đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật vết thương vùng ngực bụng - Pdf 24

đặt vấn đề
Vết thương ngực bụng (VTNB) là một thể tổn thương gặp khi vết
thương đi qua lồng ngực, xuyên thủng cơ hoành và đi vào ổ bụng. Nguyên
nhân gây bệnh thường do tai nạn sinh hoạt (dao, kéo, vật nhọn đâm), do hỏa
khí, hoặc do tai nạn lao động, với tỷ lệ phân bố tùy theo từng vùng, từng thời
điểm và từng quốc gia. Ví dụ như theo mét nghiên cứu của Mandal và cộng
sự (California-Mỹ) thì nguyên nhân do đạn bắn chiếm tỷ lệ cao [42], còn theo
nghiên cứu của Paci và cộng sự (Ên Độ) thì nguyên nhân gặp nhiều nhất là do
tai nạn sinh hoạt [45].
ở Việt Nam, trong chiến tranh thì VTNB chiếm khoảng 1/4 các trường
hợp bệnh nhân có vết thương ngực nhập viện, hầu hÕt đều do bom mìn, mảnh
đạn gây ra. Nên ngoài những tổn thương ở phần bụng và phần ngực, còn có
những tổn thương phối hợp khác như: chấn thương sọ não, dập nát chi, tổn
thương cột sống…[5]. Trong thời bình, cùng với sự gia tăng của tai nạn sinh
hoạt đâm chém nhau, tai nạn giao thông, tai nạn lạo động, thì VTNB vẫn là
thương tổn khá phổ biến và có chiều hướng tăng lên. Theo một nghiên cứu
gần đây của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, VTNB chiếm 6,9% các vết
thương ngực hở [21], còn theo một nghiên cứu tại Bệnh viện Xanh pôn, tỷ lệ
này là 8,5% [15].
Tuy gây tổn thương cả ở ngực và bụng, nhưng do lỗ vào của vết thương
ở trên ngực, và do áp lực âm tính của khoang màng phổi làm máu - dịch từ ổ
bụng bị hót lên màng phổi qua lỗ thủng cơ hoành, nên biểu hiện lâm sàng ở
lồng ngực thường nổi trội hơn ổ bụng. Điều này gây ảnh hưởng rất nhiều đến
công tác chẩn đoán và điều trị cấp cứu VTNB. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển
nhanh chóng của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trong những năm gần
đây cũng như công tác cấp cứu ngoại khoa nói chung, nên việc chẩn đoán
VTNB ngày càng trở nên nhanh chóng và chính xác hơn [13], [16], [20].
1
Khi đã có chẩn đoán là VTNB, thì phẫu thuật là biện pháp điều trị duy
nhất. Tuy nhiên, do đây là một cấp cứu ngoại khoa chung, thương tổn lại nằm
cả ở ngực và bụng, nên việc lựa chọn đường mổ (mở cả ngực và bụng, hoặc

được giới hạn bởi đốt sống ngực thứ 12 và xương sườn 12 ở phía sau, sụn
sườn thứ 7 nối với xương ức ở phía trước. Hai bên lồng ngực là các cung
sườn. Giữa các xương sườn là khoang liên sườn, trong có các cơ gian sườn và
bã mạch - thần kinh liên sườn nằm ở bờ dưới các xương sườn [6], [7].
1.1.1.2. Cơ - xương phủ bên ngoài :
Bao gồm xương bả vai và các nhóm cơ xếp thành 2 lớp, có xu hướng
dầy lên dần về phía sau lưng.
- Xương bả vai: nằm phía sau trên lồng ngực. Cực dưới của xương có thể dễ
dàng sờ thấy, đây là một mốc quan trọng của các đường mở ngực sau và
bên vì nó tương ứng với khoang liên sườn V. Mặt ngoài xương là chỗ bám
của các cơ lưng, mặt trong tiếp giáp các xương sườn bằng một lớp mỡ
lỏng lẻo vô mạch cho phép lùa tay vào đếm khoang liên sườn khi mở
ngực.
