2
Luật sở hữu trí tuệ
MỤC LỤC
I. NGUYÊN TẮC NỘP ĐƠN ĐẦU TIÊN:
Việt Nam hiện đang áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, nộp đơn trước (first to
file) trong việc đăng ký bảo hộ nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ thể nộp đơn sớm hơn
các chủ thể khác đối với cùng một đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp như sáng
chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, Quyền sở hữu công nghiệp
và quyền tác giả tồn tại nhiều sự khác biệt, một trong những điểm khác biệt này được
3
Luật sở hữu trí tuệ
thể hiện ở chỗ trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp tồn tại những trường hợp, các tác giả
hoàn toàn độc lập, không có mối liên hệ gì với nhau nhưng có thể sáng tạo ra cùng một
đối tượng sở hữu công nghiệp trùng nhau hoặc tương tự nhau. Chính vì thế, đối với sở
hữu công nghiệp pháp luật nước ta quy định một nguyên tắc rất đặc thù, đó là nguyên
tắc nộp đơn đầu tiên nhằm giải quyết vấn đề này.
Theo Điều 90 Luật SHTT sửa đổi bổ sung năm 2009 thì:
• Theo nguyên tắc này trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng
hoặc tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác
biệt đáng kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu
dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất
trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
• Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn
hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản
phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của
cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ
trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có
ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều
kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
5
Luật sở hữu trí tuệ
Bản chất của bảo hộ sáng chế là thừa nhận và bảo hộ về mặt pháp lý các độc quyền
của chủ sở hữu sáng chế trong suốt thời hạn bảo hộ sáng chế. Trong đó quan trọng nhất
chính là độc quyền ngăn cấm người khác khai thác sang chế khi không được sự cho
phép của chủ sở hữu sáng chế. Do đó, mỗi gải pháp kỹ thuật chỉ có thể được cấp một
Bằng độc quyền sáng chế giải pháp hữu ích.
Ở Việt Nam việc bảo hộ sáng chế áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Trong
trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký bảo hộ cùng một sáng chế
( vì có thể có 2 người trở lên cùng tìm ra một giải pháp kỹ thuật) thì pháp luật Việt
Nam áp dụng nguyên tắc “ nộp đơn đầu tiên – first to file”. Theo đó, văn bằng bảo hộ
sang chế chỉ có thể được cấp cho đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm
nhất trong số các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ. Trong trường hợp có nhiều
đơn đăng ký cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày
ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ có tể được cấp cho một
đơn duy nhất trong số các đơn đó theo sự thỏa thuận của tất cả những người nộp đơn;
nếu không thỏa thuận được thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.Vấn
đề này được qui định cụ thể tại các khoản 1 và 3 điều 90 Luật SHTT sửa đổi bổ sung
năm 2009.
Trong việc xác lập quyền Sở hữu công nghiệp đối với sang chế ở mỗi quốc gia lại
đưa ra một nguyên tắc khác nhau. Ví dụ, pháp luật một số quốc gia khác như Hoa Kỳ,
6
Luật sở hữu trí tuệ
Philippine không áp dụng nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên” mà áp dụng nguyên tắc
“người sang chế đầu tiên – first to invent”.
b/ Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên trong đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp:
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng
đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với
thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
• Hình dáng bên ngoài của sản phẩm là phần sản phẩm có thể nhận biết được
dáng công nghiệp cho cùng một kiểu dáng công nghiệp, nếu các kiểu dáng công nghiệp
này đáp ứng được điều kiện bảo hộ thì đơn hợp lệ nào nộp sớm nhất sẽ được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền xem xét, các đơn nộp muộn hơn sẽ bị từ chối.
Quyền đối với kiểu dáng công nghiệp luôn mang tính độc quyền. Chủ sở hữu kiểu
dáng công nghiệp được độc quyền sử dụng kiểu dáng công nghiệp mà họ sở hữu.
Chính vì vậy, một kiểu dáng công nghiệp không thể cùng một lúc có hai chủ sở hữu.
Điều này dẫn đến tình trạng nếu nhiều chủ thể cùng có nguyện vọng xin cấp văn bằng
bảo hộ cho một kiểu dáng công nghiệp thì chỉ có một văn bằng bảo hộ được cấp mà
thôi. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ dựa vào nguyên tắc nộp đơn đầu tiên để tiến
hành cấp văn bằng bảo hộ.
Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên không cho phép những người có kiểu dáng công
nghiệp được quyền chậm trễ trong việc nộp đơn đăng ký. Nguyên tắc trên có thể được
coi như một công cụ tạo nên sức bật thúc đẩy việc nộp đơn được tiến hành nhanh
chóng và hiệu quả. Điều này đồng nghĩa với việc đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu,
8
Luật sở hữu trí tuệ
sáng tạo trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng.
