Chuyên đề cấp huyện Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học GDCD lớp 9 - Pdf 24

Một số biện pháp ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy môn GDCD Lớp 9 tại Trường PTCS Đại Dực.

I/ PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1.Lí do chọn đề tài:
I.1.1.Cơ sở lí luận:
Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 5) đã quy định: "Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học ; bồi dưỡng cho người
học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên".
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD
ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: "Phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc trưng môn học,
đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học ; bồi dưỡng cho học sinh
phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học
sinh".
Đối với môn GDCD THCS, mục tiêu của môn học này là trang bị cho học sinh tri thức:
- Hiểu được chuẩn mực đạo đức và pháp luật cơ bản, phổ tgoong phù hợp với HS THCS
trong quan hệ với bản thân, với người khác, công việc, với môi trường sống và lí tưởng
của Đảng, dân tộc
- Hiểu ý nghĩa các chuẩn mực đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội; sự cần thiết
phải rèn luyện và cách thức rèn luyện để đạt được chuẩn mực đó.
Trên thực tế, để đạt được những mục tiêu riêng đó, đòi hỏi người giáo viên phải luôn tìm
ra các biệp pháp hữu hiệu nhất, phải vận dụng và kết hợp tốt các phương pháp dạy học
với các kĩ thuật dạy học đặc trưng để nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD
Trong đó các phương pháp như: Phương pháp vấn đáp, thuyết trình, nêu và giải
quyết vấn đề, các phương pháp đó cần kết hợp nhuần nhuyễn với các kĩ thuật dạy học
như: Kĩ thuật động não, kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ
thuật khăn trải bàn, kĩ thuật viết tích cực và đặc biệt là kĩ thuật “Bản đồ tư duy” – một kĩ
thuật dạy học đang được ứng dụng nhiều trong các môn học hiện nay.
I.1.2. Cơ sở thực tiễn:
* Thuận lợi:

- Trao đổi và học hỏi với các đồng chí GV cùng huyện về những nội dung trong
chuyên đề này, qua đó củng cố thêm các phương pháp, các kĩ thuật dạy học bộ môn.
- Giúp giáo viên nắm chắc hơn kĩ thuật dạy học Bản đồ tư duy khi vận dụng vào môn
GDCD.
- Thông qua Bản đồ tư duy, GV có thêm một biện pháp để dạy dạy môn GDCD
- Giúp học sinh có thêm một phương pháp để ghi nhớ kiến thức thông qua sơ đồ tư duy.
- Phát huy tính tích cực - chủ động của HS trong các giờ học.
I.3.Thời gian - địa điểm:
I .3.1 Thời gian :
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 9/2012 đến tháng 4/2013.
I .3.2 Địa điểm :
Đề tài này nghiên cứu tại Trường PTCS Đại Dực.
I. 3.3 Phạm vi đề tài :
I. 3.3.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu :
Một số biện pháp ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy chương trình GDCD Lớp 9
tại Trường PTCS Đại Dực.
I .3.3.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu :
- Nơi nghiên cứu : Xã Đại Dực – huyện Tiên Yên - tỉnh Quảng Ninh .
I. 3.3.3. Giới hạn về khách thể nghiên cứu :
- Học sinh lớp 9 trường PTCS Đại Dực: 28 học sinh.
I.4. Phương pháp nghiên cứu
I. 4.1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động :
Cách tiến hành :
- Thu thập các phiếu điều tra GDCD học sinh 9.
- Đọc, thống kê chất lượng bài làm của học sinh.
I. 4.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia :
Cách tiến hành :
- Trao đổi với giáo viên dạy GDCD trường PTCS Đại Dực về nội dung chuyên
đề.
- Xin ý kiến của các giáo viên của trường PTCS Đại Dực về thực trạng cũng như