- Cơ ở phía sau nhìn chung gồm 2 bình diện, từ nông vào sâu có cơ thang ở
phía trên và cơ lưng to ở phía dưới, rồi đến cơ thoi ở sau và cơ răng to ở
trước. Cơ ở phía trước nhìn chung chỉ có 1 bình diện, chủ yếu gồm cơ
ngực lớn trên cao, cơ răng to và chéo lớn phía bên. Nếu một vết thương
3
đâm vào phần thấp của lồng ngực thì thường xuyên qua cơ lưng to ở sau,
cơ răng to ở bên, và cơ chéo lớn ở trước. Việc nắm được vị trí và hướng đi
của các cơ này là cần thiết khi tiến hành mở ngực [19].
1.1.1.3. Các tạng trong lồng ngực: [6], [7], [8]
• Phổi: Là cơ quan chủ yếu của đường hô hấp, có nhiệm vụ trao đổi khí.
Phổi co giãn tùy thuộc vào vào lúc hít vào hay thở ra nên khó Ên định về
thể tích. Có hai lá phổi (phải và trái) nằm trong lồng ngực, ngăn cách nhau
bởi một khoảng ở giữa (trung thất). Mỗi lá phổi giống như nửa hình nón,
gồm có 1 đáy (còng là một trong 3 mặt), 1 đỉnh, 3 mặt và 3 bê.
- Ba mặt:
+ Mặt ngoài hay mặt sườn: lồi, áp vào mặt trong lồng ngực, có các Ên sườn
và các rãnh liên thùy. Hai phổi đều có rãnh liên thùy lớn hay khe chếch. Rãnh

5
§Ønh mµng phæi
Giíi h¹n sau cña phæi
Khe gian thuú bÐ
Khe gian thuú lín
Bê d#íi phæi
Gãc s#ên hoµnh
khoang gian sườn VI ở đường giữa đòn, khoang gian sườn VII đường nách
giữa, khoang gian sườn IX ở đường bả vai và tới cột sống ở đầu sau xương
sườn XI.
- Bê sau: chạy dọc hai bờ bên cột sống, trên các mỏm ngang từ đốt sống
ngực II tới đốt sống ngực XI.
• Màng phổi: là một lớp thanh mạc gồm 2 lá. Hai lá đó liên kết với nhau ở
rốn phổi và giới hạn một khoang ảo gọi là khoang màng phổi.
- Lá tạng: phủ trực tiếp nhu mô phổi, dính chặt vào tổ chức phổi, lách
sâu vào trong các rãnh liên thùy. Mặt ngoài của lá tạng nhẵn bóng và áp sát
vào lá thành của màng phổi.
- Lá thành: phủ tất cả mặt trong lồng ngực, sát cân nội ngực. Lá thành
quây xung quanh phổi cho nên cũng có mặt sườn hoành và mặt trung thất. Có
phế mạc sườn, phế mạc hoành, phế mạc trung thất và phế mạc đỉnh phổi.
Lá thành phế mạc phủ liên tiếp từ mặt này đến mặt khác của phổi nên ở
ranh giới của hai mặt tạo nên túi cùng phế mạc hay ngách màng phổi. Mỗi
phổi có 5 túi cùng:
+ Túi cùng sườn trung thất trước: là nơi gặp nhau của màng phổi sườn và
màng phổi trung thất, đứng thẳng dọc theo bờ trước phổi.
+ Túi cùng sườn trung thất sau: là nơi gặp nhau của màng phổi sườn và
màng phổi trung thất, đứng thẳng dọc theo bê sau phổi.
+ Túi cùng hoành trung thất: là nơi gặp nhau của màng phổi hoành với màng
phổi trung thất, nằm theo hướng trước sau, dọc phần trong bờ dưới phổi.
+ Túi cùng sườn hoành: là túi bịt sâu, đi vòng từ trước ra sau theo đoạn

ra sau gặp xương sườn X ở đường nách giữa, xương sườn XI ở cách đường
nách giữa 10 cm và cuối cùng tận hÕt ở đốt sống ngực XII và đốt sống thắt
lưng I ở đường gai sống.
- Túi cùng sườn trung thất sau: Đối chiếu lên lồng ngực giống nh bê sau phổi,
nhưng tận cùng ở thấp hơn tới khoang giữa đốt sống XII và đốt thắt lng I. Nh
vậy, túi cùng xuống thấp hơn phổi một thân đốt sống. Vì thế, VTNB ở vùng này
có thể không làm tổn thương nhu mô phổi.
