LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn 20 năm Đảng và Nhà nước thực hiện đổi mới, trong những năm gần đây hoạt
động xuất khẩu của nước ta luôn tăng trưởng, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia,
nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước, góp phần thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, phát triển Kinh tế – Xã hội đất nước. Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu giúp nâng
cao uy tín của hàng Việt Nam, đưa Việt Nam đến với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế
giới, kêu gọi hợp tác và đầu tư nước ngoài. Hiện nay chúng ta có rất nhiều mặt hàng xuất
khẩu và có tiềm năng xuất khẩu, trong đó hàng dệt may luôn được xác định là một trong
những mặt hàng quan trọng. Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng dệt may không chỉ có ý
nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn về mặt chính trị – xã hội. Đó là vì đặc thù của
ngành dệt may sử dụng nhiều lao động, liên quan chặt chẽ với nhiều ngành khác và khi
ngành dệt may phát triển sẽ giúp giải quyết vấn đề công ăn việc làm, thúc đẩy nhiều ngành
nghề khác phát triển.
Công ty may Thăng Long mà tiền thân là Xí nghiệp may mặc xuất khẩu, được thành
lập từ năm 1958 với nhiệm vụ gia công may mặc để xuất khẩu là chủ yếu. Qua hơn 40 năm
tồn tại và phát triển, đơn vị đã có những bước tiến lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh,
là một trong những đơn vị đi đầu trong hoạt động gia công và xuất khẩu hàng may mặc ở
Việt Nam. Trong những năm qua, doanh thu xuất khẩu cũng như doanh thu nội địa của Công
ty may Thăng Long luôn tăng, thị trường luôn được mở rộng. Đó là do công ty đã tận dụng
được những lợi thế của mình, định vị thị trường đúng và có chiến lược kinh doanh hợp lý.
Tuy nhiên, trong bối cảnh khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế, hoạt động xuất khẩu có
nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn mới. Thị trường mở rộng, khách hàng đa
dạng nhưng cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt hơn. Chính vì vậy việc tìm kiếm giải pháp
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là các giải pháp chú trọng đến tìm kiếm thị trường
mới luôn là việc làm thường xuyên và bắt buộc.
Qua tìm hiểu, nghiên cứu ở Công ty may Thăng Long em thấy hoạt động xuất khẩu
của Công ty chủ yếu là sang thị trường Mỹ (chiếm khoảng 80% doanh thu xuất khẩu) trong
khi thị trường Mỹ đã áp dụng hạn ngạch với hàng dệt may Việt Nam. Bên cạnh đó, lợi nhuận
của Công ty may Thăng Long chủ yếu do hoạt động gia công mang lại, việc xuất khẩu theo
hình thức bán đứt vẫn chiếm một tỷ lệ nhỏ. Với những lý do như vậy, em đã chọn đề tài
“Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may ở Công ty may Thăng Long sang thị
ngoại quan.
2
Số điện thoại: 04.8 623372 / 8 622142
Fax: 84.4 623374
Website:
Nhiệm vụ: Bên cạnh nhiệm vụ chính của Công ty là gia công hàng may mặc xuất
khẩu, Công ty còn gia công hàng thêu mài cho các tập thể, cá nhân, cung cấp phục vụ một
phần nhu cầu trong nước, nộp ngân sách Nhà nước đầy đủ, đãi ngộ đúng mức đối với người
lao động. Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp có nhiều quyền định đoạt và trách
nhiệm hơn, nhiệm vụ cơ bản của Công ty là sản xuất kinh doanh có lãi, thực hiện đúng chế
độ sổ sách của Nhà nước, nộp ngân sách đầy đủ.
Hiện nay hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty chủ yếu là xuất khẩu với doanh thu
xuất khẩu hàng năm chiếm tới trên 80% tổng doanh thu. Hoạt động xuất khẩu của Công ty
được chia thành hai hình thức: hình thức gia công và hình thức bán đứt. Hình thức gia công
là hình thức mà Công ty nhận đơn đặt hàng của khách, bao gồm cả mẫu mã đã được thiết kế,
một phần hoặc tất cả nguyên phụ liệu để sản xuất sản phẩm. Trong trường hợp này Công ty
chỉ được nhận công gia công. Thực tế hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty, xuất khẩu
theo hình thức này chiếm tỷ lệ rất cao, khoảng 80%.
