đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THU QUỲNH

ĐA DẠNG HOÁ LOẠI HÌNH KINH DOANH
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội - 2009

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 88
MỞ ĐẦU 1
I. Tính cấp thiết của đề tài 1
II. Tình hình nghiên cứu 2
III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
V. Phương pháp nghiên cứu 5
VI. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn 5
VII. Bố cục của luận văn 6

Chương 1: Một số vấn đề chung về đa dạng hóa loại hình kinh doanh của
Ngân hàng thương mại 7
1.1. Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại 7
1.1.1. Khái niệm năng lực cạnh của ngân hàng thương mại 7
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại 8
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
thương mại: 15
1.2. Đặc điểm loại hình kinh doanh của ngân hàng: 18
1.3.Đa dạng hóa loại hình kinh doanh và vấn đề nâng cao năng lực cạnh
tranh cho ngân hàng trong bối cảnh hội nhập: 20
1.3.1. Khái niệm đa dạng hoá: 20
1.3.2. Lợi ích từ đa dạng hoá loại hình kinh doanh đối với Ngân hàng:
21 86
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về đa dạng hoá loại hình kinh doanh để nâng cao

năng lực cạnh tranh ở Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 51
3.1. Môi trường kinh doanh mới của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Nam 51
3.2. Định hướng hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
trong giai đoạn tới 53
3.2.1. Định hướng chung 53
3.2.2. Định hướng đa dạng hoá loại hình kinh doanh 56
3.3. Một số giải pháp cơ bản 58
3.3.1. Nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính và sức cạnh
tranh của các ngân hàng 58
3.3.2. Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hoá loại
hình kinh doanh 65
3.3.3. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực
dịch vụ ngân hàng 75

KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
88
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
Từ viết tắt
Giải nghĩa
NHĐT&PTVN
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHNNg

Ngân hàng thế giới
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới 1
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế thế giới đang chuyển mình vận động theo xu hướng quốc tế
hóa, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vì vậy đòi hỏi nước ta phải thực
hiện đường lối đổi mới cho phù hợp với tiến trình phát triển chung của nhân
loại. Trên quan điểm đó, Đảng và Nhà nước ta đang từng bước thực hiện triệt
để đường lối đổi mới kinh tế theo xu hướng hội nhập. Hiện nay Việt Nam
cũng đã trở thành thành viên chính thức của WTO từ năm 2007. Vì vậy, yêu
cầu cấp thiết đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải nhận diện được những
cơ hội cũng như thách thức trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng để kịp thời có
những bước cải cách thích hợp nhằm hạn chế tối đa những rủi ro đối với nền
kinh tế trong nước, cũng như đảm bảo để Việt Nam trở thành nước có vị thế
trên trường quốc tế. Không nằm ngoài quỹ đạo chung, Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam đã và đang không ngừng đổi mới để nâng cao sức cạnh
tranh của mình trên thị trường và trở thành một trong những ngân hàng chủ
lực trong lĩnh vực đầu tư và phát triển.
Tuy nhiên, cho đến nay hoạt động của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Các hoạt động của ngân hàng
vẫn chủ yếu là hoạt động ngân hàng truyền thống, chưa đa dạng nên chưa đáp
ứng được các nhu cầu khác nhau của khách hàng.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đang trong tiến trình hội
nhập và cũng đã có những cam kết trong việc tham gia hội nhập của mình với
các thể chế tài chính trong khu vực và quốc tế. Theo những cam kết đó các
Ngân hàng thương mại đã có những lộ trình cụ thể để thực hiện và tuân theo.
3
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình và bài viết đề cập cụ
thể, chi tiết đến vấn đề phát triển dịch vụ ngân hàng để nâng cao năng lực
cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đặc biệt là sau khi
Việt Nam gia nhập WTO
Do đó, với đề tài: “Đa dạng hóa loại hình kinh doanh nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”,
tác giả muốn đóng góp một cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về đa dạng hóa
các loại hình dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam nhằm tăng vị thế, năng lực cạnh tranh của ngân hàng này trong quá trình
hội nhập và phát triển.
III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
 Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ lý luận cạnh tranh, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
của ngân hàng TMCP, những luận cứ khoa học về sự cần thiết phải
nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam góp phần phát
triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
- Làm rõ thực trạng về năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam và
những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt
Nam.
 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá những đóng góp cho nền kinh tế và những tồn tại trong năng
lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, đồng thời phân tích một số
nguyên nhân của những tồn tại này và đưa ra những đề xuất để nâng
cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, góp phần phát triển
kinh tế trong thời kỳ hội nhập.
chính của BIDV (huy động vốn, tín dụng, thanh toán trong và ngoài nước),
số liệu vể các lĩnh vực hoạt động của hệ thống BIDV trong khoảng thời
gian từ năm 2005 đến năm 2008.
V. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở phân tích số liệu quá
khứ từ các thông tin tài liệu, báo cáo đã được công bố và định
hướng phát triển Ngành để đưa ra xu hướng vận động và phát triển
của đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, so sánh: Trên cơ sở thống kê các số liệu thu
thập được trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể của từng năm, so sánh
hiệu quả hoạt động qua các năm và với một số ngân hàng khác trong
cùng một lĩnh vực hoạt động cũng như là thời gian hoạt động
- Phương pháp tư duy lôgic: Dựa trên những số liệu thực tế để đánh
giá mức độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của các lĩnh vực dịnh vụ,
thế mạnh cần phát huy cũng như là vị thế năng lực cạnh tranh của
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam trong quá trình hội nhập,
làm cơ sở để vạch ra những chiến lược giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của Ngân hàng này.
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: trên cơ sở
những số liệu trong quá khứ làm căn cứ để đưa ra những đánh giá,
nhận định tình hình hoạt động của ngân hàng.
VI. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh,
khái quát xu thế cạnh tranh của các NHTM trong thời gian tới, đánh giá
những điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ và thách thức của các NHTM Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. 6
Phân tích đầy đủ và toàn diện hơn về các loại hình dịch vụ của ngân