1.1.1.4. Cơ hoành: [6], [7], [8]
Là một cơ dẹt, rộng, ngăn cách giữa lồng ngực và ổ bụng. Cơ hình vòm,
mặt lõm hướng về phía bụng. CÊu tạo gồm phần cơ ở xung quanh và phần
gân ở giữa nên được coi nh do nhiều cơ hai bụng hợp lại. Cơ hoành có nhiều
lỗ để cho các tạng, mạch máu và thần kinh đi từ lồng ngực xuống ổ bụng hay
ngược lại đi từ ổ bụng lên ngực. Đây là một cơ vân quan trọng vì giữ vai trò
chủ yếu trong sự hô hấp [13].
Các bó cơ của cơ hoành bám vào thành ngực ở xương ức, xương sườn,
sụn sườn và cột sống thắt lưng.
- Phần ức: Bám vào mặt sau mỏm mũi kiếm xương ức từ 1 hay 2 bó
nhỏ. Bó này cùng với bó sườn giới hạn nên một khe gọi là khe ức sườn hay
tam giác ức sườn, qua đó có bó mạch thượng vị trên đi qua.
- Phần sườn: Bám vào 6 xương sườn cuối bởi các trẽ cơ. Một số trẽ bám
vào sụn sườn và xương sườn VII, VIII, IX. Một số trẽ bám vào xương sườn
X, XI, XII.
- Phần thắt lưng: Bám vào cột sống thắt lưng bởi các trụ cơ và dây
chằng.
8
+ Tr phi: Bỏm vo thõn ca 3 hoc 4 t sng tht lng trờn v cỏc a
gian sng tng ng.
+ Tr trỏi: Thng bỏm cao hn tr phi mt t sng, thõn v cỏc a
gian sng ca 2 hay 3 t sng tht lng trờn.
+ Dõy chng cung trong: Bt ngang trc c tht lng, bỏm t thõn t

xương chậu và xương cùng. Có các lớp cân- cơ mắc từ khung trên xuống
khung dưới tạo lên một ổ.
Phúc mạc hay màng bụng là một màng thanh mạc che phủ tất cả các
thành trong ổ bụng, bao bọc tất cả các tạng thuộc hệ tiêu hóa (kể cả các bó
mạch thần kinh của tạng đó) và che phủ phía trước hay phía trên các tạng
thuộc hệ tiết niệu sinh dục.
Ổ phúc mạc là một khoang kín nằm trong ổ bụng được giới hạn bởi lá
thành và lá tạng của phúc mạc. Ổ phúc mạc là một khoang ảo vì các thành của
nó áp sát vào nhau không chứa đựng gì ở trong do các tạng nằm sát vào nhau và
nằm sát với thành bụng. Ổ phúc mạc không có áp lực âm [7].
Phân khu ổ bụng:
- Mạc nối lớn và các mạc nối khác quây ở trong ổ phúc mạc lớn tạo
thành túi mạc nối hay hậu cung mạc nối.
- Mạc treo đại tràng ngang chia ổ phúc mạc ra làm hai tầng: tầng trên và
tầng dưới mạc treo đại tràng ngang. Ở tầng trên, các tạng như gan, dạ dày,
10
lách, tá tràng, tụy đều quây quanh túi mạc nối. Dây chằng treo gan phân chia
khoang dưới cơ hoành của tầng trên này làm hai ô, đều bị giới hạn ở sau gan
bởi lá trên của mạc chằng vành. Đó là ô dưới hoành phải hay ô gan thông
xuống dưới theo rãnh đại tràng phải và ô gan trái thông vào ô dạ dày, ô lách.
Vì nằm ngay dưới cơ hoành nên các tạng này rất dễ bị tổn thương trong
VTNB. Đặc biệt, mặt sau gan phải, giữa hai lá của mạc chằng vành, gan dính
thẳng vào cơ hoành không có phúc mạc che phủ, nên trong VTNB, nếu gan bị
thương tổn ở vùng này, máu có thể không xuống ổ bụng mà chảy vào khoang
màng phổi, vì vậy dễ gây nhầm lẫn trong chẩn đoán và xử trí.
