Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kỹ thuật trồng rau an toàn bằng công nghệ không dùng đất và ứng dụng mô hình vào sản xuất (Đề tài nghiên cứu khoa học) - Pdf 24

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kỹ thuật
trồng rau an toàn bằng công nghệ không
dùng đất và ứng dụng mô hình vào sản xuất
(Đề tài nghiên cứu khoa học)
1
PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1.Tính cấp thiết của đề tài
An toàn thực phẩm là một vấn đề quan trọng, cấp bách, nó xẩy ra từng
ngày, từng giờ, trong cuộc sống của chúng ta và nó cũng đã và đang được giải
quyết trong việc hoạch định chiến lược kinh tế và thực hiện chiến lược kinh tế
đối với mỗi quốc gia trên toàn cầu cũng như việc hội nhập kinh tế Quốc tế.
Nước ta, thực phẩm nói chung, rau an toàn nói riêng là một vấn đề bức xúc
hiện nay được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm.
Theo thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hằng năm trên thế
giới có trên 40.000 người chết trong tổng số 2 triệu người ngộ độc rau. Tại Việt
Nam, thống kê mới nhất của ngành y tế cho biết, trong vài năm gần đây, tính
riêng số người ngộ độc thực phẩm phải nhập viện cấp cứu do nguồn rau, củ thiếu
an toàn đã lên đến con số hơn 700 người. Trong khi đó, người tiêu dùng ngày
càng nhận thức rõ được tầm quan trọng của rau xanh trong bữa ăn hàng ngày, họ
ăn nhiều rau hơn, và nhu cầu về rau an toàn cũng lớn hơn. Nhưng các vùng sản
xuất rau lại chưa gây dựng được lòng tin cho người tiêu dùng, mặc dù họ sẵn
sàng trả giá cao gấp nhiều lần cho một sản phẩm rau an toàn.
Phú Thọ là tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn nhưng chủ yếu là đối núi,
diện tích rau càng ngày càng thu hẹp. Hiện nay chủ trương của tỉnh là phát triển
rau an toàn vì nông nghiệp bền vững, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về vấn
đề này. Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu ảnh hưởng của một số kỹ thuật trồng rau an toàn bằng công nghệ không
dùng đất và ứng dụng mô hình vào sản xuất”.
1.2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

nhất, đảm bảo độ an toàn cho các giống rau xà lách, rau thơm và rau cải ngọt.
1.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tiến hành trong 2 năm từ tháng 12/2009-12/2011
3
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Rau là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần thức ăn của con
người. Rau không những cung cấp các chất dinh dưỡng, chất khoáng cần thiết
mà còn có tác dụng phòng bệnh. Tuy nhiên rau chỉ thực sự đảm nhận được vai
trò trên khi rau có đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Rau có hàm lượng
caroten và vitamin A phong phú. Vitamin A có quan hệ mật thiết với thị lực, nếu
được cung cấp đủ vitamin A sẽ không bị bệnh quáng gà và xương cốt cũng phát
triển bình thường. Nó cũng là nhân tố cần thiết cho sự phát triên của da, nếu
không da sẽ khô và nhăn. Ngoài ra, còn giúp cho hệ thống hô hấp trên và tăng
cường sức đề kháng.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, do sự gia tăng nhanh chóng của khu
đô thị, khu công nghiệp đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất độc hại và
chất bẩn gây ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp ở các
khu vực lân cận trong đó có vùng sản xuất rau. Ngoài ra việc sử dụng phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách và hợp lý cũng dẫn đến sự tích luỹ trong
rau xanh dư lượng lớn các chất độc hại như NO
-
3,
các kim loại nặng, vi sinh vật
gây hại làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của cộng đồng. [7]
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của rau quả, từ năm 2006,
Nhà nước ta đã triển khai thực hiện sản xuất, kinh doanh rau sạch theo
hướng chuyên nghiệp hóa, mở rộng vùng canh tác. Quy hoạch, xây dựng