doanh nghiệp đặt ra. Năng lực cạnh tranh có thể chia làm 3 cấp:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được
tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã
hội, nâng cao đời sống của nhân dân.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng
thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
trong và ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện
qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà
doanh nghiệp đó đạt được.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ: được đo bằng thị phần
của sản phẩm dịch vụ thể hiện trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của
sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào lợi thế cạnh tranh của nó. Nó dựa vào
chất lượng, tính độc đáo của sản phẩm, dịch vụ, yếu tố công nghệ chứa
trong sản phẩm dịch vụ đó. 8
Cũng giống như mọi doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại cũng là một
doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt, vì thế Ngân hàng thương mại
cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Do vậy, các Ngân hàng
thương mại cũng tìm đủ mọi biện pháp để cung cấp sản phẩm, dịch vụ có chất
lượng cao với nhiều lợi ích cho khách hàng, với mức giá và chi phí cạnh tranh
nhất, bên cạnh sự đảm bảo về tính chính xác, độ tin cậy và sự tiện lợi nhất
nhằm thu hút khách hàng, mở rộng thị phần nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất
cho ngân hàng. Do vậy, cạnh tranh trong Ngân hàng thương mại cũng là sự
tranh đua, giành giật khách hàng dựa trên tất cả những khả năng, tiềm lực, lợi
thế mà ngân hàng có được để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng thông
qua việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, mang tính đặc
trưng riêng của mình so với các Ngân hàng thương mại khác trên thị trường,
tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo được uy tín,

toán ngay. Chỉ tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng được
nhu cầu tiền mặt của người tiêu dùng. Khi nhu cầu về tiền mặt của người gửi
tiền bị giới hạn, thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm một cách đáng kể, kết
quả là ngân hàng đó sẽ bị phá sản nếu để điều này xảy ra.
 Khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của Ngân
hàng thương mại. Mức sinh lời được phân tích qua các thông số sau:

(tỷ lệ thu nhập sau thuế trên vốn tự có – return on equity)
ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu 10