Với hình thức bán đứt, doanh nghiệp tự nghiên cứu thị trường, thiết kế mẫu mã và
mua sắm các yếu tố đầu vào, sản xuất sản phẩm và bán. Trong trường hợp này doanh nghiệp
nhận được toàn bộ số tiền bán sản phẩm. Hoạt động xuất khẩu theo hình thức này còn chiếm
tỷ lệ khiêm tốn, với khoảng 20%.
Với hai hình thức xuất khẩu như vậy, trong các báo cáo của Công ty thường có hai
loại số liệu. Một là giá trị của toàn bộ số hàng cả gia công và bán đứt, trong đó hàng gia công
bao gồm cả tiền công gia công và giá trị nguyên phụ liệu mà người đặt hàng cung cấp. Hai là
giá trị của tiền gia công đối với đơn hàng gia công và doanh thu của những lô hàng mà Công
ty tự thiết kế, mua sắm các yếu tố đầu vào, sản xuất và bán. Để đơn giản trong việc phân tích
số liệu, trong chuyên đề này sẽ sử dụng thuật ngữ “trị giá FOB” theo cách quy định của Công
ty với số liệu thứ nhất, tức giá trị của toàn bộ hàng xuất ra bao gồm cả nguyên phụ liệu do
người đặt hàng cung cấp; “doanh thu” với số liệu thứ hai, tức tiền công gia công của những
tích cụ thể ở Phần II – Phân tích tình hình xuất khẩu của Công ty may Thăng Long trong
những năm qua.
1.2. Bộ máy hoạt động của Công ty may Thăng Long
Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp tổ chức quản trị theo kiểu “Trực tuyến
– Chức năng”. Hiện nay cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị Công ty may Thăng Long gồm có:
- Tổng giám đốc.
- Ba phó Tổng giám đốc.
- Hệ thống các phòng ban và các xí nghiệp sản xuất.
4
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức Công ty:
Chú thích: Mối quan hệ trực tuyến
Mối quan hệ chức năng
Tổng giám đốc: Là người đứng đầu bộ máy công ty, thay mặt công ty chịu trách
nhiệm trước Nhà nước về toàn bộ hoạt động của công ty mình, đồng thời lãnh đạo công ty từ
bộ máy quản trị cho tới các phòng ban chức năng.
Phó tổng giám đốc điều hành kỹ thuật: Có chức năng tham mưu, giúp việc cho Tổng
giám đốc. Phó tổng giám đốc điều hành kỹ thuật chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về
5
Phó tổng giám
đốc điều hành
nội chính
TỔNG GIÁM ĐỐC
Xí
nghiệp
1
Văn
phòng
(tổ chức
lao
động)
sản xuất
Phòng
kế
hoạch
thị
trường
Phòng
kỹ
thuật
chất
lượng
việc tổ chức nghiên cứu mẫu hàng và các loại máy móc kỹ thuật, thiết lập mối quan hệ bạn
hàng, các cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, triển khai các nghiệp vụ xuất nhập
khẩu như: tham mưu ký kết các hợp đồng gia công, xin giấy phép xuất nhập khẩu, tiếp nhận
phụ liệu, mở tờ khai hải quan, giao hàng cho khách…
Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất: Có chức năng tham mưu, giúp việc cho tổng
giám đốc. Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về
việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
Phó tổng giám đốc điều hành nội chính: Có chức năng tham mưu, giúp việc cho
Tổng giám đốc. Phó tổng giám đốc điều hành nội chính chịu trách nhiệm trước Tổng giám
đốc về sắp xếp các công việc của Công ty, có nhiệm vụ trực tiếp điều hành công tác lao
động, tiền lương, y tế, tuyển dụng lao động, đào tạo cán bộ, chăm lo đời sống cán bộ công
nhân viên.
Phòng kỹ thuật chất lượng: Là bộ phận tham mưu cho Phó tổng giám đốc điều hành
kỹ thuật về kế hoạch và chiến lược kinh doanh. Phòng kỹ thuật chất lượng thực hiện các
công việc như: may các mẫu chào hàng, thiết kế các mẫu mã sản phẩm, lên định mức nguyên
phụ liệu. Phòng này cũng đồng thời có nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật cho các xí
nghiệp may.
Phòng kế hoạch thị trường: Có chức năng tham mưu cho Phó tổng giám đốc điều
hành sản xuất của công ty, điều hành và báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh
công ty được giới thiệu rộng rãi như: áo jacket các loại, áo sơ mi, quần áo Jean nữ, quần áo
trẻ em… Cũng tại đây công ty giới thiệu và bán nhiều hàng tiêu chuẩn xuất khẩu cho người
tiêu dùng. Bên cạnh đó, Công ty còn có hệ thống văn phòng đại diện giới thiệu và bán sản
phẩm trên thị trường nhiều nước, thông qua mạng Internet…
Chi nhánh và cơ sở khác: Ngoài các phòng ban bộ phận, xí nghiệp nêu trên, Công ty
còn có một xưởng thời trang chuyên đảm nhiệm công tác nghiên cứu, thiết kế mẫu mã mới,
hệ thống kho ngoại quan tại Hải Phòng, hệ thống phòng trưng bày và giới thiệu sản phẩm
trong và ngoài nước.
1.3. Quản lý chất lượng
7
Chất lượng sản phẩm luôn là một yếu tố được Công ty coi trọng trong các chiến lược
và kế hoạch sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, công tác quản lý chất lượng sản phẩm luôn
được coi trọng. Hiện nay Công ty đã đưa vào áp dụng bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO
9001 phiên bản 2000 trên toàn Công ty, tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm toàn
diện. Bên cạnh đó, Công ty đang triển khai áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 14000
và tiêu chuẩn SA 8000. Việc đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn trên có ý nghĩa rất lớn đối với
hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao uy
tín và khả năng xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài.
1.4. Tình hình vốn kinh doanh của Công ty
Là một doanh nghiệp Nhà nước nên nguồn vốn của Công ty chủ yếu là do Nhà nước
cấp, luôn chiếm khoảng 70% tổng số vốn hàng năm , nguồn vốn cố định của Công ty luôn ổn
định qua các năm. Nguồn vốn lưu động của Công ty tăng do có sự đầu tư hàng năm từ ngân
sách Nhà nước và bổ sung từ các quỹ, các nguồn khác trong và ngoài Công ty, huy động nội
lực, vay ngân hàng, vay từ các tổ chức kinh tế. Việc nhận vốn từ Ngân sách còn đặt ra trách
nhiệm cho Công ty phải tìm mọi biện pháp trong khả năng có thể để đảm bảo nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn và hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao.
Bảng 1: Báo cáo tình hình vốn kinh doanh của công ty
Đơn vị tính: triệu đồng.
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004
Tổng số vốn 17365 17642 18081.3 19.425
Nguồn: Công ty may Thăng Long - Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu năm 2001,
2002, 2003, 2004
Qua bảng trên ta thấy số lượng lao động của Công ty luôn tăng với tốc độ khá nhanh
trong những năm gần đây. Số lao động năm 2002 so với năm 2001 tăng 135 lao động, hay
tăng 6,24%. Số lao động năm 2003 so với năm 2002 là 109,44%, tăng tuyệt đối 217 lao
động. Năm 2004 so với 2003 là 125,79%, tăng tuyệt đối là 649 lao động. Tốc độ tăng bình
quân của 4 năm từ 2001 đến 2004 là 13,51%/năm. Kế hoạch năm 2005 so với thực hiện 2003
là 126,34%, tăng tuyệt đối là 834 lao động. Trong những năm gần đây, việc tiêu thụ sản
phẩm của Công ty luôn tăng với tốc độ nhanh, số khách hàng của Công ty ngày càng nhiều,
9
các thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng, đặc biệt là thị trường Mỹ sau khi Hiệp
định thương mại Việt – Mỹ được ký kết. Để đáp ứng yêu cầu lớn của thị trường, Công ty đã
đầu tư xây dựng nhiều cơ sở sản xuất mới như tại Hoà Lạc, liên tục tuyển dụng và đào tạo
lao động, bổ sung vào lực lượng lao động của Công ty qua các năm.
Nhìn chung, lao động nữ chiếm tỷ lệ cao. Theo số liệu thống kê những năm trước kia,
lao động nữ luôn chiếm khoảng 80% trong tổng số cán bộ công nhân viên. Tuỳ theo đơn
hàng và thời vụ sản xuất, Công ty luôn có kế hoach tuyển lao động theo hợp đồng, lao động
mùa vụ nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, lực lượng lao động học
may, thử việc cũng rất đáng kể.
Cùng với việc đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, lực lượng lao động của
Công ty luôn biến động, không chỉ về số lượng mà cả chất lượng. Số lượng lao động bậc cao
ngày càng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng số lao động của Công ty. Đó là kết
quả của việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, trẻ hoá lao động, chiến lược nâng cao chất
lượng sản phẩm. Phần lớn lao động đều còn trẻ, được đào tạo qua trường lớp, có khả năng
tiếp thu khoa học kỹ thuật mới.
Bảng 3: Công nhân sản xuất theo bậc trong một số năm gần đây
Bậc
thợ
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Sl
Với phương châm tinh giảm lao động gián tiếp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, trong những năm qua số cán bộ của Công ty chỉ duy trì ở mức 160 – 180 người.
Trong số này có khoảng 130 người có trình độ đại học, 40 người nắm giữ các vị trí chủ chốt
của Công ty. Số cán bộ 180 người tức khoảng 8% tổng số lao động là một tỷ lệ khá hợp lý
10
trong điều kiện sản xuất kinh doanh hiện nay của Công ty. Nhiều cán bộ của Công ty có tuổi
đời còn rất trẻ, có kiến thức rất tốt về chuyên môn, có trình độ, kinh nghiệm trong lĩnh vực
kinh doanh xuất nhập khẩu, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo, một số có trình độ ngoại
ngữ tốt.
Bảng 4: Cán bộ quản lý, nhân viên văn phòng trong một số năm gần đây
Năm 2000 2001 2002 2003
Số lượng(Người) 175 190 192 198
Nguồn: Phòng nhân sự – Công ty may Thăng Long
Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ làm công tác xuất khẩu có ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả của hoạt động xuất khẩu. Để làm tốt công việc, đòi hỏi đội ngũ này phải có kiến
thức tốt về hoạt động thương mại quốc tế, có kỹ năng xử lý tình huống tốt, có kiến thức về
các thị trường, kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng và thường xuyên phải tự nâng cao tay
nghề. Hiện nay đội ngũ làm công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty có trình độ tương đối tốt,
đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong công việc.
2.2 Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu của Công ty.
Hiện nay Công ty có một số lượng lớn các nhà cung ứng các yếu tố đầu vào. Vải là nguyên
liệu chính trong sản xuất và thường được nhập khẩu từ các nước Nhật, Hàn Quốc, Hồng
Kông, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan. Vải mua trong nước hầu như không có. Các nguyên
phụ liệu cũng chủ yếu nhập từ nước ngoài, nguyên phụ liệu nội địa chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong
tổng số nguyên phụ liệu dùng trong sản xuất sản phẩm xuất khẩu.
11
Bảng 5: Tình hình sử dụng nguyên phụ liệu may và giá trị nguyên phụ
liệu sử dụng trong sản xuất sản phẩm xuất khẩu
TT Chỉ tiêu Đơn vị 2003 2004
Một đặc điểm lớn của ngành may là sử dụng rất nhiều nguyên phụ liệu khác nhau.
Điều này làm cho công tác chuẩn bị đầu vào cho sản xuất rất khó khăn, phức tạp, bài toán dự
trữ nguyên vật liệu luôn được đặt ra cấp bách. Vì những lý do như vậỵ, nguyên phụ liệu có
ảnh lớn đối với hoạt động xuất khẩu của Công ty.
2.3 Đặc điểm về thị trường tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty. Các yếu tố của thị trường thay đổi sẽ quyết định doanh số bán ra,
mức lợi nhuận của Công ty, quyết định thu nhập của người lao động, khả năng đóng góp thuế
đối với Nhà nước. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ, cơ hội mở
rộng thị trường cũng như những đòi hỏi về chất lượng sản phẩm càng lớn. Hiện nay, sản
phẩm của Công ty đã xuất khẩu sang hơn 40 quốc gia trên thế giới, trong đó những khách
hàng chủ yếu là Mỹ, Nhật, EU, Hồng Kông, Đài Loan… Thị trường của Công ty cũng không
ngừng được mở rộng nhờ vào chính sách phát triển thị trường.
Từ năm 1990 trở về trước khi hoạt động theo kế hoạch của bộ chủ quản, Công ty đã
có thị trường tiêu thụ rộng lớn với các mặt hàng như áo sơ mi, áo măng tô, pijama, áo mưa,
áo bò, quần áo dệt kim… Những thị trường lớn của Công ty có thể kể đến như Liên Xô,
Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, các nước Đông Âu, Cộng hoà dân chủ Đức. Thập kỷ 80 của thế
kỷ 20 được coi như một đỉnh cao phát triển của Công ty, mỗi năm Công ty đạt mức xuất
khẩu trên đạt 5 triệu áo sơ mi quy chuẩn. Trong thời gian đó Công ty được tặng một Huân
chương lao động hạng nhất, một Huân chương lao động hạng hai, hai Huân chương lao động
hạng ba và nhiều bằng khen khác.
Sau khi chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đi vào đời sống, nhất là sau khi có
Quyết định chuyển đổi Xí nghiệp may mặc xuất khẩu thành Công ty may Thăng Long, Công
ty ngày càng tích cực tìm kiếm thị trường, sản phẩm của Công ty đã đến được nhiều thị
trường mới với số lượng ngày càng lớn. Sản phẩm xuất khẩu của Công ty hàng năm chiếm
khoảng 80% tổng số, tiêu thụ thị trường nội địa chiếm khoảng 20%, tiêu thụ nội địa chủ yếu
là mặt hàng trung và cao cấp. Công ty đã có kế hoạch tăng đầu tư nghiên cứu thị trường trong
những năm tới, chú ý những thị trường mới như thị trường châu Á, thị trường châu Phi. Việc
đầu tư nghiên cứu thị trường cũng phải đồng thời với việc đầu tư đào tạo, tuyển chọn đội ngũ
cán bộ hoạt động trong việc nghiên cứu thị trường.
14
yêu cầu của khách hàng hoặc những mẫu mã đưa ra không được khách hàng chấp nhận.
Thêm vào đó, chúng ta thiếu những thương hiệu đủ mạnh để cạnh tranh trên thị trường thế
giới. Nhiều nhà nhập khẩu sản phẩm may của Việt Nam chỉ thực hiện thêm công đoạn thay
nhãn mác và bán với giá cao hơn rất nhiều giá nhập.
Thị trường Mỹ và EU là hai thị trường trọng điểm của Công ty, đây là những thị
trường có nhu cầu về các sản phẩm may mặc cao. Theo số liệu những năm gần đây, thị
trường Mỹ luôn chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu của Công ty, tiếp đó là thị trường
EU. Doanh thu xuất khẩu của Công ty trong những năm qua tăng nhanh, chủ yếu là do sự
tăng lên của xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Tuy nhiên, cả thị trường Mỹ và EU đều áp dụng
hạn ngạch với hàng may mặc Việt Nam, tình trạng thiếu hạn ngạch, phí hạn ngạch cao là khó
khăn cơ bản khi xuất khẩu sang những thị trường này. Ngoài ra Công ty còn xuất sang các thị
trường khác như Nhật, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Israel, Angola… Trong các kế
hoạch sản xuất kinh doanh, việc mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là những thị trường phi
hạn ngạch luôn được ban lãnh đạo Công ty quan tâm.
15
Bảng 6: Tình hình xuất khẩu của Công ty may Thăng Long theo
trị giá FOB qua các năm từ 2001 – 2004
Chỉ tiêu
Đơn vị
2001 2002 2003 2004
Tổng kim ngạch XK
USD
36.971.255,7 39.872.218 43.632.047 67.226.949
I. Châu Âu nt 6.788.136,7 10.840.756 3.694.462 3.210.061
Pháp nt 1.753.275
Đức nt 7.111.020 2.566.601 2.145.608
Italia nt 3.600
Đan Mạch nt 140.743 260.861 802.329
Tây Ban Nha nt 807.870 37.800 117.600
2001 2002 2003 2004
Tổng kim ngạch XK
% 100 100 100 100
I. Châu Âu
nt 18,36
27,19 8,47 4,77
II. Chây Mỹ
nt
70,96 48,42 82,61 89,57
III. Châu Á
nt
10,54 24,11 8,75 5,15
IV. Châu Phi
nt
0,14 0,27 - -
V. Châu Úc
nt
- - 0,17 -
VI. Xuất khẩu tại chỗ
- - - 0,51
Nguồn: Tính toán từ bảng 8.
Qua hai bảng trên ta thấy tình hình xuất khẩu của Công ty nói chung tăng nhanh trong
những năm gần đây, nhưng không ổn định ở nhiều thị trường. Thị trường Mỹ có ảnh hưởng rất
quan trọng đến hoạt động xuất khẩu của Công ty. Trong những năm qua thị trường Mỹ luôn
chiếm một tỷ lệ rất cao, các thị trường khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ hoặc không đáng kể. Chính vì
vậy, bất chấp sự sụt giảm ở những thị trường khác trong khi thị trường Mỹ tăng, trị giá FOB của
Công ty vẫn tăng nhanh qua các năm. Tỷ lệ của thị trường Mỹ năm 2001 chiếm 70,96% trong
tổng số trị giá FOB xuất khẩu của Công ty, sang năm 2001 giảm còn 48,42%. Hai năm sau đó
tăng lên lần lượt là 82,61% và 89,57%.
Máy may 2 kim cố định
Đức 6
Máy vắt sổ
Nhật 175
Máy thùa khuyết đầu bằng
Nhật 237
Máy đính cúc phẳng
Nhật 22
Máy đính cúc phẳng
Đức 3
Máy đính bộ
Nhật 20
Máy cuốn ống
Nhật 13
Máy nẹp sơ mi
Đức 30
Máy cạp chun
Đức 6
Máy cạp chun
Nhật 2
Máy tra cạp quần Jean
Đức 8
Máy thùa đầu tròn
Đức 3
Máy thùa đầu tròn
Tiệp 10
Máy vắt gấu
Nhật 8
Máy trần viền
Nhật 17
Trong năm 1998 công ty đã nhập về một dây chuyền công nghệ tự động để may áo sơ mi cao
cấp (XN1). Nhiều phương án công nghệ đang được tiếp tục xây dựng và thực hiện, đưa thêm
máy móc thiết bị tự động, hiện đại để sản xuất mặt hàng cao cấp hơn, chủng loại đa dạng đáp
ứng nhanh chóng nhu cầu thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài.
Bảng 9: Giá trị máy móc thiết bị
Năm 2001 2002 2003 2004
Giá trị (Triệu đ) 8.669 15.000 16.000 23.000
Nguồn: Công ty may Thăng Long - Báo cáo tình hình thực hiện các chỉ tiêu các năm
2001, 2002, 2003, 2004.
Về quy trình công nghệ, Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp lớn chuyên
sản xuất và gia công các mặt hàng may mặc theo quy trình kép kín từ A đến Z (bao gồm: cắt,
may, là, đóng gói, đóng thùng) với các loại máy móc chuyên dùng và số lượng sản phẩm
tương đối lớn được chế biến từ nguyên liệu chính là vải. Từ nguyên liệu vải sẽ qua khâu đầu
tiên là cắt gồm các bước đặt mẫu, đánh số và cắt. Sau khi qua bước cắt, bước tiếp theo có thể
là thêu sau đó là đến may. Tuy nhiên, với nhiều sản phẩm có thể không qua bước thêu mà từ
cắt có thể chuyển thẳng qua bước may tuỳ theo yêu cầu của sản phẩm. Sau khi xong bước
19
may sẽ chuyển qua bước giặt, mài và tẩy sau đó chuyển sang là, hoặt từ may chuyển sang
bước là ngay nếu yêu cầu sản xuất không cần đến bước giặt, mài, tẩy. Sau khi là, sản phẩm
sẽ được đóng gói và đưa vào nhập kho thành phẩm. Như vậy ta thấy quy trình công nghệ sản
xuất gồm nhiều nguyên công khác nhau.
Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ của Công ty
Quy trình sản xuất sản phẩm của công ty là quy trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục.
Sản phẩm được trải qua nhiều công đoạn kế tiếp nhau. Công ty sản xuất rất nhiều sản phẩm
với chủng loại và mẫu mã khác nhau, song tất cả đều phải trải qua một quy trình công nghệ
như trên.
Như vậy, quy trình công nghệ sản xuất mà công ty đang áp dụng là quy trình công
nghệ kép kín, từng bộ phận chuyên môn hoá rõ rệt vì thế tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao
năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm làm ra đạt tiêu chuẩn mà công ty đã xây
dựng.
nă m 2004. Như vậy, có thể nói Công ty vẫn xác định trong ngắn hạn thị trường Mỹ vẫn là
thị trường trọng điểm của Công ty. Bên cạnh đó vấn đề nghiên cứu phát triển các thị trường
khác, đặc biệt là EU, Nhật Bản, những thị trường phi hạn ngạch luôn được đặt ra trong chiến
lược sản xuất kinh doanh. Định hướng hướng ra xuất khẩu có ảnh hưởng tích cực đến hoạt
động xuất khẩu của Công ty, tạo ra sự chủ động trong sản xuất kinh doanh.
3. Tiềm năng xuất khẩu và vài nét về hoạt động xuất khẩu của Công ty trong những
năm qua.
Công ty may Thăng Long có tiềm năng xuất khẩu to lớn, hiện nay sản phẩm của Công
ty đã xuất khẩu sang nhiều quốc gia, đạt kim ngạch xuất khẩu mỗi năm hàng chục triệu USD.
Thị trường xuất khẩu của Công ty rộng khắp từ châu Mỹ, châu Âu, châu Á đến châu Phi,
châu Úc, mặc dù mức độ xuất khẩu với mỗi thị trường, với mỗi thời điểm còn chưa tương
xứng với tiềm năng của thị trường và thường xuyên biến động. Trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, sản phẩm của Công ty càng có nhiều cơ hội đến với những thị trường mới.
Để đáp ứng yêu cầu thị trường, trong những năm qua Công ty không ngừng đầu tư
xây dựng mới nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị sản xuất. Mới đây, Công ty đầu tư xây
21
dng xng may mi ti Ho Lc, Cụng ty cng ó u t mi nhiu xng may v tinh
Nam nh, H Nam v m vn phũng i din ti cỏc th trng nh M, EU, Nht nhm
tng cng cụng tỏc nghiờn cu v phỏt trin th trng.
Vi nhng c gng m rng tim nng xut khu trong nhng nm qua, doanh thu
xut khu ca Cụng ty luụn t v vt k hoch ra, thng hiu THALOGA ngy cng
n c vi nhiu th trng mi.
Bng 10: Tỡnh hỡnh xut khu ca Cụng ty qua vi nm gn õy (theo FOB)
Ch tiờu
V
tớnh
2000 2001 2002 2003 2004
Tng sn
phm XK
Sp
cũng có tỷ lệ tăng trưởng cao và ổn định qua các năm. Mức xuất của mặt hàng dệt kim năm
2004 so với 2000 là 329,62%, tức số sản phẩm xuất khẩu tăng gấp hơn 3 lần; của quần các
loại là 11,47 lần, đặc biệt mức xuất khẩu jacket qua 3 năm từ 2002 đến 2004 tăng tới 26 lần.