cầu. Cùng với sự phát triển kinh tế đã kéo theo hàng loạt các vấn đề có liên quan
đến môi trường xung quanh. Do sự phát triển mạnh mẽ của đô thị và công
nghiệp cũng như sự gia tăng lượng phân hoá học, thuốc trừ sâu trong nông
nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Trong
những năm gần đây, các tổ chức quốc tế như: FAO, WHO và các tổ chức về vấn
đề môi trường đã đưa ra các khuyến cáo, hạn chế việc sử dụng hoá chất nhân tạo
vào nông nghiệp, xây dựng các quy trình sản xuất theo công nghệ sạch, công
nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo … Ở thập kỷ 80,
lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trên các nước như: Indonesia,
Srilanca, Philippin đã gia tăng hơn 10% hàng năm. Tổ chức y tế thế giới đã ước
tính rằng mỗi năm có 3% nhân lực lao động nông nghiệp ở các nước đang phát
triển bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật.
Trong thập kỷ 90 ở Châu Phi hàng năm có khoảng 11 triệu trường hợp bị
ngộ độc. Ở Malaixia 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm, 15% người bị ngộ dộc
thuốc bảo vệ thực vật ít nhất một lần trong đời. Chính vì vậy, từ quy trình công
nghệ sản xuất rau truyền thống, các nước này đã cải tiến ứng dụng công nghệ
5
sản xuất rau an toàn và được phát triển mạnh, ngày càng được phổ biến rộng rãi
trên thế giới. [2]
Ở các nước phát triển công nghệ sản xuất rau được hoàn thiện ở trình độ
cao. Sản xuất rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới, trong dung dịch đã trở nên
quen thuộc. Phần lớn các loại rau quả trên thị trường đều có thể sản xuất theo
quy trình rau an toàn. Vì vậy rau an toàn là nhu cầu không thể thiếu trong mỗi
bữa ăn hàng ngày của các nước này. Những năm gần đây một số nước như
Singapore, Thái Lan, Hồng Kông…cũng đã phát triển mạnh trong công nghệ sản
xuất rau an toàn để phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Ở Đức có hàng
ngàn cửa hàng bán “rau xanh sinh thái” và “trái cây sinh thái” để phục vụ nhu
cầu rau quả cho người tiêu dùng.
2.2.2. Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam
Ở Việt Nam rau được sản xuất chủ yếu từ hai vùng:

cho phép . [9]
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, diện tích trồng rau cả nước đến năm
2005 là 644 nghìn ha, năng suất đạt 150 tạ/ha và sản lượng trên 9,5 triệu tấn. Đã
hình thành nên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng
bằng Sông cửu Long và Đông Nam Bộ. Phát triển nghề trồng rau không những
giải quyết tốt việc làm cho lực lượng lao động nông thôn, chuyển dịch cơ cấu
cây trồng mà còn nâng cao thu nhập cho người sản xuất rau ở các vùng sản xuất
thâm canh.
So với tổng diện tích và sản lượng rau hàng năm nói chung, rau an toàn
hiện nay chiếm chưa tới 10%. Nhu cầu đối với rau an toàn và khả năng sản xuất
rau an toàn là rất lớn. Nói đúng hơn, về lâu dài, trên thị trường chỉ được phép
cung ứng và tiêu thụ rau an toàn, tất cả diện tích trồng rau cần phải chuyển sang
sản xuất rau an toàn.
Bên cạnh việc triển khai mô hình sản xuất rau an toàn ngoài đồng ruộng
các cơ sở nghiên cứu còn triển khai một số mô hình rau an toàn trong nhà lưới,
đặc biệt mô hình trồng rau an toàn bằng phương pháp thuỷ canh của trường đại
học Nông nghiệp I. Tuy nhiên, mô hình này chỉ thích hợp với việc sản xuất nhỏ
và tiêu thụ tại chỗ không phù hợp với mô hình sản xuất có tính hàng hoá lớn, đa
dạng và giá thành cao.
2.3. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật trồng cây không dùng đất trên thế
giới và ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật trồng cây không dùng đất trên
thế giới
Kỹ thuật thủy canh đã được thực hiện từ nhiều thế kỷ trước ở vùng
Amazon, Babylon, Ai Cập, Trung Quốc và Ấn Độ. Người xưa đã sử dụng phân
bón hòa tan để trồng dưa chuột, dưa hấu và nhiều loại rau củ khác trên cát ở các
lòng sông. Sau đó, các nhà sinh lý thực vật bắt đầu trồng các loại cây trên những
môi trường dinh dưỡng đặc biệt vì mục đích thí nghiệm, họ gọi đó là "nuôi cấy
7
dinh dưỡng" (nutriculture). Thuật ngữ "thủy canh" (hydroponics) lần đầu tiên