- Ở tầng dưới mạc treo đại tràng ngang thì mạc treo tiểu tràng chạy
chếch từ trái sang phải như một vách tường đi từ đốt thắt lưng I và II tới khớp
cùng chậu, chia ổ phúc mạc ở phần dưới mạc treo đại tràng ngang làm hai
khu: khu phải và khu trái mạc treo tiểu tràng.
- Đại tràng lên và xuống tạo với thành bụng bên một rãnh gọi là rãnh

1.2.1.1. Tác nhân gây vết thương:
- Tai nạn sinh hoạt: thường do dao, kéo và các vật nhọn đâm vào ngực.
Đây là tác nhân gây thương tổn hay gặp ở Việt Nam hiện nay [16], [18].
Thường gặp vết thương chột, chỉ có lỗ vào - không có lỗ ra.
- Hỏa khí: như đạn bắn hoặc mảnh bom, mìn. Tác nhân này cũng
thường gặp ở Việt nam trong chiến tranh trước đây [5], [12], hay ở một số
quốc gia khác như Mỹ [42], các nước Trung đông hiện nay, do tình trạng
chiến tranh hoặc sử dông vũ khí tự do trong cộng đồng dân cư. Thường gặp
vết thương xuyên với cả lỗ vào và lỗ ra.
- Tai nạn lao động, giao thông: do các vật nhọn như que sắt, que gỗ
nhọn đâm vào ngực. Tác nhân này thường Ýt gặp [9].
13
1.2.1.2. Các thương tổn chính.
Vết thương xuyên thủng thành ngực, qua phổi – màng phổi, rồi đâm
thủng cơ hoành đi xuống bụng. Tùy theo vị trí của vết thương, hướng đi và độ
sâu của tác nhân gây thương mà có thể gặp các thương tổn với nhiều mức độ
khác nhau [2], [4], [11], [15], [16], [16], [19]. Nhìn chung, các tổn thương
chính thường gặp là :
- Thủng thành ngực: vị trí thủng thường thấp, ngang mức từ khoang
liên sườn V ở phía trước – bên và khoang liên sườn IX ở phía sau trở xuống,
vì về mặt giải phẫu, vòm hoành lên đến ngang mức các khoang liên sườn này.
Thủng thành ngực có thể kèm theo đứt gãy xương sườn và tổn thương bó
mạch liên sườn - gây chảy máu nhiều. Độ rộng hẹp của vết thương tùy thuộc
tác nhân gây ra. Máu và khí từ vết thương và từ ngoài tràn vào khoang màng
phổi gây ra tràn máu - tràn khí khoang màng phổi, giống nh vết thương
ngực hở (VTNH) [20]. Do vậy trên lâm sàng nhiều khi chỉ chẩn đoán được
là VTNH đơn thuần.
- Thủng - rách nhu mô phổi: đối với những vết thương ở vị trí tương
đối cao (khoảng khoang liên sườn V - VII ở phía trước bên, IX - X ở phía
sau) thì trước khi qua cơ hoành, dị vật sẽ đâm xuyên qua nhu mô phổi -

bên phải có gan che đỡ ở phía dưới [12].
- Tổn thương trong ổ bụng: những tạng nằm ngay dưới cơ hoành như
gan, dạ dày, lách, đại tràng ngang rất dễ bị xuyên thủng trong VTNB. Tùy
thuộc vào vị trí vết thương, mức độ tổn thương tạng, và thời gian đến viện sau
bị thương, mà triệu chứng ở bụng có thể có biểu hiện khác nhau. Nếu bệnh
nhân đến sớm và thương tổn nhẹ thì ổ bụng có thể rất Ýt máu - dịch do một
15
phần bị hút lên khoang màng phổi, nếu đến sớm và nặng thì thương tổn ổ
bụng giống như trong vết thương bụng điển hình (do có nhiều máu - dịch -
thức ăn ). Nếu có thủng đường tiêu hóa mà bệnh nhân đến muộn thì có thể
gặp các thương tổn như trong viêm phúc mạc do vết thương bụng đến muộn.