Đó là tỷ lệ tăng rất cao. Tuy nhiên, với những sản phẩm khác như sơ mi và những sản phẩm
khác thì lại có dấu hiệu giảm sút. Mặt hàng sơ mi theo số liệu xuất khẩu của Công ty cho
thấy mới xuất khẩu từ năm 2003 với mức 675.771 sản phẩm, đến năm 2004 giảm còn
568.396 sản phẩm; các sản phẩm khác từ 314.108 sản phẩm giảm xuống còn 190.280 sản
USD
Năm
0
10000000
20000000
30000000
40000000
50000000
60000000
70000000
80000000
2000 2001 2002 2003 2004
23
phẩm. Đây là những sản phẩm mà doanh nghiệp không có lợi thế trên thị trường vì chất
lượng không cao, đáp ứng chưa tốt yêu cầu của khách hàng.
Xem xét doanh số do các sản phẩm mang lại ta thấy hàng dệt kim chiếm tỷ trọng cao
qua các năm, sau đó là jacket, quần các loại, sơ mi và các sản phẩm khác.
Bảng 12: Xuất khẩu theo mặt hàng qua các năm từ 2002 – 2004
Đơn vị tính: USD
Sản phẩm 2002 2003 2004
Trị giá
FOB
% Trị giá
sản phẩm cấp trung bình và cấp thấp, còn đối với những mặt hàng có chất lượng cao Công ty
hiện khó cạnh tranh được với những nước giầu truyền thống như Anh, Nhật, các nước công
nghiệp mới NICs. Trung Quốc cũng đang nổi lên như một đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn,
có nhiều lợi thế. Đối với những sản phẩm cao cấp đòi hỏi trước tiên phải có được thương
hiệu mạnh, có tên tuổi, được khách hàng chấp nhận, phải có công nghệ hiện đại, tay nghề
công nhân giỏi, bí quyết sản xuất và mối quan hệ truyền thống với khách hàng… Những yếu
tố đó hiện nay ở nhiều mức độ khác nhau Công ty còn thiếu. Tuy nhiên, việc phát triển sản
phẩm theo định hướng nâng cao chất lượng, tiếp cận những thị trường sản phẩm cao cấp vẫn
là một định hướng lâu dài của Công ty.
4.2 Giá cả
Việt Nam là một trong những nước có giá nhân công rẻ nhất thế giới, người lao động
lại cần cù, khéo léo, nhà tuyển dụng lại thường được lợi thế khi tuyển dụng lao động hơn so
với các quốc gia khác… Những điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp may
mặc nói chung, Công ty may Thăng Long nói riêng, giúp giảm được đáng kể chi phí, giảm
giá thành sản phẩm, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị trường. Trong điều
kiện hiện nay khi những công cụ cạnh tranh của Công ty còn chưa phát huy tác dụng hiệu
quả thì cạnh tranh về giá nhờ có giá thành hạ là công cụ quan trọng.
4.3 Thời hạn giao hàng
Công ty may Thăng Long có quy mô lớn với nhiều xí nghiệp phụ trợ. Là thành viên
của Tổng công ty dệt may Việt Nam và đã phát triển qua hơn 40 năm, Công ty có được
những mối quan hệ đối tác rộng với các doanh nghiệp trong nước, có điều kiện tiếp xúc với
hệ thống thông tin thị trường đa dạng. Vì thế, Công ty có khả năng đáp ứng những đơn hàng
lớn đúng về thời gian, số lượng và chất lưọng. Trong điều kiện hiện nay với những đơn hàng
lớn là chủ yếu thì uy tín về năng lực sản xuất của Công ty cũng có thể coi là một công cụ
cạnh tranh quan trọng. Tuy nhiên, sản xuất để xuất khẩu theo hình thức bán đứt Công ty phải
25