Mehicô 120 Cà chua và dưa leo
Trung Quốc 120
Cà rốt, cà chua, hành lá, hành tây, dưa leo, dưa hấu, bó
xôi, rau diếp, dâu tây, đậu và hoa các loại
Ai Cập 60 Cà chua, dưa leo, ớt xanh và rau diếp
Brazil 50 Rau diếp, xà lách xoong
Kỹ thuật trồng cây không dùng đất là phương pháp mới đưa vào nước ta
khoảng mười năm gần đây nhưng trên thế giới nó ra đời và được áp dụng ngay
những năm đầu thế kỷ 20. Sau khi hệ thống cây trồng không dùng đất của
8
Gerick ra đời năm 1930, nhiều nước trên thế giới đã đi sâu vào nghiên cứu và
triển khai kỹ thuật này trên quy mô thương mại đặc biệt là các nước phát triển.
Nhật Bản là một trong những nước tiên phong trong kỹ thuật trồng rau thuỷ
canh. Từ rất lâu họ đã đẩy mạnh kỹ thuật thủy canh để sản xuất rau sạch. An toàn
thực phẩm là một trong những vấn đề mà người Nhật rất quan tâm, lo ngại và thận
trọng đối với những phụ gia thực phẩm hay thuốc trừ sâu nông nghiệp. Hơn nữa
vì diện tích đất canh tác quá hạn hẹp nên chính phủ Nhật rất khuyến khích và trợ
giúp kiểu trồng này, rau sạch sản xuất bằng phương pháp này giá đắt hơn 30% so
với rau trồng ở môi trường bên ngoài nhưng tiêu dùng vẫn chấp nhận.
Singapore là nước đầu tiên ở châu Á áp dụng kỹ thuật thủy canh trồng rau
trong dung dịch dinh dưỡng, không cần đất và không phải dùng phân hóa học có
hại để sản xuất rau với quy mô lớn. Hàng năm Singapore tiêu thụ lượng rau trị
giá 260 triệu USD.
Ixraen cũng áp dụng tiến bộ này khá thành công, chủ yếu là sản xuất rau
vụ đông và thời điểm khan hiếm rau.
Tại Đài Loan kỹ thuật trồng cây trong dung dịch được áp dụng rộng rãi
với các loại rau, dưa cho năng suất cao.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật trồng cây không dùng đất ở Việt Nam
Nước ta công nghệ trồng cây không dùng đất còn khá mới mẻ, chủ yếu tập
trung ở các thành phố lớn hay các Viện nghiên cứu.

