TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠMBÀI TIỂU LUẬN
TÂM LÍ HỌC LỨA TUỔI VÀ SƯ PHẠM
Sinh viên thực hiện : Vò Tè Thoa
Lớp : K2- 05
Giảng viên : Trần Văn Tính
HÀ NỘI _12/ 09/ 05
Đề bài: ý nghĩa của việc cho trẻ tuổi Êu nhi thao tác với đồ vật với sự phát
triển tâm lí trẻ em.
Bài làm
A_Lí do viết bài :
Tõ xa xưa loài người đã quan tâm đến các hiện tượng tâm lí . Nhưng trong mét thời
gian dài tâm lí học chỉ là mét bộ phận của triết học. Đến thế kỉ 19 điều kiện lịch sử đã
thay đổi, nền kinh tế xã hội phát triển manh mẽ, do đó các ngành khoa học cũng không
ngừng phát triển, cùng với sự phát triển đó tâm lí học cũng phát triển mạnh mẽ và trở
thành một nghành khoa học độc lập khi phòng thực nghiệm tâm lí học và Wundt cuối thế
kỉ 19 ở Leipzig . từ đó nảy sinh ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu tâm lí có tính chất
riêng biệt, khiến nghành tâm lí học ứng dụng được phát sinh Tâm lí học lứa tuổi và tâm
lí học sư phạm _ sù ứng dụng tâm lí học vào sư phạm lứa tuổi_ là các chuyên nghành
đó đòi hỏi phải có phương pháp đối xử riêng biệt, thích hợp với lứa tuổi. Có thể phương
pháp này thích hợp với trẻ nhỏ nhưng lại không áp dụng được với thiếu niên. Nếu không
chú ý đến điều đó thì giáo viên dù có am hiểu khoa học đến đâu cũng khó đạt được kết
quả tốt trong công tác của mình. Có thể khẳng định sự hiểu biết về TLHLT & TLHSP là
điều kiẹn cần thiết để tổ chức có hiệu quả và đúng đắn quá trình học tập và giáo dục. Tất
cả những thay đổi tõ mét đứa trẻ sơ sinh đến chỗ biết hành động theo mục đích đã định…
không mang tính chất ngẵu nhiên
mà diễn ra có quy luật, có nguyên nhân của nó. Nếu sù thay đổi ở một đúa trẻ nào đó diễn
ra sớm hơn hoặc muộn hơn hoăc không bình thường thì bao giờ cũng có nguyên nhân
nhất định. Những kiến thức TLHLT & TLHSP sẽ giúp ta tìm ra những nguyên nhân đó,
đưa ra được những biện pháp tác độnh hợp lý hơn và có ý thức hơn nhằm ngăn ngừa
những khuyết điểm đó hoặc những thất bại có thể xảy ra trong hoạt động của học sinh. Sù
hiểu biết về TLHLT & TLHSP là điều kiện cần thiết để tổ chức hiệu quả và đúng đắn quá
trình học tập và giáo dục. Những kiến thức về TLHLT & TLHSP giúp các nhà giáo dục
chuẩn đoán trước sự phát triển nhân cách trẻ từ đó định hướng được sự phát triển Êy. Đó
cũng chính là mục đích của tôi khi viết bài tiểu luận này với mong muốn tìm hiểu thêm
và có thêm hiểu biết , kiến thức trong việc nắm bắt được sù thay đổi trong tâm lí trẻ , đặc
biệt là giai đoạn trẻ tuổi Êu nhi . Để từ đó có thêm mét sè kinh nghiệm cần thiết treong
hoạt động công tác cũng như trong cuộc sống sau này .
C - Nội dung
Để nắm rõ được ý nghĩa của việc cho trẻ tuổi Êu nhi thao tác với đồ vật đối với sự
phát triển tâm lí trẻ em , tôi muốn trình bày mét sè những vấn đề về sự phát triển tâm lí
trẻ em.
Mét sè quan điểm về sự phát triển tâm lí trẻ em:
Dựa trên những quan điểm triết học khác nhau người ta hiểu về
trẻ em rất khác nhau có quan niệm cho rằng trẻ em là “ người lớn thu
nhỏ lại” , sù khác nhau giữa trẻ em và người lớn về mọi mặt ( cơ
thể , tư tưởng , tình cảm…) chỉ ở tầm cỡ , kích thước , chứ không
khác nhau về chất . Nhưng ngay từ thế kỉ 18 Rutxo đã nhận xét rất
tinh tế về những đặc điểm tâm lí của trẻ nhỏ . Theo ông, trẻ em
trang bị gen.
Những người theo quan điểm này cũng nhắc tới yếu tố môi trường, song đó chỉ là
yếu tố có tính chất điều chỉnh và được coi như một nhân tố bất biến nào đó ở trẻ. Nhà tâm
lí học người Mỹ E. Toocđai cho rằng: Tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất định,
giáo dục cần làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nã bằng phương tiện tốt nhất và
vốn tự nhiên đó đặt ra giới hạn cho sù phát triển, cho nên mét bộ phận học sinh không đạt
được kết quả nào dù có giảng dạy tốt, số khác lại tỏ ra có thành tích tốt dù giảng dạy tồi.
Như vậy vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp. Giáo dục chỉ là nhân tố bên ngoài có khả
năng tăng nhanh hoặc kìm hãm quá trình bộc lộ những phẩm chất tự nhiên, bị chế ước
bởi tính di truyền. Theo họ, mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều
là sự tuỳ tiện không thể tha thứ được. Đây là một kết luận sư phạm sai lầm .
- Thuyết duy cảm: Đối lập với thuyết tiền định thuyết duy cảm giải thích sự phát
triển tâm lí trẻ bằng sự tuỵệt đối hoá môi trường xung quanh .
Họ cho rằng đây là yếu tố duy nhất quyết định sự phát triển tâm lí của trẻ. Từ đó họ
khẳng định: muốn nghiên cứu con người chỉ cần nghiên cứu môi trường sống của họ.
Môi trường xung quanh như thế nào thì nhân cách của con người, cơ chế hành vi, những
con đường phát triển của hành vi sẽ như thế đó. Họ hiếu một cách siêu hình về môi
trường, cho rằng môi trường là bất biến quyết định trước tâm lí của con người, con người
thụ động trước môi trường. Quan điểm này bắt nguồn từ nước Anh coi trẻ em sinh ra như
tờ giấy trắng hoặc tấm bảng sạch sẽ, sự phát triển tâm lí của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào
tác động bên ngoài, do vậy người lớn muốn vẽ gì thì nó nên thế. Nhưng quan niệm như
vậy sẽ không giải thích được vì sao trong mét môi trường hoặc trong môi trường như
nhau lại có những nhân cách khác nhau.
- Thuyết hội tụ hai yếu tố: Những người theo thuyết này tính tới tác động của cả
hai yếu tố (môi trường và tính di truyền) khi nghiên cứu sự phát triển tâm lí của trẻ em.
Nhưng họ hiểu sự tác động của hai yếu tố đó
+ Không đề cập tới tính tích cực của cá nhân trong quá trình phát triển của tâm lí
: Họ đã phủ nhận tính tích cực riêng của cá nhân , coi thường những mâu thuẫn biện
chứng được hình thành trong quá trình phát triển tâm lí. Coi đứa trẻ là một thực thể tự
nhiên, thụ dông cam chịu ảnh hưởng có tính chất quyết định của yếu tố sinh vật hoặc môi
giáo dục khác nhau tạo nên sự hình thành phát triển nhân cách của học sinh khác nhau.
Tóm lai, giáo dục giữ vai trò chủ đạo, định hướng sự phát triển tâm lí của trẻ
em. Giáo dục có thể tác động tới mọi yếu tố bên trong cũng như bên ngoài ảnh hưởng đến
sự phát triển tâm lí trẻ em. Tuy nhiên, giáo dục không phải là vạn năng. Sự phát triển tâm
lí trẻ em còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện sinh học, môi trường, và khả năng
hoạt động của trẻ.
e _ Quy luật về sự phát triển không đồng đều trong tâm lí trẻ em
Trong những điều kiện bất kì, thậm chí ngay trong những điều kiện thuận lợi
nhất của việc giáo dục thì những biểu hiện tâm lí, những chức năng tâm lí khác nhau…
cũng không thể phát triển ở mức độ như nhau. Co những thời kì tối ưu đối với sự phát
triển một hình thức hoạt động tâm lí nào đó: Ví dụ: giai đoạn thuận lợi cho sù phát triển
ngôn ngữ là thời kì 1 đến 5 tuổi, cho sù hình thành nhiều kĩ xảo vận động là khoảng 6 đến
11 tuổi, cho sù hình thành tư duy toán học là giai đoạn tõ 15 - 20 tuổi.