đồ tư duy từ đó điều chỉnh cho hợp lí nhằm đạt kết quả cao trong dạy và học.
I.5. Đóng góp về mặt lí luận, về mặt thực tiễn:
I.5.1 Về mặt lí luận:
Áp dụng kĩ thuật Bản đồ tư duy trong dạy học nói chung và giảng dạy bộ môn
GDCD nói riêng là nhằm đảm bảo thực hiện một cách tốt nhất chuẩn kiến thức kĩ năng
của một đơn vị kiến thức. Do vậy khi áp dụng bản đồ tư duy trong dạy học cần phải
hướng đến mục tiêu này để tránh tuyệt đối hóa vai trò của kĩ thuật “Bản đồ tư duy” dẫn
đến coi nhẹ các kĩ thuật và phương pháp dạy học khác.
Khi sử dụng Bản đồ tư duy cần phải kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực.
Đồng thời tránh lạm dụng kĩ thuật Bản đồ tư duy để từ đó làm mất thời gian của tiết học
mà không đảm bảo được chuẩn kiến thức kĩ năng.
I.5.2.Về mặt thực tiễn:
Để thực hiện việc dạy học bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng có hiệu quả, góp phần
nâng cao chất lượn dạy học, bản thân tôi thấy thực tế việc áp dụng kĩ thuật Bản đồ tư
duy trong dạy học trong môn GDCD lớp 9 tại Trường PTCS Đại Dực cần đảm bảo một
số yêu cầu sau:
* Đối với giáo viên:
- Cần nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc các phương pháp dạy học, các kĩ thuật
dạy học hiện nay để thiết kế các bài soạn giảng có chất lượng nhất là các bài ôn tập, tổng
kết.
3
Một số biện pháp ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy môn GDCD Lớp 9 tại Trường PTCS Đại Dực.
- Cần nắm chắc “Bản đồ tư duy” cả về cài đặt và sử dụng, từ đó vận dụng vào soạn bài
một cách thường xuyên.
- Cần kết hợp tốt các phương pháp dạy học với kĩ thuật “Bản đồ tư duy” vào giảng dạy.
- Trao đổi với đồng nghiệp dạy cùng khối, với tổ chuyên môn để tìm ra phương pháp phù
hợp dạy bài tổng kết, ôn tập. Trao đổi để thiết kế sơ đồ tư duy cho có hiệu quả.
- Hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy vào vở, cách học theo sơ đồ tư duy để dễ nhớ
kiến thức, cao hơn các em có thể tự tạo sơ đồ tư duy cho các đơn vị kiến thức.
* Đối với học sinh:

Ưu điểm của Bản đồ tư duy:
- Bản đồ tư duy: là một công cụ ghi chép rất nhanh nên tiết kiệm thời gian:
+ Chỉ ghi chú các từ liên quan, tiết kiệm từ 50 – 95% thời gian.
+ Thời gian ôn bài ghi chú dạng Sơ đồ tư duy tiết kiệm 90% thời gian.
- Bản đồ tư duy sử dụng nhiều màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu, từ khóa, không gian vì
thế:
4
Một số biện pháp ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy môn GDCD Lớp 9 tại Trường PTCS Đại Dực.
+ Bản đồ tư duy giúp kích thích sự sáng tạo, ghi nhớ lâu giúp việc học tập được nhẹ
nhàng hơn.
+ Tăng cường tập trung vào trọng tâm.
+ Dễ dàng nhận biết các từ khóa thiết yếu (chủ đề trọng tâm).
+ Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung tức thời những từ khóa thiết
yếu.
+ Tạo mối liên kết mạch lạc tối ưu giữa các Từ khóa.
- Suốt quá trình thực hiện Sơ đồ tư duy, chúng ta luôn bắt gặp cơ hội khám phá tìm hiểu,
tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận.
- Lập Sơ đồ tư duy hòa điệu với bản năng khát khao tụ điền chỗ khuyết và tìm sự hoàn
thiện của bộ não, nhờ đó khôi phục bản năng hiếu học.
- Giúp chúng ta dễ dàng tổng kết, khái quát tất cả các kiến thức, có thể kiến thức trong
một phần, một bài, một chương
Bản đồ tư duy sẽ giúp người học:
II.2.CHƯƠNG II: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
II.2.1. Thực trạng của việc áp dụng kĩ thuật Bản đồ tư duy trong dạy học môn GDCD
lớp 9:
Năm học 2012 - 2013 là năm Sở Giáo dục chỉ đạo thực hiện dạy học kết hợp với việc
rèn kĩ năng sống cho học sinh. Cùng với đó là việc đổi mới trong đánh giá hạnh kiểm của
học sinh gắn liền với môn giáo dục công dân
Đây là một thử thách đối với giáo viên nói chung và giáo viên bộ môn GDCD nói
riêng. Bởi làm sao vừa đảm bảo thực hiện được chuẩn kiến thức kĩ năng của một đơn vị