1.2.2. Sinh lý bệnh
Do đặc điểm thương tổn giải phẫu như trên, nên VTNB có thể có nhiều
kiểu rối loạn sinh lý bệnh cả ở ngực và bụng, tùy thuộc vào mức độ thương
tổn cũng như thời gian từ khi bị thương tới khi đến bệnh viện [18].
- Rối loạn do thương tổn ở ngực : suy hô hấp với các mức độ khác
nhau. Sẽ là suy hô hấp nặng nếu vết thương ngực rộng và còn đang hở, hoặc
chảy máu nhiều vào khoang màng phổi (từ thành ngực hay thương tổn ở bụng
lên). Có thể kèm sốc mất máu nếu chảy máu nhiều. Hội chứng nhiễm trùng
nặng do mủ màng phổi nếu có phân + thức ăn ở bệnh nhân đến muộn, hoặc
xử trí ban đầu không tốt.
- Rối loạn do thương tổn ở bụng : sốc mất máu cấp nếu thương tổn gây
chảy máu nhiều (vết thương gan, lách). Rối loạn do viêm phúc mạc ở trường
hợp thủng đường tiêu hóa đến muộn, đặc biệt là thủng đại tràng.
1.3. Chẩn đoán vTNB
1.3.1. Lâm sàng [9], [13], [18], [20]
• Xác định tác nhân và cơ chế gây vết thương, nếu có thể cần xác định cả
hướng đâm của dao kéo, vật nhọn. Thường là các vật dài và đâm sâu
vào trong ngực.
• Dấu hiệu cơ năng: thường nổi trội lên các dấu hiệu của vết thương ngực

cánh mũi. Co kéo các cơ hô hấp ở cổ ngực. Thở nhanh nông > 25 lần/
phút. Gõ thấy vang hơn ở vùng cao, đục hơn ở vùng thấp. Nghe thấy rì
rào phế nang phổi giảm hoặc mất. Chọc dò màng phổi thấy ra máu
không đông ở thấp, khí ở cao. Ngoài ra, một số Ýt trường hợp có thoát
vị hoành ngay sau bị thương, nghe trên ngực có thể thấy tiếng nhu động
ruột, hoặc bơm hơi qua ống thông dạ dầy thấy tiếng lọc xọc.
• Dấu hiệu tại ổ bông:
- Trường hợp nhẹ (ít dịch ổ bụng): có thể có hoặc không có triệu chứng
rõ rệt, chỉ thấy đau và phản ứng nhẹ khi khám ở vùng dưới sườn bên
thương tổn, hai hố chậu không rõ đau và phản ứng. Thể này rất dễ dẫn
đến bỏ sót chẩn đoán VTNB trên lâm sàng.
- Trường hợp nặng (nhiều dịch ổ bụng): biểu hiện đau, phản ứng, co
cứng, cảm ứng phúc mạc ở cả nửa bụng bên bị đâm hoặc toàn bộ ổ
bụng, túi cùng Douglas phồng - đau, giống như trong vết thương bụng
điển hình.
- Trường hợp có thủng đường tiêu hóa đến muộn: biểu hiện của viêm
phúc mạc như bụng chướng, cảm ứng phúc mạc …
1.3.2. Cận lâm sàng [9], [10], [13], [32]
- X quang ngực thẳng: thường cho thấy hình ảnh tràn máu - tràn khí
màng phổi, rõ nhất khi chụp ở tư thế đứng. Cã thể thấy hình ảnh của
thoát vị hoành, liềm hơi dưới hoành.
18
- Chụp bụng không chuẩn bị : nhìn chung Ýt có giá trị chẩn đoán trong
trường hợp có Ýt dịch trong ổ bụng. Khi có nhiều dịch có thể thấy các
hình ảnh của dịch - máu trong bụng. Liềm hơi dưới hoành là dấu hiệu
Ýt được nhắc tới trong VTNB.
- Siêu âm bụng, ngực: là phương pháp đơn giản, dễ làm, cho phép phát
hiện được dịch ổ bụng, dịch màng phổi, dịch màng tim, tổn thương tạng
đặc… Tuy nhiên trường hợp ổ bụng có Ýt dịch thì cũng rất khó giúp
Ých cho chẩn đoán.