Ngay trong sù phát triển cơ thể của trẻ em thể hiện tính không đồng đều. Ví
dụ, chiều cao và trọng lượng của trẻ tăng nhanh trong khoảng hai năm đầu và trong thời
kì phát dục.
Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lí còn thể hiện ở chỗ khác biệt về
sự phát triển tâm lí giữa các cá nhân ngay trong cùng một độ
Hệ thần kinh trẻ em rất mềm dẻo. Dựa trên tính mềm dẻo của hệ thần kinh mà tác
động của giáo dục có thể làm thay đổi tâm lí trẻ em.
Tính mềm dẻo cũng tạo ra khả năng bù trừ. Khi mét chức năng tâm lí hoặc sinh lí
nào đó yếu hoặc thiếu thì các cức năng tâm lí khác được tăng cường phát triển mạnh hơn
để bù đắp hoạt động không đầy đủ của chức năng bị yếu hoặc hang đó. Ví dụ: khuyết tật
thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ hoạt động của thính giác, khứu giác. Trí
nhớ kém có thể bù đắp bằng tính tổ chức cao, tính chinh xác trong hoat động.
Đó là mét sè quy luật cơ bản của sự phát triển tâm lí trẻ em. Nhưng những quy
luật đó chỉ là mét xu thế mà sự phát triển tâm lí của trẻ có thể xảy ra. Những quy luật đó
có sau so với ảnh hưởng của môi trường( trong đó có giáo dục ). Sù phát triển và ngay cả
tính độc đáo của những xu thế đó còng phụ thuộc vào điều kiện sống của trẻ em (trước
hết là giáo dục).
triển tâm lí của trẻ hoặc có thể đi nhanh hoặc chậm hơn… là do ta có biết vận dụng thời
gian và điều kiện giáo dục để tổ chức cuộc sống của trẻ, tổ chức sự tiếp xúc của trẻ với
thế giới xung quanh có tốt hay không.
b _ Phân chia giai đoạnh phát triển tâm lí trẻ em
- Giai đoạn trước tuổi đi học:
+ Tuổi sơ sinh: Thời kì 2 tháng đầu sau khi sinh.
+ Tuổi hài nhi: Thời kì 2 tháng đến 12 tháng.
+ Tuổi vườn trẻ: Tõ 1 đến hết 3 năm.
+ Tuôỉ mẫu giáo: Tõ 3 đến hết 5 năm.
- Giai đoạn tuổi học sinh :
+ Thời kì đầu tuổi học hay nhi đồng: Tõ 6 đến 11, 12 tuổi.
+ Thời kì giũă tuổi học hay thiếu niên: Tõ 11, 12 đến 14,
15 tuổi.
Ngày nay không riêng gì trẻ em thành phố, đô thị mà ngay cả trẻ em nông thôn
cũng chịu thiệt thòi là không còn khoảng không gian rộng rãi thoáng mát để vui chơi giải
trí. Không được vận động đều đặn cơ thể các em sẽ bị ứ đọng, chậm chạp và mắc nhiều
bệnh tật như dư cân, béo phì, cận thị mắt mờ, rối loạntiêu hoá, rối loạn thần kinh… Theo
các chuyên gia Tổ chức sức khoẻ nhi đồng Thế giới thi trẻ ở độ này nếu năng tham gia
các hoạt động thể thao, vui chơi hoạt động sẽ có khuynh hướng luôn nhanh nhẹn và linh
hoạt suốt cuộc đời. Hoạt động vui chơi còn chống được nhiều bệnh nghiêm trọng như đau
tim, đột quỵ và nhất là giúp trẻ trở lên linh hoạt thông minh, giải quyết nhiều khó khăn
trong cuộc sống, trong học tập… Nhà nghiên cứu trí tuệ J. Plaget từng chứng minh rằng:
“Những trẻ không biết đi giật lùi, sau này sẽ gặp khó khăn trong việc học tính trừ”. Như
mét nhu cầu tư nhiên, mọi đứa trẻ đều thích vận động. Trẻ sơ sinh vừa lọt lòng mẹ đã ngọ
nguậy chân tay. Nhiều trẻ vài ba tháng tuổi thích mẹ làm động tác kéo chân tay, rướn
người cho bé… Khi trẻ tập đi, nếu được dắt đi trong sân vườn rộng rãi trẻ sẽ biết đi
nhanh hơn là tập trong phòng quá chật hẹp. Lớn lên mét chót, trẻ có nhu cầu chơi theo sở
thích như đuổi bắt trốn tìm, nhào lộn với bơi lội, đá bóng… Mỗi trò chơi vận động đều
giúp trẻ phát triển trí tuệ và năng khiếu riêng. Được tham gia vào các trò chơi vận động
đều đặn mỗi ngày, trẻ sẽ cảm thấy khoẻ khoắn và tự tin. Sù nhanh nhẹn giúp trẻ có lòng
ngữ tự trị”
Trẻ nhận ra mình theo những dấu hiệu bên ngoài. Trẻ hiểu được mình có thể làm
được việc này hay việc khác, trẻ có nhận xét về mình (thông qua nhận xét của người lớn).