(tỷ lệ thu nhập sau thuế trên tổng tài sản – return on assets)

ROA: thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản - đánh giá công tác
quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng
thành thu nhập ròng.
 Mức độ rủi ro:
Mức độ rủi ro của ngân hàng thường được đo lường bằng 2 chỉ tiêu cơ bản
sau:
- Hệ số an toàn vốn (CAR: capital adequacy ratio): Chính là tỷ lệ giữa
vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi (theo ủy ban giám
sát tín dụng Basel). Theo chuẩn quốc tế thì CAR tối thiểu phải phải đạt
8%. Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng
càng mạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân
hàng càng lớn.
- Chất lượng tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn): Chất lượng tín dụng thể hiện
chủ yếu thông qua tỷ lệ nợ quá hạn/tổng nợ. Nếu tỷ lệ này thấp cho

 Về số lượng lao động:
Để có thể mở rộng mạng lưới nhằm gia tăng thị phần và phục vụ khách
hàng, các Ngân hàng thương mại nhất định phải có lực lượng lao động đủ
về số lượng. Tuy nhiên, cũng cần so sánh chỉ tiêu này trong mối tương
quan với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh để nhìn nhận năng
suất lao động của người lao động trong ngân hàng.
 Về chất lượng lao động:
Chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng thể hiện qua các tiêu chí: 12
- Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động: bao gồm trình độ học vấn và
các kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình,
ra quyết định, giải quyết vấn đề,… Tiêu chí này khá quan trọng vì nó là
nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học
hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ.
- Kỹ năng quản trị đối với nhà điều hành, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ đối với nhân viên: đây là tiêu chí quan
trọng quyết định đến chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách
hàng. Ngân hàng thương mại cần một đội ngũ nhân viên với kỹ năng
nghiệp vụ cao, có khả năng tư vấn cho khách hàng để tạo được lòng tin với
khách hàng, qua đó tạo được ấn tượng tốt về ngân hàng.
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định
đối với năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại. Chất lượng
nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ đồng thời lại chính
là năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai. Có một đội ngũ cán bộ
thừa hành và nhân viên giỏi, có khả năng sáng tạo và thực thi chiến lược sẽ
giúp ngân hàng hoạt động ổn định và phát triển bền vững. Có thể khẳng định
nguồn nhân lực đủ về số lượng và đầy đủ về chất lượng là một biểu hiện năng
lực cạnh tranh cao của Ngân hàng thương mại.

nghiệp.
Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong ngân
hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong
hoạt động ngân hàng. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân
hàng có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn. Thông thường
đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành của một ngân hàng người ta
xem xét đánh giá các chuẩn mực và các chiến lược mà ngân hàng xây dựng
cho hoạt động của mình. Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng trưởng theo thời 14
gian và khả năng vượt qua những bất trắc là bằng chứng cho năng lực quản trị
cao của ngân hàng.
Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là:
- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing
(xây dựng uy tín, thương hiệu), phân khúc thị trường, phát triển sản phẩm
dịch vụ,
- Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng
hiệu quả.
- Sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.1.2.6. Danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác:
Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố uy tín của
ngân hàng đó, tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định sự sống
còn đến hoạt động của ngân hàng với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của
người tiêu dùng mang lại. Vì thế, danh tiếng và uy tín của Ngân hàng thương
mại là yếu tố nội lực vô cùng to lớn, nó quyết định sự thành công hay thất bại
của ngân hàng đó trên thương trường. Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng
lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của Ngân hàng
thương mại.
Tuy nhiên, uy tín của Ngân hàng thương mại chỉ được tạo lập sau một

- Độ mở cửa của nền kinh tế thể hiện qua các rào cản, sự gia tăng nguồn
vốn đầu tư trực tiếp, sự gia tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu.
- Tiềm năng tài chính, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp hoạt
động trên địa bàn trong nước cũng như xu thế chuyển hướng hoạt động
của các doanh nghiệp nước ngoài vào trong nước.
Các yếu tố này tác động đến khả năng tích lũy và đầu tư của người dân,
khả năng thu hút tiền gửi, cấp tín dụng và phát triển các sản phẩm của Ngân 16
hàng thương mại, khả năng mở rộng hoặc thu hẹp mạng lưới hoạt động của
các ngân hàng…. Từ đó làm giảm hay tăng nhu cầu mở rộng tín dụng, triển
khai các dịch vụ, mở rộng thị phần của Ngân hàng thương mại. Để đạt được
các mục tiêu trên, các Ngân hàng thương mại sẽ áp dụng các chiến lược khác
nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
Sự biến động của nền kinh tế thế giới sẽ tác động đến lưu lượng vốn của
nước ngoài vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư trực tiếp và gián
tiếp. Ngoài ra, chúng ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung của các Ngân
hàng thương mại, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có tham giao quan hệ thanh
toán, mua bán với các doanh nghiệp trong nước cũng như các Ngân hàng
thương mại trong nước. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng
thương mại trong nước và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các Ngân
hàng thương mại trong nước.
 Hệ thống pháp luật, môi trường văn hóa, xã hội, chính trị:
Với đặc điểm đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của NHTM chịu chi
phối và ảnh hưởng của rất nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, luật dân sự,
luật xây dựng, luật đất đai, luật cạnh tranh, luật các tổ chức tín dụng. Bên
cạnh đó, Ngân hàng thương mại còn chịu sự quản lý chặt chẽ từ NHNN và
được xem là một trung gian để NHNN thực thi các chính sách tiền tệ của
mình. Do vậy, sức mạnh cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại phụ thuộc

nhiều sự lựa chọn. Các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng sẽ
ngày càng cao và khắt khe hơn cả về chất lượng, giá cả, các tiện ích lẫn phong
cách phục vụ. Đây vừa là động lực và áp lực buộc các ngân hàng phải đổi mới 18
và hoàn thiện mình hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình.
1.1.3.3. Sự phát triển của thị trường tài chính và các ngành phụ trợ liên quan
với ngành ngân hàng
Thị trường tài chính trong nước phát triển mạnh là điều kiện để các
ngân hàng phát triển và gia tăng cùng đầu tư vào một ngành có lợi nhuận, từ
đó dẫn đến gia tăng mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau.
Mặt khác, đặc điểm hoạt động của các loại hình định chế tài chính có
mối liên hệ rất chặt chẽ và có sự bổ trợ lẫn nhau, như ngành bảo hiểm và thị
trường chứng khoán với ngân hàng. Sự phát triển của thị trường bảo hiểm và
thị trường chứng khoán một mặt chia sẻ thị phần với ngân hàng, mặt khác lại
hỗ trợ cho sự tăng trưởng của ngân hàng thông qua việc cắt giảm chi phí và
tạo điều kiện để các ngân hàng đa dạng hóa dịch vụ, tăng khả năng cạnh tranh
nhờ tận dụng lợi thế theo phạm vi, mở rộng mạng lưới khách hàng thông qua
khách hàng kinh doanh chứng khoán, mua bảo hiểm (phát triển dịch vụ cho
vay và cầm cố chứng khoán, giấy tờ có giá, mở rộng kênh huy động vốn….)
Ngoài ra, sự phát triển của ngân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào sự
phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển của các ngành, lĩnh
vực kinh doanh khác như tin học viễn thông, giáo dục đào tạo, kiểm toán. Đây
là những ngành phụ trợ mà sự phát triển của nó sẽ giúp ngân hàng nhanh
chóng đa dạnh hóa các dịch vụ, tạo lập thương hiệu và uy tín, thu hút nguồn
nhân lực cũng như có những kế hoạch đầu tư hiệu quả trong một thị trường tài
chính vững mạnh.
1.2. Đặc điểm loại hình kinh doanh của ngân hàng:

chất lượng. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố
khác nhau như trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ và trình độ

Trích đoạn Dịch vụ thanh toán trong nước Dịch vụ thanh toán ngoài nước Những mặt mạnh Hạn chế và nguyên nhân: Môi trường kinh doanh mới của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status