A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong kho tàng mỹ thuật cổ Việt Nam có một mảng tranh rất quý giá còn
lưu truyền đến ngày nay. Đó chính là tranh dân gian. Tranh được sản xuất ở nhiều
vùng khác nhau trên khắp lãnh thổ của nước ta . Vì thế tranh có nhiều thể loại,
nhiều sắc thái và đề cập tới nhiều đề tài, nhiều khía cạnh trong cuộc sống và mang
nhũng nét riêng có đặc trưng cho từng vùng về màu sắc, bố cục, cách in ấn, làm
tranh …. Và trong cái không khí ngột ngạt, đua chen nhau của cuộc sống hiện đại
ta lại cảm thấy muốn biết bao được quay trở lại với những nét “bỡnh dị tươi trong”
để phần nào đó xoa dịu đi cái chật trội , bon chen của cuộc sống thường ngày thay
vào đó là sự thoải mái, tĩnh tại, giàu cảm xúc , tình cảm. Một trong những mảng
tranh hay và mang cái chất mộc mạc, đầy tình người là mảng tranh sinh hoạt.
Tranh sinh hoạt đưa về thế giới hiện đại của thực tại để thấy được hay, chất dân
quê nhưng mang đầy chất dân tộc mà thế giới hiện đại dần mai một.
2. Mục đích nghiên cứu
Tranh dân gian là một phần quan trọng trong toàn bộ nền văn húa của dân
tộc, ở đó thể hiện những nét độc đáo, hóm hỉnh trong các cảnh sinh hoạt, vui chơi
của người dân Việt Nam trong từng thời kỳ, phản ánh những tâm tư, tình cảm , ước
mơ của chính những con người đó . Chính cái bình dị trong những cảnh sinh hoạt
đó làm cho tranh thêm phần hấp dẫn, lôi cuốn .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cảnh sinh hoạt trong tranh dân gian là một trong những đề tài mà tranh dân
gian phản anh. Đây không phải là đề tài được tranh dân gian thể hiện nhiều nhất
song nú lại là thể loại mô tả đúng nhất những thú vui, phong tục, lễ hội, tình cảm
của con người với con người, tình cảm về quê hương đất
nước Việt Nam một cách rõ nét nhất. Và mỗi dòng tranh ở các vùng khác
nhau cũng có những cảnh sinh hoạt khác nhau. Thể hiện rõ nhất ở 4 dòng tranh
chính:
+ Tranh Đông Hồ
+ Tranh Hàng Trống
+ Tranh Kim Hoàng
nhau. Điều đó là yếu tố quyết định tạo nên những nét độc đáo trong từng dòng
tranh của từng dân tộc trên thế giới.
1. Đề tài sinh hoạt trong tranh dân gian
Ở mảng này ta thấy những cái dí dỏm, tinh nghịch (Hứng dừa, kéo co, Bịt
mắt bắt dê) những lời châm biếm, đả kích nhẹ nhàng, hóm hỉnh (Đánh ghen,
Trạng chuột vinh quy, Thầy đồ cúc…) những cảnh lao động (Thợ cày, Chợ quê),
những ước mơ, những quan hệ tình cảm của con người …đều được các nghệ nhân
đưa vào trong tranh. Họ đưa cái hiện thực đó vào tranh qua việc thể hiện tinh thần
lạc quan, cần cù, chịu khó rất đặc trưng của con người Việt Nam. Đó cũng là tất cả
những gì mà người dân mong muốn, ước mơ đạt tới.
1.1. Tranh dân gian Đông Hồ
" Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch, có lề
Có sông tắm mát, có nghề làm tranh"
Nhắc tới tranh dân gian Việt Nam không thể không nói tới dòng tranh khắc
gỗ Đông Hồ. Dòng tranh này ra đời từ khoảng thế kỷ 17 và phát triển cho đến nửa
đầu thế kỷ 20 sau đó suy tàn dần. Mang trong mình những nét tinh tỳy riêng với
những giá trị văn húa to lớn.Tranh Đông Hồ, hay tên đầy
đủ là tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ (tranh Làng Mái), là một dòng tranh
dân gian Việt Nam với xuất xứ từ làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh).Dòng tranh này có đề tài rất phong phú, nú phản ảnh hầu
như tất cả những gì diễn ra trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày cũng như
những mối quan hệ xã hội ở miền nông thôn Bắc Bộ. Đề tài sinh hoạt trong tranh
Đông Hồ được phản ánh một cách rõ nét và đặc trưng qua các tác phẩm về lễ hội
như “Đấu vật”, “Đỏnh đu”, cảnh con người hoạt động qua các công việc bình dị
thường ngày như “ Bé và trõu”, “Nghỉ ngơi”…, hay cảnh các con vật gần gũi quen
thân như “Gà đàn”, “Lơn đàn” để nói lên ước mơ nguyện vọng quanh năm no ấm
đầy đủ, sung túc hạnh phúc của người dân hay còn một số tranh phản ánh cuộc sồn
hiện thực song lại mang một ý nhắc nhở mọi người về lối sống và qua niệm hạnh
với tranh Đông Hồ nên nú mang một phong cách nghệ thuật khác. Nú mang vẻ đẹp
nhẹ nhàng, tinh tế, thanh lịch phù hợp với thị hiếu của đối tượng mà nú phục vụ.
1.1. Tranh dân gian Kim Hoàng
Bên cạnh hai dòng tranh Đông Hồ và Hàng Trống, dòng tranh Kim Hoàng
phát triển từ thế kỉ 18 đến thế kỉ 19. Tranh Kim Hoàng cũng đủ loại tranh thờ cúng,
chúc tụng như một số dòng tranh khác cùng thời (Đông Hồ, Hàng Trống). Nhưng
tranh Kim Hoàng lại kết hợp nhiều ưu điểm của hai dòng tranh đó. Tranh Kim
Hoàng có nét khắc thanh mảnh, tỉ mỉ hơn tranh Đông Hồ; màu sắc tươi như tranh
Hàng Trống.
Kim Hoàng là một làng nằm trong vùng quê khá giả ở ven nội thành. Người
dân ở đây gần gũi với thị dân, nên tranh của họ tuy phục vụ nông dân nhưng từ
nguyên liệu đến cảm hứng thẩm mĩ đều có chịu ảnh hưởng của thành thị. Tranh
Kim Hoàng trước đây có nhiều loại khác nhau, phổ biến nhất là tranh thờ gồm các
bức Ông Công (tức Thổ Công), Ông Táo (Táo Quân) và
Ông Sư (Tiên sư). Đấy là ba vị thần mà các gia đình nông dân và thợ thủ
công rất sùng kính và nhớ ơn. Ngoài ra còn các tranh để trang trí nhà cửa, đồng
thời để cầu mong làm ăn phát đạt, may mắn, thì có các bức Tiến tài, Tiến lộc, Lợn
gà. Các tranh Đi cày và Đi bừa vừa nói lên sự lao động vất vả, vừa tỏ ý cầu mong
được no ấm. Vui nhất là những tranh về cảnh sinh hoạt tình tứ của trai gái như
Hứng dừa, và cảnh hội làng như Đánh vật, Chọi trâu, Chọi gà tỏ rõ một tinh thần
thượng võ cao. Lại có cả những tranh mang tính răn dạy theo phương ngôn như :
thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn, hay theo tích truyện hiếu nghĩa trong
Nhị thập tứ hiếu, hoặc vài cảnh trong truyện Nôm dân gian như Thạch Sanh.
1.1. Tranh Làng Sình
Tranh làng Sình có thể sánh với các dòng tranh miền Bắc (như éụng Hồ,
Kim Hoàng, Hàng Trống), một thời đã lưu hành khắp vùng Thuận - Quảng. Sình là
tên nôm của làng Lại Ân, cách Huế chừng 7km về phía éụng Bắc. Sách Ô châu cận
lục ra đời hồi thế kỷ 16 đã nói đến Lại Ân như một địa danh trù phú.Tranh làng
Sình là một dòng tranh dân gian Việt Nam. Đây là dòng tranh mộc bản được sử
dụng phổ biến ở cố đô Huế với mục đích cúng lễ.Nghề làm tranh ra đời tại làng
phần làm nên sự thành công của các tác phẩm nói chung hay “Đỏm cưới chuột”
nói riêng là màu sắc. Màu sắc chung hiện lên trong tranh Đông Hồ là sử dụng ít
màu, đơn giản. Như ta thấy trong tác phẩm này là việc phối hợp các mảng đen,
trắng, nâu đỏ, vàng và xanh. Nền của tranh không biến đổi cầu kì như trong tranh
của các họa sỹ Ân tượng hay được mô tả kĩ như trong các tác phẩm thời phục hưng
nhưng không vì thế mà tranh mất đi không gian mà ngược lại nú lại tạo được một
không gian ước lệ gần gũi, bình dị và hơn hết nú đã làm cho những sắc màu tưởng
chừng đơn điệu đó thành sắc dân tộc – cái sắc đặc trưng cho tâm hồn Việt. Chính
vì thế mà Hoàng Cầm đã từng viết trong bài thơ Bên kia sông Đuống :
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp.
Toàn bộ bức tranh là sự mô tả về một đám rước của trạng chuột. Đám rước
được chia thành 2 nhóm. Nhóm đầu cầm trông, chiêng, kèn … và còn cả các đồ
cần thiết để cống nạp cho “ quan mốo” như chim, cỏ…để có thể yên ổn hoàn thành
việc rước dâu. Trông đám rước rất khẩn trương hối hả, một vài thành viên còn
nhớn nhác, lo lắng cho số phận của mình có thể vị “ăn thịt” bất cứ lúc nào. Qua
hình tượng của tác phẩm các nghệ nhân, người dân muốn lên án, đả kích thực trạng
xã hội thời đó – xã hội mà người nào muốn an bình, yên thân thì phải hối lộ, cống
nạp, lo trên lót dưới. Và cũng từ đó mong ước một xã hội công bằng, hạnh phúc
không còn xuất hiện cảnh tượng mạnh hiếp yếu như trong bức tranh trên.
1. Công việc nhà nông (Tranh dân gian Hàng Trống)
Với “Đỏm cưới chuột” là tiếng cười nhẹ nhàng mang tính châm biếm thì
Công việc nhà nông lại mang đến cho ta một ý nghĩa khác. Xét kỹ thì đây là bức
tranh dạy học, kể về các công đoạn trong việc trồng cây lúa. Nghệ nhân đã mô tả
hai câu ca dao rất khéo:
Ai ơi ăn bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.
Bằng một bức tranh mang tính tổng hợp: làm đất gieo mạ, nhổ mạ cấy lúa,
thu hoạch phơi phóng và xay giã nấu thành cơm. Cuối cùng là cảnh sống sung túc:
sân nhà gà lợn, có cả chuồng chim bồ câu. Trên trời cao đôi chim én bay lượn, bên
1. Tranh con lợn (Tranh Kim Hoàng)
Tranh Kim Hoàng là dòng tranh phối kết hợp được những ưu điểm của 2
dòng tranh nổi tiếng khác là Đông Hồ và Hàng Trống. Tranh được in trên nền giấy
đỏ nên tranh còn có cái tên khác là Tranh đỏ. Năm 1915, nạn lụt lớn làm đê Liên
Mạc bị vỡ, cuốn trôi đi mất nhiều ván in. Do mất mùa, đói kém,
Di sản của dòng tranh này tuy còn lại đến nay rất ít ỏi, nhưng cũng đủ để cho
ta thấy, người dân Kim Hoàng đã làm nghệ thuật dân gian một cách rất thoải mái,
đa dạng và phong phú. Chính điều này đã tạo nên một dòng tranh xuất sắc, độc
đáo, rất riêng của người Kim Hoàng.
1. Vài nét về đề tài sinh hoạt thông qua các đề tài khác trong tranh
Làng Sình.
Tranh Làng Sình đề cập đến rất nhiều đề tài song chủ yếu là cấc đề tài về tín
ngưỡng, thờ cúng. Bên cạnh ý nghĩa thờ cúng, tranh Sình còn khắc hoạ bằng hình
ảnh sinh động những sinh hoạt văn hoá, xã hội, lao động. Nhóm tranh muông thú
rất gần gũi với mọi nhà (lợn, ngựa, voi ), các đồ vật quen thuộc (chậu, hoa, thuyền
bè ). Tranh Làng Sình cũng bị mai một và thất truyền nên các tranh về các đề tài
phản ánh khác như sinh hoạt không còn được lưu truyền đến ngày nay. Vì thế ở
dòng tranh này ta chỉ có thể tìm hiểu cảnh sinh hoạt thông qua các tranh đề tài
khác. Đề tài sinh hoạt là đề cập đến các cảnh sinh hoạt văn húa, xã hội… nên qua
các tranh phục vụ tín ngưỡng hay tranh con vật ta cũng có thể hiểu rằng tranh phục
vụ cho tầng lớp bình dân. Con người thời ở trong dòng tranh này chưa có cuộc
sống yên ấm, no đủ, thuận mưa, thuận mùa màng như cuộc sống của các dòng
tranh khác. Con người chưa thể hiện được tính lạc quan, yêu đời như các dòng
tranh khác. Có thể chính vì thế mà con người ở đây luôn mong muốn, chờ đợi sự
giúp đỡ ở một thế lực siêu nhiên khác (qua việc phát triển rất mạnh tranh thờ, phục
vụ tín ngưỡng). Nhưng có một đặc điểm rất chung trong tranh dân gian là các nghệ
nhân thông qua các tác phẩm đều có mong muốn tương lai có một cuộc sống tốt
đẹp hơn.
Tranh làng Sình được làm bằng cách khắc hình lên các khuôn gỗ rồi in lên
một loại giấy đặc biệt mà người dân quen gọi là giấy mía, sau đó tô màu và phơi
Tranh Con
lợn (tranh Kim Hoàng)
Con trâu (tranh làng Sình)
Đám cưới chuột
Côn
g việc nhà nôngCon lợn