Trong trường hợp có nhiều đơn dăng ký cùng yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ đối với
kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau, mà đáp ứng các
điều kiện để cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày nộp đơn ưu tiên hoặc ngày nộp đơn
sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ có thể được cấp cho một đơn duy nhất trong số các
đơn đó theo sự thỏa thận của tất cả những người nộp đơn, nếu khong thỏa thuận được
thì tất cả các đơn đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
(Nguồn /> Như vậy, nếu có nhiều người nộp đơn độc lập đăng ký kiểu dáng công nghiệp trùng
hoặc không khác biệt đáng kể với nhau và các đơn đó được nộp cùng thời điểm thì
những người nộp đơn đó phải tiến hành bàn bạc với nhau để thống nhất quyết định
chọn một trong số các đơn đó cho cơ quan thẩm quyền xem xét, còn những đơn còn lại
rút bỏ. Điều này dẫn đến một kết quả là chủ đơn được chọn đẻ xem xét, khi đáp ứng đủ
các điều kiện bảo hộ thì được cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp. Dĩ nhiên
người được cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp phải chia sẻ quyền mà Bằng
nhiều lần, mỗi lần 10 năm.
Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu có một ý nghĩa hết sức to lớn về mặt pháp lý và
kinh tế bởi lẽ đăng ký nhãn hiệu góp phần bảo vệ chủ sở hữu trước tình trạng sản xuất
hàng giả, hang nhái và tạo điều kiện cho chủ thể yên tâm đầu tư vào việc sản xuất kinh
doanh nâng cao chất lượng của hàng hóa dịch vụ do đó người tiêu dung cũng được
hưởng lợi.
Về nguyên tắc Việt Nam áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên. Cụ thể khi có hai
hay nhiều chủ thể cùng nộp đơn xin đăng ký bảo hộ cùng một nhãn hiệu hàng hóa hay
các nhãn hiệu hàng hóa tương tự nhau có khả năng gây nhằm lẫn cho người tiêu dùng
và cơ quan đăng ký phải lựa chọn việc cấp đăng ký cho ai có đơn nộp đầu tiên.
Theo nguyên tắc này thì cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp văn bàng bảo hộ cho người nộp
đơn đầu tiên.
Cụ thể tại khoản 2 Điều 90 Luật SHTT sửa đổi bổ sung năm 2009 “trong trường
hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương
tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hay tương tự
với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu
trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho
nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số
những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ”.
Ví dụ:
“
Công ty cổ phần tài chính và bất động sản Vincon đã bị xử phạt 14.000.000
đồng đối với hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn
hiệu
“
Vincom
”
của công ty cổ phần Vincom. Cụ thể,
công ty này đã sử dụng dấu hiệu
“
(2) Vùng lãnh thổ nơi hàng hoá dịch vụ mang nhãn hiệu này được bán ra được cung
cấp,
(3) Doanh thu bán hàng và chất lượng của hàng hoá dịch vụ được bán ra hay được
cung cấp,
(4) Thời gian sử dụng liên tục liên tục nhãn hiệu này,
(5) Danh tiếng của hàng hoá dịch vụ khi sử dụng nhãn hiệu này,
(6) Số quốc gia bảo hộ nhãn hiệu đó.
(Nguồn />option=com_content&view=article&id=305%3Abo-h-shtt-ti-vn-nhan-
12
Luật sở hữu trí tuệ
hiu&catid=40%3Afiling-requirements&lang=en)
II. NGUYÊN TẮC PHÁT MINH ĐẦU TIÊN VÀ NGUYÊN TẮC SỬ
DỤNG ĐẦU TIÊN CỦA HOA KÌ:
Có thể nói, Mỹ là một quốc gia có chế độ bảo hộ nghiêm ngặt và khá phức tạp đối
với tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp. Ở Mỹ tồn tại hai hệ thống pháp luật nói
chung đó là luật liên bang và luật tiểu bang. Tuy nhiên, hầu hết các vấn đề liên quan
đến sở hữu trí tuệ thuộc quyền tài phán của liên bang và luật áp dụng cho những vấn đề
liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng hầu hết là luật liên bang.