Trẻ tự nhận thức hành động của mình theo thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Đây
cũng là nguyên nhân làm cho đứa trẻ có nguyện vọng được độc lập, được làm như người
lớn những năng lực có hạn và người lớn thường cấm đoán nên trẻ không được thỏa mãn
nhu cầu va khủng hoảng lứa tuổi lên ba nảy sinh.
Trẻ lĩnh hội nghĩa của từ sẽ sâu sắc hơn khi trẻ lĩnh hội phương thức sử dụng đồ
vật. Trẻ nắm được từ chỉ đồ vật mang ý nghĩa khái quát theo chức năng hoặc từ chỉ hành
động mang ý nghĩa khái quát theo mục đích chủ yếu là thông qua hoạt động với đồ vật.
Chẳng hạn cho trẻ chơi trò chơi xếp hình hoặc xếp chữ, ta đưa cho trẻ chữ A và cho trẻ
biết đó là chữ gì và cho trẻ nhắc lại… cứ như vậy thông qua các hoạt động vừa chơi vừa
nói ngôn ngữ của trẻ sẽ được nâng cao hơn. trẻ lĩnh hội nghĩa của từ sẽ sâu sắc hơn khi
trẻ lĩnh hội phương thức sử dụng đồ vật. Ơ giai đoạn này trẻ năm được những từ chỉ đồ
vật mang ý nghĩa khái quát theo chức năng hoặc từ chỉ hành động mang ý nghĩa khái quát
theo mục đích chủ yếu là thông qua hoạt động với đồ vật.
- Ngay tõ tuổi lên 2 - 3 tuổi trình độ nhận thức của trẻ đã phát triển khá hoàn
hảo, trí nhớ óc tưởng tượng và đặc biệt là khả năng nhận xét của trẻ trở nên tinh tế. Vì
vậy, trẻ nhận ra mình theo những dấu hiệu bên ngoài. Trẻ hiểu được mình có thể làm
được việc này hay việc khác, trẻ có thể nhận xét về mình (thông qua nhận xét của người
lớn). tẻ tự nhận thức hành động của mình theo thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai.
đây cũng là nguyên nhân làm cho đứa trẻ có nguyện vọng được độc lập, được làm như
người lớn. Trong quá trình trẻ thao tác với đồ vật thì trẻ bắt đầu xuất hiện tự ý thức và
nguỵên vọng độc lập.
- Lên 2 - 3 tuổi trẻ bắt đầu nhận biết thế giới xung quanh một cách khá rõ ràng.
Đây cũng là lúc trẻ rất hiếu động vì muốn khám phá thế giới
xung quanh và bản thân mình. Từng trò chơi sẽ giúp trẻ phát triển khả năng của
mình trong quá trình phát triển tâm lí thời kì này. Chẳng hạn với trò chơi nhận diện mặt
chữ cái sẽ giúp trẻ phát triển khả năng phát hiện sự vật. Hay khi chơi bán đồ hàng, chơi
với các con rối, búp bê bé sẽ muốn tự mình bày tỏ ý nghĩ thông qua lời thoại trong quá