Đến tháng 10 năm 1995 mạng lưới nghiên cứu và phát triển ờ Hà Nội,
TP.Hồ Chí Minh, Côn Đảo, Sở khoa học công nghệ và môi trường ở một số tỉnh
thành. Công ty Golden Garden & Gino, nhóm sinh viên Đại học KHTN Thành
Phố Hồ Chí Minh với phương pháp thủy canh vài loại rau thông dụng, cải xanh,
cải ngọt, xà lách… Phân viện công nghệ sau thu hoạch, Viện Sinh học nhiệt đới
cũng nghiên cứu và sản xuất. Nội dung chủ yếu là:
- Thiết kế và phối hợp sản xuất các nguyên liệu dùng cho thủy canh.
Nghiên cứu trồng các lọai cây khác nhau, cấy truyền từ nuôi cấy mô vào hệ thủy
canh trước khi đưa vào đất một số cây ăn quả khó trồng trực tiếp vào đất.
Triển khai thủy canh ở quy mô gia đình, thành thị và nông thôn. Kết hợp thủy
canh với dự án rau sạch của thành phố.
Năm 2002, đề tài “Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không cần
đất” được Bộ Khoa học và Công nghệ xét, đồng ý công nhận là đề tài cấp Nhà
nước. Đầu năm 2003, Phó Giáo sư Tiến sĩ Hồ Hữu An trúng thầu đề tài và tiến
hành nghiên cứu trên bốn loại rau quả: cà chua, dưa leo, xà lách và súp-lơ. Hơn
hai năm thử nghiệm, đề tài “Sản xuất rau an toàn bằng công nghệ cao không cần
đất” được nghiệm thu vào cuối năm 2005. Ưu điểm của công nghệ này là trồng
rau trên các giá thể có sẵn trong nước, không dùng đất nên không bị ô nhiễm các
kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật, vi sinh vật có hại Người trồng rau
cũng không phải thanh trùng nền đất như ở ngoài đồng, tiết kiệm tối đa chi phí
mua thuốc bảo vệ thực vật và công phun tưới, có khả năng tự điều chỉnh độ pH
và EC chính xác. Cây được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa, vi lượng trong
suốt quá trình sinh trưởng và phát triển nên các giống phát huy được tiềm năng
về năng suất và chất lượng. [1]
10
Từ tháng 9 năm 2006, phương pháp trồng rau thuỷ canh được thử nghiệm
tại Phân viện Sinh học Đà Lạt. Hệ thống thuỷ canh này không cần công chăm sóc
bởi hệ thống tự cung cấp nước tưới, chế độ dinh dưỡng cho cây rau hoàn toàn tự
động. Sau khi trồng thành công rau xà lách bằng phương pháp thuỷ canh, Phân
viện Sinh học Đà Lạt tiếp tục trồng khoai tây và cũng cho kết quả tốt.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, rau mầm là một trong những
món ăn bổ dưỡng nhất và hoàn thiện nhất đối với sức khỏe con người. Sự nảy
mầm làm tăng hàm lượng enzyme trong rau cao hơn 43 lần so với thức ăn bình
thường. Quá trình nảy mầm dưới tác dụng của ánh sáng sẽ tạo chất diệp lục.
Chất này giúp cơ thể khắc phục hiện tượng thiếu protein trong bệnh thiếu máu.
Sử dụng rau mầm trong bữa ăn hằng ngày, cơ thể chúng ta sẽ được cung cấp
lượng vitamin C, caroten A, vitamin B rất dồi dào, có lợi cho sức khỏe. Chất
antioxidants bảo vệ khỏi những hóa chất phóng xạ và độc hại, chúng giúp cơ thể
tự tẩy rửa, trừ khử, tái tạo và chữa lành mà trong rau mầm lại giàu antioxidants.
Antioxidant enzim cũng rất là quan trọng vì chúng là tinh chất cho sự hoạt động
của hệ miễn nhiễm và rau mầm là một trong những nguồn gốc tốt nhất cho sự
dinh dưỡng quan trọng này.
2.4. Tác hại của một số độc tố trong rau đối với cơ thể con người
Rau là nguồn thức ăn bổ dưỡng cung cấp chủ yếu khoáng chất, vitamin cho
cơ thể con người. Rau không thể thiếu được trong mỗi bữa ăn hàng ngày.Tuy
nhiên, hiện nay ở Việt nam tình trạng ngộ độc do ăn rau ngày càng gia tăng.
Người bị ngộ độc sẽ bị các hậu quả ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính tuỳ theo
nồng độ và loại độc tố tích luỹ trong cơ thể.
Theo thông kê của tổ chức lao động Quốc tế ILO, hàng năm trên thế giới
có khoảng 40.000 người chết trong tổng số 2 triệu người ngộ độc rau. Ở Việt
Nam con số này chiếm cũng không phải ít.
2.4.1. Tác hại của dư lượng NO
3
-
đối với sức khoẻ con người
Trong các loại lương thực, thực phẩm, nước uống được sử dụng hàng
ngày thì rau đưa vào cơ thể lượng nitrate lớn nhất.
Rau có dư lượng nitrat cao thì càng nhiều nguy cơ gây ngộ độc cho con
người. Khi xâm nhập vào cơ thể, nitrat chuyển hóa thành nitrit, một chất ngăn
cản việc hình thành và trao đổi oxy của hồng cầu trong máu, dẫn đến tình trạng

