I-MỞ ĐẦU
1-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
-Giáo dục có vai trò rất quan trọng. Nhìn vào nền giáo dục của nước nàh, ta thấy
được trình độ phát triển của nước đó. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng và
đầu tư hợp lý cho ngành giáo dục. Việc thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đào tạo là đào
tạo thanh thiếu niên thành những con người mới xã hội chủ nghĩa nhằm kế tục sự
nghiệp của Đảng, của dân tộc và xây dựng nhà nước vững mạnh có ý nghĩa chiến lược
đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ đem lại lợi ích trước mắt mà còn đảm bảo cho tương
lai tươi sáng của dân tộc, đảm bảo cho sự hàng mạnh của đất nước. Sự nghiệp giáo
dục của ta luôn đặt lên vị trí hàng đầu như Bác Hồ kính yêu đã dạy:
“Vì lợi ích mười năm trồng cay
Vì lợi ích trăm năm trồng người”
Vậy văn hay nhưng chữ phải tốt. Đúng vậy, một bài văn dù có hay và sinh động
đến đâu, muốn thu hút được tình cảm người đọc thì phải viết đúng, đẹp vì thế nó đóng
góp một phần rất quan trọng.
Ngày xưa, Nguyễn Văn Siêu – một danh nhân văn hoá nổi tiếng, có học rộng tài
cao ở nước ta, sau hai lần đi thi đều bị đánh tụt xuống không được xếp đỗ vào bậc cao
nhất chỉ vì viết chữ quá xấu. Hay Cao Bá Quát cũng nhiều lần khổ sở vì chữ viết của
mình quá xấu. Qua đó tôi thấy viết đúng đẹp có tầm quan trọng nhất là ở bậc tiểu học
các em còn nhỏ dễ uốn nắn”Nét chữ - nết người”. Câu nói đó gợi tả cả tính kiên trì cẩn
thận, chính xác và khoa học của một người.
Trong đó giáo dục bậc tiểu học là nền móng cho sự phát triển tiếp theo. Hơn nữa
học sinh lớp 1, 2 là những viên gạch đầu tiên xây nền móng phát triển của học sinh.
Trong phạm vi nghiên cứu “Nâng cao chất lượng dạy – học chính tả” đi đôi với
đọc và tính cách khác của học sinh. Nếu chữ viết mà ẩu xấu, viết sai dẫn đến hiểu
nghĩa sai đó là vấn đề cần thiết không thể thiếu được trong giáo dục.
1
Hơn nữa trong những năm học gần đây phòng Giáo dục và nhà trường đã quan
tâm chỉ đạo một cách thiết thực của chất lượng giáo dục lên cao, lấy đó làm cơ sở
đánh giá giáo dục toàn diện.
Là người giáo viên tối thấy việc nâng cao chất lượng dạy chính tả ở lớp 2 nói riêng
-Phương pháp thống kê.
-Phương pháp phân tích tổng hợp.
-Phương pháp hệ thống.
-Phương pháp gợi mở vấn đáp.
6-NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
-đề tài này giúp chúng ta tìm hiểu đánh giá việc rèn viết đúng, đẹp cho học sinh
lớp 2, giúp giáo viên tìm ra một số phương pháp dạy học mới có hiệu quả cao nhất.
-nâng cao chất lượng dạy học phân môn chính tả, đặc biệt là rèn viết đúng, mẫu
chữ mới, đúng chính tả, đẹp.
-Gây không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng, thoải mái nhưng hiệu quả.
-Phát huy được tính tích cực sáng tạo, kiên trì say mê cho học sinh khi học phân
môn này.
7-KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI:
Nộidung đề tài này gồm các phần như sau:
I-Mở đầu:
1-Lý do chọn đề tài.
2-Mục đích nghiên cứu.
3-Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4-Nhiệm vụ nghiên cứu.
5-Phương pháp nghiên cứu.
6-Những đóng góp mới của đề tài.
3
7-kết cấu của đề tài.
II-Nội dung
Gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
1-Sơ lược lịch sử của vấn đề.
2-Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
3 -Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng của việc dạy chính tả ở địa phương.
phương pháp dạy học. Ta cũng biết rằng ở tiểu học, mỗi môn đều góp phần vào việc
hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng trong công tác đào tạo
nhân cách con người của trẻ.
-Trường chúng tôi hàng năm đều có cuộc thi “Giữ vở sạch – viết chữ đẹp”. Đây là
một điều đáng mừng cho giáo viên và học sinh vì chúng tôi vừa rèn chữ viết cho chính
bản thân và còn hướng dẫn các em viết đúng, đẹp ở môn học chính tả, tập viết, rèn
chữ. Song công việc này thật không đơn giản chút nào đối với mỗi chúng ta những
người làm công tác giảng dạy nhất là đối với giáo viên tiểu học, vì các em học sinh
còn rất nhỏ nắm bắt chậm đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt tình, kiên trì, tận tâm chu
đáo đến từng đối tượng học sinh.
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY CHÍNH TẢ Ở ĐỊA PHƯƠNG.
1-Chương trình chính tả lớp 2 và cách dạy từng loại bài.
-Mỗi tuần 2 tiết, mỗi tiết 40 phút.
Tổng hợp cả hai học kỳ học sinh được học 62 bài chính tả.
-Trong 62 bài chính tả của sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 có 21 bài chính tả tập
chép, 41 bài chính tả nghe – viết.
a-Chính tả nghe – viết.
5
+Khi dạy bài chính tả nghe – viết, giáo viên cần chú ý các khâu dưới đây:
+Khâu luyện viết chữ khó:
Giáo viên và học sinh phát âm đúng: Cho học sinh viết bảng con chữ khó.
Cả lớp và giáo viên nhận xét sửa cho học sinh viết sai.
+Khâu đọc: (mỗi câu giáo viên thường đọc 3 lần) và đọc từng cụm từ cho học sinh
viết.
+Khâu chấm bài:
-Giáo viên chấm tại lớp 1/3 số bài, nhận xét chữa từng bài. Tuyên dương bài viết
đúng, đẹp.
-Các bài khác đem về nhà chấm.
+Khâu luyện tập:
-ở các bài chính tả lớp 2 (nghe viết hay nhìn sách) phần bài tập đều là phân biệt
trường chưa có đủ đồ dùng học tập như: còn thiếu bút, vở. Xuất phát từ tình hình thực
tế trên có ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em.
3-Khảo sát đầu năm:
Đây là một việc làm quan trọng không thể thiếu được khi nghiên cứu. Nhằm đánh
giá thực chất chất lượng lớp mình phụ trácg. Từ đó có biện pháp kịp thời đối với tưng
fkhía cạnh của kinh nghiệm. Hạnh chế thấp nhất những khuyết điểm tồn tại. Phát huy
những ưu điểm sẵn có làm cơ sở động lực để kinh nghiệm hoàn thành. Trước khi áp
dụng kinh nghiệm”Nâng cao chất lượng dạy chính tả” tôi tiến hành khảo sát với những
số liệu như sau:
Tổng số Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6
học sinh SL % SL % SL %
29 7 24 12 41 10 35
7
Qua kết quả trên cùng với thực trạng rèn vở sạch viết chữ đúng chính tả, viết đẹp
cho học sinh hiện nay tôi thấy đó là một vấn đề thật cần thiết và hết sức quan trọng cần
phải tiến hành ngay.
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
CHÍNH TẢ Ở LỚP 2.
1-Điều tra để nắm vững trình độ học sinh, phân loại các đối tượng theo năng
lực.
-Để nắm vững trình độ học sinh và dạy sát đối tượng đầu năm giáo viên phải có kế
hoạch rèn sửa lỗi chính tả cho học sinh trong từng giai đoạn học.
-Nhà trường tiến hành điều tra cơ bản chất lượng viết chính tả của học sinh qua
một số bài viết. Giáo viên thống kê số lỗi, ghi những lỗi mà học sinh hay mắc, để tổng
hợp chung lỗi của cả lớp, qua đó tiến hành phân loại học sinh theo năng lực để có kế
hoạch dạy học. Việc thống kê, phân loại học sinh cần phải cụ thể và đánh giá đúng
thực chất, đúng nguyên nhân dẫn đến viết sai chính tả. Học sinh lớp 2, các em còn nhỏ,
tốc độ viết chậm, viết còn sai sót và non kém.
+Ngoài việc thống kê các lỗi thường mắc về âm đầu, vần, dấu hỏi/dấu ngã. Cần
lưu ý thêm các trường hợp sau:
trong việc kiểm tra, uốn nắn học sinh ở các môn học khác.
-Dựa vào nguyên nhân mắc lỗi chính tả, người ta chia các lỗi thành hai loại cơ
bản:
+Thứ nhất: lỗi chính tả do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương.
+Thứ hai: lỗi chính tả do không hiểu biết đầy đủ các qui tắc chính tả.
Theo yêu cầu của chương trình chính tả lớp 2 mới là các em nghe viết đúng chính
tả một bài khoảng 40 đến 50 tiếng tốc độ viết 3 – 4 chữ/phút, viết không mắc quá 5
lỗi/bài. Vì vậy để khắc phục tình trạng trên, chúng ta cần phải có biện pháp hữu hiệu
để nâng cao chất lượng dạy học chính tả lớp 2.
9
3-Các biện pháp nâng cao chất lượng dạy chính tả:
a-Nắm vững trình độ học sinh, xây dựng kế hoạch giảng dạy, sử dụng linh
hoạt các biện pháp thực hành luyện tập.
-Muốn xây dựng kế hoạch giảng dạy và học tập chính ntả phải đảm bảo những
nguyên tắc sau:
+Đặt ra nội dung rèn luyện từ dễ đến khó.
-Nội dung luyện tập phải két hợp thường xuyên, liên tục, có kiểm tra đánh giá
phân loại.
-Dựa vào những qui định trên tôi đã xay dựng kế hoạch sau:
*Giai đoạn 1: Từ tuần 2 đến tuần 17.
Nội dung yêu cầu:
-Khảo sát các lỗi, chấm dứt tình trạng viết thiếu chữ.
-Không còn hiện tượng viết không thành chữ.
-Không còn bài đánh sai dấu thanh.
-Chữ viết đúng, đủ nét, rõ ràng.
Biện pháp:
-Giáo viên hướng dẫn các em đọc đúng phát âm và ghi nhớ hình thức chữ viết,
cách cầm bút.
-Lưu ý hướng dẫn và viết mẫu cho học sinh yếu.
-Học sinh luyện thao tác viết để ghi nhớ được mặt chữ, rèn tư thế ngồi viết.
-Giữ vững tốc độ viết, rèn cách phát âm đúng. Viết hoa tên trường, tên dân tộc
đúng qui định.
-Đọc câu phân biệt biện pháp các từ ngữ có hình thức chính tả dễ lẫn.
-Nhắc nhở học sinh rèn viết các nét đúng đẹp.
-Uốn sửa ngay chữ viết sai và chú ý rèn tư thế ngồi viết.
-Biết viết hoa đúng qui định.
-Học sinh tự rút ra nhận xét để bước đầu hình thành qui tắc chính rả.
11
-Giáo viên cho học sinh tìm ngaòi bài đọc những tiếng có chứa âm vần dễ lẫn.
+Ví dụ 1: Khi dạy bài Chim Sơn ca và Bông cúc trắng.
-Khi giáo viên cho học sinh thực hành làm bài tập theo nhóm thi nhóm nào tìm
được nhiều tiếng bắt đầu bằng ch, tr như:
ch: chào mào, chích choè, chiền chiện
tr: cá trắm, cá trê, cá trôi
hay tìm từ ngữ chỉ vật hay việc.
-Có tiếng chứa vần uốc: tuốt lúa, chải chuốt
-Có tiếng chứa vần uốt: ngọn đuốc, vỉ thuốc
+Giáo viên cho học sinh đặt câu để phân biệt tiếng có chứa âm vần dễ lẫn.
+Ví dụ 2: Khi dạy bài:Chuyện quả bầu.
-Để học sinh biét sách viết hoa đúng qui định và viết hoa đúng tên các dân tộc
như: (Khơ mú, Thái, Tày, Nùng, Mường, Dao. H
,
mông, Ê đê, Ba na, Kinh)
-Giáo viên cho các em đọc và tìm trong bài những tên riêng, nhận xét cách viết.
-Giáo viên cho các em tập viết trên bảng con.
-Cuối giờ giáo viên cho học sinh thi viết đúng viết nhanh các tên riêng lên bảng.
Nhận xét và tuyên dương.
+Giáo viên tổ chức cho học sinh làm các bài tập cũng như uốn sửa các lỗi sai
thường xuyên kịp thời thì chắc chắn các em viết đúng hơn, đẹp hơn.
b-Tăng cường các hình thức luyện tập.
Qui định các “mẫu” để tạo ra một nền nếp, phong cách chung cho cả lớp. Tổ
chức các cuộc thi nhỏ như: thi tìm tiếng có âm đầu, vần, thanh cho trước, chữa lỗi viết
sai
+Việc thống kê lỗi chính tả của 29 học sinh như sau:
-Số học sinh viết sai âm đầu (l/n, s/x, g/gh): 3 em.
-Số học sinh viết sai vần (do đọc ngọng): 2 em.
-Số học sinh viết sai dấu thanh: 1 học sinh.
13
-Số học sinh viết thiếu nét hoặc thừa nét: 0.
4-Kết quả thực nghiệm:
-Qua việc dạy học chính tả theo những biện pháp nói trên, trong một thời gian
ngắn cùng với sự nỗ lực và cố gắng không ngừng của bản thân tôi đã thu được những
kết quả sau:
Tổng số Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6
học sinh SL % SL % SL %
29 19 66 8 28 2 6.9
Qua đợt thi viết chữ đẹp định kỳ lần 3, lớp 2B có 3 em dự thi. Trong đó các giải
đạt được như sau:
-Giải nhất 1 em.
-Giải nhì 1 em.
Như vậy trong dạy chính tả để bám sát đối tượng học sinh là một yếu tố cơ bản
rất quan trọng đóng góp sự thành công của tiết dạy. Là một giáo viên vùng phương ngữ
tôi nhận thấy phải trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và cần thiết mang tính
chuẩn mực để các em có đầy dủ năng lực để học tiếp lên các lớp trên và giao tiếp xã hội
một cách tự tin chững chạc.
III-KẾT LUẬN
Như đã trình bày ở trên, quan niệm viết đúng chính tả trong nhà trường là một tiến
trình, một sự hoàn thiện về tri thức của học sinh, không những về khía cạnh thuần ngữ
văn học mà còn về tri thức xã hội, văn hoá thẩm mỹ. Khi đã nói đén tri thức và trau dồi
tri thức thì đương nhiên không thể là công việc của ngày một ngày hai mà là quá trình