*Biện pháp thứ 2: Kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực: PP DH
nhóm, PP vấn đáp, PP trò chơi với kĩ thuật Bản đồ tư duy để rèn kĩ năng sống
cho HS:
GV có thể sử dụng bản đồ tư duy câm (để trống các nội dung của nhánh cấp 1, cấp
2, cấp 3 ) cho HS thảo luận nhóm để điền các nội dung vào các nhánh, đồng thời có thể
bổ sung thêm nhánh mới cho BĐ tư duy. ( Hoặc tổ chức cho HS tự lập Bản đồ tư duy.)
Đồng thời, GV cũng chia lớp thành 2 hoặc 4 đội và tổ chức thi giữa các nhóm
trong 1 thời gian nhất định. Đại diện nhóm trình bày kết quả trước lớp từ đó có thể rèn
kĩ năng sống (Kĩ năng tự tin, hợp tác, giải quyết vấn đề, sáng tạo ) học sinh có thể tự so
sánh giữa các nhóm với nhau tọa động lực để HS thi đua, đồng thời GV và HS có thể
vừa tự đánh giá được kết quả hoạt động của từng nhóm.
. Sau đó các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
Ví dụ: Khi làm bài tập 4 bài “Tình hữu nghị giữa các dân tộc” : y/c các nhóm
lập kế hoạch hoạt động thể hiện tình hữu nghị với thiếu nhi các trường khác, các địa
phương khác, nước khác và hành động theo kế hoạch đã lập ra.
*Biện pháp thứ 3: Tạo liên kết từ các nhánh cấp 2 của Bản đồ tư duy tới các
bài tập (hoặc sơ đồ hóa các bài tập)
- Các bài tập trong môn GDCD thường là những bài tập ngắn nên GV có thể hướng
HS dẫn trả lời các bài tập rồi điền vào các nhánh cấp 2, 3 của BĐTD. Từ đó sẽ tạo được
sự liên kết một cách có hệ thống giữa bài tập với các kiến thức mà HS đã học sẽ giúp
HS dễ hiểu, dễ nhớ hơn.
VD: Bài 16 “Quyền tham gia quản lí nhà nước, quản lí XH của công dân”
7
Một số biện pháp ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy môn GDCD Lớp 9 tại Trường PTCS Đại Dực.
*Biện pháp thứ 4: Tạo Bản đồ tư duy câm (để trống các nhánh cấp 1, 2, 3 ) để
củng cố bài.
Để củng cố khả năng ghi nhớ, GV dùng sơ đồ tư duy dưới dạng câm để HS điền
vào. Qua đó, giúp HS dễ nhớ, hệ thống được kiến thức, mà tiết kiệm thời gian cho tiết
học.

bào thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng. Học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính
độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
9
Một số biện pháp ứng dụng Bản đồ tư duy trong giảng dạy môn GDCD Lớp 9 tại Trường PTCS Đại Dực.
Với việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi rất mong sẽ góp một phần
vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng học sinh Trường PTCS Đại Dực nói riêng và
học sinh vùng cao trong huyện nói chung. Nhưng do kinh nghiệm giảng dạy của đội ngũ
GV dạy môn GDCD còn nhiều hạn chế do đó chuyên đề này sẽ không tránh khỏi những
khiếm khuyết, chúng tôi rất mong các đồng chí đồng nghiệp, các đ/c lãnh đạo chuyên
môn Phòng GD, BGH nhà trường, góp ý kiến để chuyên đề đầy đủ hơn.
III.2. Kiến nghị:
- Để nâng cao trình độ chuyên môn, kiến nghị cấp lãnh đạo, Phòng Giáo Dục tổ chức
các buổi chuyên đề, hội giảng để các giáo viên có điều kiện học hỏi, trao đổi kinh
nghiệm lẫn nhau.
- Các Đ/c cùng chuyên môn có thể chia sẻ bài soạn có kĩ thuật BĐTD và đưa lên Cổng
thông tin của ngành để GV khác tham khảo.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status