Ngoài ra, những người thường xuyên tiếp xúc với Cd có tỷ lệ ung thư tuyến tiền
liệt và ung thư phổi khá cao. Mức giới hạn tối đa cho phép hàm lượng Cd trong
rau tươi là ≤ 0,02 mg/kg rau tươi (theo Quyết định số 867/1998/QĐ-BYT của Bộ
Y tế).
Theo Nguyễn Thị Thìn (2001) toàn thế giới hàng năm thải ra môi trường
5000 tấn Cadimi. Ở mọi dạng tồn tại Cd rất nguy hiểm, chỉ cần một lượng rất
nhỏ 30-40mg cũng đủ gây nguy hiểm chết người.
- Arsenic trong rau vượt quá ngưỡng sẽ ãnh hưỡng đến sức khoẻ con
người, nhiều hơn sẽ gây ngộ độc. Nhiễm độc As trong thời gian dài làm tăng
nguy cơ gây ung thư bàng quang, thận, gan, phổi. As còn gây bệnh cao huyết áp,
tăng nhịp tim và các vấn đề thần kinh. Mức giới hạn tối đa cho phép hàm lượng
As trong rau tươi là ≤ 0.2 mg/kg rau tươi (theo Quyết định số 867/1998/QĐ-
BYT của Bộ Y tế).
13
- Chì tích luỹ sẽ gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khoẻ, làm tổn thương
hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, và hệ bài tiết (thận) dẫn đến các triệu chứng đau
bụng, thiếu máu, đi đứng khó khăn, giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, đặc
biệt có thể gây ung thư gan, thận, trẻ em chậm lớn và kém thông minh. Mức giới
hạn tối đa cho phép hàm lượng Pb trong rau tươi là ≤ 0,5-1,0 mg/kg rau tươi
(theo Quyết định số 867/1998/QĐ-BYT của Bộ Y tế).
- Thuỷ ngân tích luỹ sẽ gây độc cho bào thai, trẻ em và người lớn. Triệu
chứng chính là cảm giác tê quanh môi, ở các ngón tay, ngón chân, dần dần ăn
nói khó khăn, mắt và tai kém, mỏi mệt, nhức đầu, bồn chồn, không tập trung tư
tưởng được, cơ thể ngày càng yếu đi, đi đứng khó khăn, cuối cùng có thể hôn mê
và chết. Mức giới hạn tối đa cho phép hàm lượng Hg trong rau tươi là ≤ 0,005
mg/kg rau tươi (theo Quyết định số 867/1998/QĐ-BYT của Bộ Y tế).
2.4.3. Tác hại của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Theo thống kê của WHO, hàng năm trên thế giới có khoảng 500 ngàn
người bị nhiễm độc cấp tính do thuốc bảo vệ thực vật, trong đó có khoảng 14
ngàn người chết. Ở Việt Nam con số thống kê cho thấy những người thường suy

Trẻ em nhiễm giun kéo dài sẽ bị suy dinh dưỡng, chậm phát triển thể chất
và tinh thần. Giun móc sống ký sinh tại tá tràng và bám vào niêm mạc ruột để
hút máu, gây nên tình trạng thiếu máu. Những người bị nhiễm giun đũa chó
thường có biểu hiện động kinh, liệt nửa người, viêm cơ tim, viêm màng não, rối
loạn nhãn quan, gan to…
2.5. Rau an toàn và tiêu chuẩn đánh giá
Ngày 28 tháng 7 năm 2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra
quyết định số 84/2008 QĐ – BNN ban hành “Qui chế chứng nhận Quy trình
thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) cho rau, quả và chè an toàn" để
áp dụng cho cả nước. Trong quyết định này qui định mức dư lượng cho phép
trên sản phẩm rau đối với hàm lượng nitrate, kim loại nặng, vi sinh vật gây
bệnh và thuốc bảo vệ thực vật. Các mức dư lượng cho phép này chủ yếu dựa
vào qui định của Tổ chức lương nông tế giới (FAO) và Tổ chức y tế thế giới
(WHO). Các cá nhân, tổ chức sản xuất và sử dụng rau dựa vào các mức dư
lượng này để kiểm tra xác định sản phẩm có đạt tiêu chuẩn an toàn hay không.
Rau an toàn phải đảm bảo các yêu cầu về chất lượng như sau:
- Chỉ tiêu về hình thái: sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu
cầu của từng loại rau, không dập nát, héo úa, hư thối, không lẫn tạp chất, sâu
bệnh và có bao gói thích hợp.
- Chỉ tiêu về độ an toàn: Hàm lượng NO3-, dư lượng thuốc bảo vệ thực
vật, kim loại nặng dưới ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn của FAO, WHO và
của Việt Nam và không có vi sinh vật gây hại.
PHẦN III
15
NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kỹ thuật trồng trong sản xuất rau
an toàn
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các giá thể đến sinh trưởng

16
Ở nước ta, rau thơm phong phú về chủng loại và cách sử dụng trong đó sử
dụng chủ yếu là ăn sống. Hiện này rau thơm chủ yếu trồng trên đất và được
trồng xen với các cây trồng khác nên nguy cơ bị nhiễm bẩn càng lớn đặc biệt khi
sử dụng để ăn sống. Vì vậy chúng tôi tiến hành khảo nghiệm khả năng thích ứng
cuả một số giống rau thơm trong môi trường thủy canh để nâng cao hiệu quả sản
xuất của các giống rau này.
* Rau húng chó
- Là một loài rau thơm đa niên thuộc họ Hoa môi.
- Cây cao chừng 0,3m, lá rậm, xanh thẫm, mùi vị nồng tương tự hương vị quế.
* Rau mùi tàu
- Cây thảo mọc hằng năm, nhẵn, có thân đơn độc, phân nhánh ở ngọn,
cao 15-50cm. Lá ở gốc hình hoa thị, mỏng, thuôn mũi mác, thon hẹp lại ở gốc,
mép có răng cưa, với răng hơi có gai. Lá ở thân có răng nhiều hơn, các lá ở trên
xẻ 3-7 thùy ở chóp và có nhiều gai.
`- Hoa thành đầu hình trứng hay hình trụ, có bao chung gồm 5-7 lá bắc
hình mũi mác dẹp, mỗi bên có 1-2 răng và một gai ở chóp. Quả gần hình cầu,
hơi dẹt, đường kính 2mm.
* Rau dấp cá
Là một loại cỏ nhỏ, mọc lâu năm, ưa chỗ ẩm ướt, có thân rễ mọc ngầm
dưới đất. Toàn cây vò có mùi tanh như mùi cá. Theo đông y, giấp cá vị cay, hơi
lạnh, hơi độc, vào phế kinh. Có tác dụng tán nhiệt, tiêu ung thũng, dùng chữa phế
ung, ngoài dùng chữa ung thũng, trĩ, vết lở loét. Các hoạt chất trong dấp cá là
quercetin, isoquercetin có tác dụng lợi tiểu mạnh, đồng thời có tác dụng làm vững
bền mao mạch. Tinh dầu dấp cá có tác dụng kháng viêm, khánh khuẩn mạnh.
* Rau răm
Rau răm là một loại cây lưu niên sinh trưởng tốt nhiệt đới và cận nhiệt đới
trong điều kiện nóng ẩm nhưng không sống được nếu quá nhiều nước. Trong
điều kiện thuận lợi, thân cây có thể dài từ 15cm đến 30 cm. Khi nhiệt độ lên quá
cao, rau răm sẽ bị tàn lụi.