Về vấn đề xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghệp được đặt ra từ rất lâu ở Mỹ
với đạo luật đầu tiên về đăng ký nhãn hiệu và cấm vi phạm nhãn hiệu năm 1870. Khác
với Việt Nam và nhiều nước theo hệ thống luật lục địa áp dụng nguyên tắc “first to
file” ( nộp đơn đầu tiên) trong xác lập quyền sở hữu công nghiệp, thì Mỹ áp dụng
nguyên tắc “first to invent” (sáng tạo trước) đối với sáng chế và “ first to use” (sử dụng
trước) đối với nhãn hiệu.
a/ Sáng chế (Nguyên tắc phát minh đầu tiên):
Đối với sáng chế, pháp luật Mỹ quy định: người nào chứng minh được mình là
người tạo ra sang chế đầu tiên sẽ được cấp văn bằng bảo hộ chứ không phải là của
người đầu tiên nộp đơn xin cấp bằng, người nộp đơn đăng ký sáng chế phải là tác giả
sáng chế; sau khi nộp đơn người này có thể chuyển nhượng quyền sở hữu đơn cho
doanh nghiệp hoặc tổ chức nơi người đó đang làm việc. Quá trình xem xét đơn yêu cầu
invention registration filed on or after that date.
(Việc sửa đổi, bổ sung bởi các tiểu bang nên có hiệu lực 1 năm sau ngày ban hành Đạo
luật này và nên được áp dụng đối với bất kỳ yêu cầu nào về việc đơn đăng ký phát
minh được làm theo pháp luật trong hoặc sau ngày khoảng thời gian này.”
Derivation proceedings : Thủ tục tố tụng
‘‘(a) INSTITUTION OF PROCEEDING.—…. Any such petition (đưa đơn, nộp
đơn) may only be filed within 1 year after the first publication of a claim (khẳng định)
14
Luật sở hữu trí tuệ
to an invention that is the same or substantially (về căn bản) the same as the earlier
application’s claim to the invention, shall be made under oath (lời thề), and shall be
supported (ủng hộ) by substantial (có thật) evidence….
(“Cơ quan tố tụng:…. Bất cứ việc nộp đơn nào cũng chỉ có thể diễn ra trong phạm
vi 1 năm sau khi việc khẳng định về phát minh đó được công bố lần đầu tiên cái mà
cùng bản chất hay về căn bản là cùng một khẳng định đối với phát minh của việc chấp
nhận đơn sớm hơn, nên được thực hiện dưới một lời tuyên thệ, và nên được ủng hộ bởi
những bằng chứng có thật…”.)
b/ Nhãn hiệu (Nguyên tắc sử dụng đầu tiên):
Nhãn hiệu tại Mỹ cũng được xem là những dấu hiệu (symbol/ Sign) để phân biệt
dịch vụ hoặc (Và) sản phẩm của các bên với nhau. Nhãn hiệu được bảo hộ trên cơ sở
của việc sử dụng rộng rãi và đăng ký độc quyền.
Theo Luật Nhãn hiệu Hoa kỳ, quyền sở hữa đối với nhãn hiệu được tự động sáng
lập theo luật án lệ theo phạm vi từng bang khi nhãn hiệu đó được sử dụng trong kinh
doanh hoặc được người tiêu dùng biết đến một cách rộng rãi nếu nhãn hiệu không có
tính phận biệt tự thân (mang tính chất mô tả hoặc chỉ bao gồm chữ cái, chữ số đơn
thuần ). Nói cách khác ở Mỹ không nhất thiết phải đăng ký nhãn hiệu đề nhãn hiệu
được bảo hộ. Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiêu hàng hóa theo Luật Lanham là nguyên tắc
sử dụng trước (first to use system). Theo nguyên tắc này bất kì ai sử dụng trước nhãn
hiệu hàng hóa đểu có quyền đăng kí nhãn hiệu hàng hóa.
Ở Hoa Kì có bảo hộ nhãn hiệu tại mỗi bang và bảo hộ nhãn hiệu tại liên bang. Mỗi
người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu
trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm
lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm,
dịch vụ trùng hay tương tự với nhau
- Không nhất thiết phải đăng ký
nhãn hiệu đề nhãn hiệu được bảo hộ. Có
nghĩa là trong trường hợp có nhiều đơn
của nhiều người khác nhau đăng ký các
nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức
gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản
phẩm, dịch vụ trùng hay tương tự với
16
Luật sở hữu trí tuệ
hoặc trường hợp có nhiều đơn của của
cùng một người đăng ký các nhãn hiệu
trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ
trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được
cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có
ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm
nhất trong số những đơn đáp ứng các
điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.
- Ngày nộp đơn sớm nhất là một
tiêu chí quan trọng trong việc xác lập
quyền sở hữu trí tuệ.
- Đối tượng sở hữu công nghiệp
phải thiết lập quyền bảo hộ đối với nhãn
hiệu của mình một cách sớm nhất có thể.
- Việc đăng kí một nhãn hiệu tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền là để
đảm bảo cho nhãn hiệu của mình không
1. Giáo trình luật sở hữu trí tuệ trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh;
2. Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11;
3. Luật sáng chế Liên bang Mỹ;
4. Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp.