liên doanh, lãi
khác, vì những khoản lãi này không có sự tham gia của vốn cố định.
- Hệ số hao mòn vốn cố định :
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hệ số hao mòn vốn cố
định
= GTCL của TSCĐ vào thời điểm
kiểm tra
NG của TSCĐ vào thời điểm kiểm
tra
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn cố định còn phải thu hồi để bảo toàn vốn
và phản ánh hiện trạng về năng lực vốn và năng lực sản xuất của đơn vị tại thời
điểm kiểm tra.
Trên đây là những chỉ tiêu quan trọng mà các doanh nghiệp dùng để
đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định. Nhưng trong điều kiện hiện nay
của nền kinh tế thì chỉ tiêu “Hiệu quả sử dụng vốn cố định” được coi là chỉ tiêu
quan trọng nhất để đánh giá chất lượng và hiệu quả đầu tư cũng như việc sử dụng
vốn cố định của doanh nghiệp. Bởi mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh đều phải hướng tới lợi nhuận tối đa. Việc hoàn thành kế hoạch sản
lượng phải được đặt trên cơ sở hoàn thành kế hoạch lợi nhuận.
2.3.3- Vốn lưu động :
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động
không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất từ khâu
nguyên vật liệu, dự trữ, sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Do đó, các doanh
nghiệp đã chú trọng nhiều đến việc sử dụng vốn lưu động như thế nào cho có hiệu

trong kỳ
Doanh thu bình quân một ngày trong
kỳ
Chỉ tiêu này đo lường khả năng thu hồi vốn thanh toán của doanh nghiệp.
Đồng thời phản ánh công tác quản lý các khoản phải thu và các chính sách tín dụng
của doanh nghiệp đối với khách hàng của mình.
 Số vòng quay vốn vật tư hàng hoá :
Số vòng quay hàng
tồn kho
=
Giá vốn bán hàng
Số dư bình quân hàng tồn kho
Chỉ số này thể hiện tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho trong kỳ. Chỉ số
này càng lớn tức là thời gian hàng tồn lại kho ít và luân chuyển nhanh theo vòng
quay của vốn.
Các hệ số sinh lời :
Đây là thước đo được đánh giá hàng đầu dùng để đánh giá hiệu quả và tính
sinh lời của vốn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Là kết quả của hàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp.
Sau đây là một số các hệ số sinh lời :
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
 Tỷ suất doanh lợi doanh thu :
Tỷ suất doanh lợi
doanh thu
= Lợi nhuận thuần
Doanh thu thuần
Đây là chỉ tiêu phản ánh một đồng doanh thu thuần từ việc tiêu thụ hàng hoá
trong kỳ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
 Tỷ suất doanh lợi tổng vốn :

2.4.1- Những nhân tố mang tính chất khách quan :
- Các biến động của nền kinh tế :
Nhà nước với chức năng quản lý và điều tiết nền kinh tế của mình đã đưa ra
các luật kinh tế và các chính sách kinh tế nhằm tạo môi trường và hành lang cho
các doanh nghiệp tiến hành phát triển sản xuất kinh doanh mà không vi phạm đến
những quy định của pháp luật. Bất kỳ một sự thay đổi nào trong các chế độ chính
sách của Nhà nước cũng gây ra những tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp
hoàn toàn chủ động trong việc tạo nguồn, tìm kiếm bạn hàng cũng như thị trường
tiêu thụ sản phẩm. Những chính sách quản lý của Nhà nước nhìn chung ngày càng
tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh
nghiệp phát huy khả năng sáng tạo trong quản lý và điều hành hoạt động sản xuất
kinh doanh.
- Các chính sách của Nhà nước :
Một doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường luôn gắn liền hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình với sự vận động của nền kinh tế. Khi nền kinh tế có
biến động thì hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng. Do vậy, mọi
nhân tố tác động đến việc tổ chức và huy động vốn của doanh nghiệp đến từ bên
ngoài đều ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đó. Những tác
động đó có thể xảy ra khi nền kinh tế có lạm phát, sức ép của môi trường cạnh
tranh gay gắt, những rủi ro mạng tính hệ thống mà doanh nghiệp không tránh khỏi,
sức mua của đồng tiền giảm sút dẫn đến sự tăng giá của vật tư hàng hoá. Trong tình
hình đó nếu doanh nghiệp không có biện pháp điều chỉnh kịp thời sẽ làm cho vốn
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mất dần theo tốc độ trượt giá của đồng tiền.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.4.2- Các nhân tố mang tính chất chủ quan :
- Công nghệ và trình độ lao động :
Các đặc điểm về mặt kỹ thuật có tác động đến một số chỉ tiêu quan trọng
phản ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định như : Hệ số đổi mới máy móc thiết bị, thời

vốn một cách lãng phí nhất là vốn lưu động trong quá trình mua sắm, dự trữ như :
mua vật tư không phù hợp với quy trình sản xuất, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật
và chất lượng quy định, không tận dụng hết các loại phế liệu, phế phẩm. Những vấn
đề này cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Trình độ quản lý, tổ chức sản xuất của doanh nghiệp :
Trình độ quản lý của doanh nghiệp cũng quyết định đến tình hình sản xuất
kinh doanh của một doanh nghiệp. Nếu trình độ quản lý còn yếu kém, sẽ dẫn đến
tình trạng hoạt động thua lỗ kéo dài, dẫn đến thâm hụt vào vốn kinh doanh sau mỗi
chu kỳ sản xuất. Để có hiệu quả cao thì mỗi doanh nghiệp cần phải có một bộ phận
quản lý tổ chức riêng cho mình, phải phù hợp với từng loại hình sản xuất, phải diễn
ra nhịp nhàng, ăn khớp, chi phí quản lý thấp . Bên cạnh đó phải có sự phân công
hợp lý, không ngừng nâng cao tay nghề cho cán bộ quản lý cũng như công nhân
viên bằng cách tổ chức các lớp học hoặc gửi đi đào tạo,
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh :
Đây là đặc điểm quan trọng gắn liền với hiệu quả sử dụng vốn. Cụ thể, nếu
chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn, vòng quay vốn nhanh, doanh nghiệp sẽ thu hồi
vốn nhanh nhằm tái tạo mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu chu
kỳ kéo dài sẽ là một gánh nặng gây ứ đọng vốn, tăng các khoản lãi vay phải trả,
làm giảm hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm về sản phẩm :
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sản phẩm chứa đựng yếu tố chi phí cũng như đem lại doanh thu cho doanh
nghiệp. Do đó, nó quyết định đến lợi nhuận đạt được của doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp sản xuất những sản phẩm thông dụng, chi phí đầu tư không cao, dễ mua sắm
đổi mới thiết bị dây truyền công nghệ, dễ dàng tiêu thụ cạnh tranh trên thị trường
thì hiệu quả sử dụng vốn sẽ cao hơn so với những sản phẩm đòi hỏi công nghệ sản
xuất phức tạp, chi phí đầu tư lớn, thị trường tiêu thụ hẹp.
Trên đây là một số nguyên nhân ảnh hưởng đến công tác tổ chức và sử dụng
vốn hiệu quả trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu xem xét

cấu tài sản hiện có của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng
TSCĐ theo chiều sâu bằng cách tiến hành hoàn chỉnh kỹ thuật sản xuất và hiện đại
hoá TSCĐ. Lựa chọn các phương pháp tính khấu hao và mức khấu hao thích hợp.
Thường xuyên đánh giá lại tài TSCĐ giúp bộ phận quản lý nắm bắt được tình hình
biến động của vốn cố định và từ đó có các biện pháp điều chỉnh cho thích hợp.
Ngoài ra, công ty cần có phương án thanh lý tài sản hoạt động có hiệu quả,
- Đối với vốn lưu động, cần lựa chọn đơn vị cung ứng, tạo quan hệ tốt
nhằm giảm bớt lượng nguyên vật liệu tồn kho và đi trên đường. Tính toán, cung
cấp đầy đủ số lượng nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất, giải quyết kịp thời
những Nguyên vật liệu ứ đọng để thu hồi vốn. Tổ chức tốt quá trình sản xuất và
đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành hạ, đồng thời mở
rộng được thị trường tiêu thụ, hạn chế sản phẩm tồn kho, tăng nhanh vòng quay của
vốn lưu động.
- Làm tốt công tác thanh toán nợ, chủ động phòng ngừa rủi ro kinh
doanh. Doanh nghiệp cần chủ động thanh toán các khoản công nợ, thanh toán tiền
hàng, hạn chế tình trạng bán hàng không thu được tiền, vốn bị chiếm dụng khiến
cho khi phát sinh nhu cầu vốn, doanh nghiệp phải đi vay ngoài kế hoạch, làm phát
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sinh chi phí, Doanh nghiệp cần phải mua bảo hiểm, lập quỹ dự phòng tài chính,
để có thể bù đắp lượng vốn bị thiếu hụt, mất mát khi xảy ra rủi ro.
- Phát huy tích cực vai trò của công tác quản lý tài chính trong việc
quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp ở tất cả các khâu trong quá trình sản
xuất, sử dụng vốn một cách linh hoạt để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh.
Trên đây là một số biện pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh việc tổ chức và sử dụng
vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung. Trong thực tế, do đặc điểm
khác nhau giữa các doanh nghiệp trong từng ngành, từng lĩnh vực cũng như trong
toàn bộ nền kinh tế, nên mỗi doanh nghiệp cần căn cứ vào đặc điểm của mình để
đưa ra các phương hướng, biện pháp cụ thể để nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng

đưa vào dây truyền sản xuất; đồng thời tiến hành sửa chữa , keo dài thời gian sử
dụng đối với máy móc cũ, dần ổn định dây chuyền công nghệ, ổn định mặt hàng
sản xuất. Hàng năm Xí nghiệp đều có tổ chức học tập, đào tạo, đào tạo lại để nâng
cao tay nghề cho công nhân trực tiếp sử dụng máy móc thiết bị nhằm nâng cao
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
năng suất lao động và sử dụng tối đa công suất máy móc. Đến nay, tuy số công
nhân sản xuất không tăng song sản lượng năm sau cao hơn năm trước: trước đây,
năng suất của Xí nghiệp chỉ đạt 500- 800 triệu trang in một năm; nay số lượng
trang in đã được nâng lên trên 1 tỷ trang in một năm, vơi công suất khoảng 8000-
12000 trang trong một giờ
Năm 1993, theo quyết định số 75/QĐ ngày 10/3/1993 của TTXVN, Xí
nghiệp In I -TTXVN là một doanh nghiệp Nhà nước sản xuất kinh doanh hạch toán
độc lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở ngân hàng và hoạt động theo
phương thực quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa. Là một doanh nghiệp nhà nước trực
thuộc quản lý của TTXVN
1.2- Cơ cấu tổ chức sản xuất, tổ chức bộ máy của Xí nghiệp.
1.2.1- Cơ cấu tổ chức sản xuất
Hiện nay, Xí nghiệp in I TTXVN tổ chức bộ máy quản lý theo mô
hình trực tuyến tham mưu, đứng đầu là giám đốc, dưới có một phó giám đốc, một
kế toán tưởng, các phòng ban và phân xưởng.
Các phòng ban Các phân xưởng
1. Phòng kế hoạch sản xuất 1.
Phân xưởng in I
2. Phòng hành chính tổ chức 2.
Phân xưởng in II
3. Phòng tài vụ 3. Phân xưởng chế
bản
4. phòng vi tính 4. Phân xưởng sửa
chữa cơ điện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status