khí tượng thuỷ văn, các tạp chí chuyên ngành
3.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm 1: gồm 4 công thức với 3 lần nhắc lại:
+ Công thức 1 : giá thể cát thô (Đ/c)
+ Công thức 2: giá thể xơ dừa
+ Công thức 3: giá thể trấu hun
18
+ Công thức 4: giá thể vỏ lạc
- Thí nghiệm 2: Khảo sát khả năng thích ứng của một số giống rau thơm
trong kỹ thuật trồng thủy canh. Mỗi giống là một công thức, gồm 3 lần nhắc lại.
+ Công thức 1 : Rau mùi tàu
+ Công thức 2: Rau răm
+ Công thức 3: Rau húng chó
+ Công thức 4: Rau dấp cá
- Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng
phát triển, năng suất, chất lượng hai giống cải: Trang Nông và Xanh lá vàng.
+ Công thức 1 : 1cây/hốc (Đ/c)
+ Công thức 2: 2 cây/hốc
+ Công thức 3: 3 cây/hốc
+ Công thức 4: 4cây/hốc
- Thí nghiệm 4: Nghiên cứu 6 giống xà lách cao cấp. Mỗi giống là một
công thức, gồm 3 lần nhắc lại.
+ Công thức 1 : Dún cao sản HN313
+ Công thức 2: Red sun
+ Công thức 3: Fast fall
+ Công thức 4: GS H107
+ Công thức 5: Green leetuce
+ Công thức 6: Đăm Hải Phòng (ĐC)
3.3.3. Đo đếm thí nghiệm
Cố định các cây theo dõi, 5 ngày theo dõi một lần (riêng đối với thí

- Năng suất cá thể (g/cây)
- Năng suất lý thuyết, thực thu (kg/100m
2
)
* Chất lượng và phẩm vị ăn tươi (trộn đều sản phẩm của 3 lần nhắc lại, lấy mẫu
ngẫu nhiên):
- Hàm lượng vitamin A, C: Theo TCVN 4246 -90, mg/100g.
- Hàm lượng chất khô (%): theo phương pháp sấy khô ở nhiệt độ ban đầu
75
0
C, sau nâng lên 105
0
C và cân 3 lần khối lượng không đổi.
- Khẩu vị nếm.
* Một số chỉ tiêu an toàn (trộn đều sản phẩm của 3 lần nhắc lại, lấy mẫu ngẫu nhiên.
- Dư lượng NO
-
3
(mg/kg): theo phương pháp Cataldo.
- Vi sinh vật gây hại (E.Coli) (tế bào/gam): Theo phương pháp Bulir (lên
men đa giá trong ống nghiệm).
* Sơ bộ tính hiệu quả kinh tế:
Tổng chi (nghìn đồng/10m
2
) = chi phí vật tư + tiền công lao động + các
chi phí khác.
- Tổng thu (nghìn đồng/10m
2
) = Năng suất x giá thành
- Lãi thuần (nghìn đồng/10m

thu
Tổng TGST
So với Đ/C
Cải xanh
1(đ/c)
3
4 7
-
2 3 4 8 1
3
4
5
9 2
4
4
4,5
8,5 1,5
Đậu xanh
1(đ/c)
1,5
3
4,5 -
2
1
3
4 -0,5
3
2
5
7 2,5

- Đối với giống đậu tương: Thời gian từ gieo đến khi thu hoạch ở các công
thức biến động từ 5 đến 8 ngày. Trong đó thu hoạch sớm nhất là công thức 2, sớm
hơn đối chứng 1 ngày. Chậm nhất là công thức 4, chậm hơn đối chứng 2 ngày.
4.1.1.2. Năng suất các giống rau tham gia thí nghiệm ở các giá thể khác nhau
Rau mầm là rau được canh tác bằng các loại hạt giống thông thường,
nhưng thời gian canh tác ngắn hơn, chỉ 5 - 7 ngày sau khi gieo là có thể thu
hoạch. Qua theo dõi năng suất của các giống rau tham gia thí nghiệm ở các loại
giá thể khác nhau chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 4.2:
Bảng 4.2: Năng suất các giống rau mầm với các loại giá thể khác nhau
Đối tượng Công thức
Năng suất ô thí
nghiệm (g/ô)
Năng suất thực
thu/10m
2
(kg)
So với Đ/C
Cải xanh
1(đ/c)
270 10,8
-
2 271,7 10,9 0,1
3
219,3 8,8
-2
4
181 7,2
-3,6
CV%
4,2

-3,3
4
474 19
-2,2
CV%
3,8
LSD
05
1,53
Qua bảng 4.2 ta thấy:
* Đối với giống cải xanh:
- Năng suất ô thí nghiệm ở các công thức có sự thay đổi biến động từ
181- 271,7 gam/ô. Trong đó chỉ có công thức 2 có năng suất gam/ô cao hơn đối
chứng.
22
- Năng suất thực thu trên 10m
2
ở các công thức có sự biến động từ 7,2
đến 10,9 kg. Trong đó chỉ có công thức 2 có năng suất thực thu cao hơn đối
chứng, 2 công thức thấp hơn đối chứng, thấp nhất là công thức 4, thấp hơn đối
chứng 3,6kg ở mức tin cậy 95%.
* Đối với giống đậu xanh:
- Năng suất ô thí nghiệm ở các công thức thí nghiệm biên động từ 344,7 -
456,7 7 gam/ô. Trong đó tất cả các công thức thí nghiệm đều có năng suất
gam/ô thấp hơn đối chứng.
- Năng suất thực thu trên 10m
2
ở các công thức có sự biến động từ 13,8
đến 18,3kg. Các công thức đều có năng suất thực thu thấp hơn đối chứng, trong
đó thấp nhất là công thức 3, thấp hơn đối chứng 4,5kg ở mức tin cậy 95%.

Cát khô (đ/c) Không phát hiện
Xơ dừa Không phát hiện
Trấu hun Không phát hiện
Vỏ lạc Không phát hiện
Qua bảng 4.3 ta thấy: ở ba giống rau tham gia thí nghiệm ở các loại giá
thể trồng khác nhau khi phân tích đều không thấy xuất hiện vi sinh vật gây hại E.
Coli, đạt độ an toàn cho phép.
4.1.1.4. Sơ bộ hoạch toán kinh tế
Bảng 4.4: Sơ bộ hoạch toán kính tế các giống rau mầm
tham gia thí nghiệm ở các giá thể khác nhau
(Đơn vị: đồng/10m
2
)
Giống Công thức Tổng thu Tông chi
Lãi thuần So với Đ/C
Cải xanh
1(đ/c)
702.000
250.000 452.000
-
2 708.500 300.000 408.500 -43.500
3
572.000
270.000 302.000
-150.000
4
468.000
260.000 208.000
-244.000
Đậu xanh

950.000
280.000 670.000
-120.000
Qua bảng 4.4 cho thấy:
- Đối với giống cải xanh: Các công thức đều có lãi thần thấp hơn đối
chứng, trong đó thấp nhất là công thức 4 thấp hơn đối chứng 244.000
đồng/10m
2
.
- Đối với giống đậu xanh: Các công thức tham gia thí nghiệm đều có lãi
thuần chênh lệch với đối chứng, trong đó chỉ có công thức 4 cao hơn đối chứng
( 185.000 đồng/10m
2
).
24
- Đối với giống đậu tương: Các công thức có sự chênh lệch so với đối
chứng, trong đó chỉ có công thức 2 cao hơn đối chứng (10.000 đồng/10m
2
).
Thấp nhất là công thức 3, thấp hơn đối chứng 185.000 đồng/10m
2
Ghi chú:
- Giá rau mầm cải xanh : 65.000đ/1kg
- Giá rau mầm đậu xanh : 50.000đ/1kg
- Giá rau mầm đậu tương : 50.000đ/1kg
- Các chi phí khác là như nhau
Qua kết quả đánh giá phân tích cho thấy:
- Đối với các giống rau mầm tham gia thí nghiệm, mặc dù năng suất
gam/ô và năng suất thực thu có sự chênh lệch so với đối chứng. Tuy nhiên khi
tính hiệu quả kinh tế chúng tôi thấy rằng sử dụng cát thô có ý nghĩa kinh tế nhất.

25 ngày
sau trồng
Rau mùi tàu
100% 99,33 99 98,33 96,7 96,7
Rau răm 100% 100% 98,4 98,4 98,4 97,3
Rau húng chó 100% 97,2 95,4 95,1 93,4 92
Rau dấp cá 100%
97,2 95 92,3 90,1 83,5
25

Trích đoạn Đặc trưng hình thái của các giống xà lách Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các giống xà lách tham gia thí nghiệm XÂY DỰNG QUY TRÌNH VÀ MÔ HÌNH TRỒNG RAU AN TOÀN BẰNG CÔNG NGHỆ KHÔNG DÙNG ĐẤT TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status