thuật viên, năng lực của cơ sở y tế, và thương tổn cụ thể trong mổ [3], [13], [14].
• Mở cả ngực và bụng: cách này tuy giúp giải quyết tốt tất cả các thương
tổn, nhưng là can thiệp khá lớn vào bệnh nhân. Thường dành cho thương
tổn nặng cả ở bụng và ngực (chảy máu nhiều, có thức ăn - phân trên
khoang màng phổi). Qui trình thông thường như sau:
- Mở ngực :
+ Để hở VT ngực và gây mê nội khí quản. NÕu VT ngực đã khâu kín
thì dẫn lưu màng phổi (DLMP) trước khi gây mê nội khí quản.
+ Mở ngực : tùy theo vị trí thương tổn, song thường qua khoang liên
sườn V hoặc VI trước bên.
+ Đánh giá thương tổn trong ngực, cầm máu và khâu lại VT thành
ngực, phổi.
+ Cầm máu, khâu kín cơ hoành.
+ Rửa sạch khoang màng phổi, lấy hết dị vật, phồng phổi.
+ DLMP và đóng ngực.
- Mở bụng : thường mở đường trắng giữa trên rốn, có thể kéo xuống
dưới rốn. Thăm dò và xử lý thương tổn tạng (cắt, khâu …). Lau rửa
sạch ổ bụng. Đóng bụng ± dẫn lưu ổ bụng.
20
• Mở bụng đơn thuần: đường mở này có thể cho phép can thiệp cả ngực và
bụng. Tuy nhiên chỉ dành cho trường hợp thương tổn ở màng phổi chủ yếu
do từ bụng lên qua vết thương cơ hoành, không có thương tổn nặng tại
ngực, và cần các phẫu thuật viên có kinh nghiệm. Qui trình chung như sau:
+ Gây tê, DLMP. Gây mê nội khí quản.
+ Cầm máu, khâu kín VT ngực.
+ Mở bụng đường trắng giữa. Thăm dò và xử lý thương tổn tạng.
+ Mở rộng rãi VT cơ hoành, qua đó bơm rửa nhiều lần khoang màng
phổi (có thể đưa cả tay lên thám sát) cho tới khi thật sạch.
+ Khâu kín cơ hoành, phồng phổi trước khi khâu kín.
+ Lau rửa sạch ổ bụng. Đóng bụng ± dẫn lưu ổ bụng.

đề lý liệu pháp hô hấp thường được lưu ý nhiều hơn để phòng biến
chứng xẹp phổi, vì có cả thương tổn ở bụng - đặc biệt khi có mở bông,
sẽ gây cản trở hô hấp rất nhiều. Ngoài ra DLMP thường được để lâu
hơn VT ngực đơn thuần.
- Về ổ bụng : săn sóc nh sau phẫu thuật bông. Các tài liệu kinh điển đều
cho rằng nếu có dẫn lưu ổ bụng, thì dẫn lưu này phải đảm bảo nguyên
tắc kín, 1 chiều, và nếu có hút liên tục được thì càng tốt, để tránh thoát
khí lên màng phổi qua chỗ tổn thương cơ hoành [3].
- Theo dõi - phát hiện - điều trị biến chứng sớm sau mổ:
+ Chảy máu sau mổ, chẩn đoán và điều trị cũng nh mọi phẫu thuật khác.
+ Nhiễm trùng màng phổi gây mủ hay ổ cặn khoang màng phổi: thường
ở bệnh nhân có thủng đường tiêu hóa, nhưng do quá trình mổ làm sạch
khoang màng phổi không tốt. Trên lâm sàng thấy hội chứng nhiễm trùng,
dẫn lưu hoặc chọc hút màng phổi ra dịch đục (cấy vi trùng có thể dương
tính). Khi đó phải mổ ngực lại sớm để làm sạch và bóc màng phổi.
+ Xẹp phổi: phát hiện dựa vào lâm sàng và X quang ngực kiểm tra. Biện
pháp xử lý thường là lý liệu pháp hô hấp tích cực, nếu cần có thể soi hút
phế quản. Nếu có tràn dịch màng phổi tái phát thì dẫn lưu lại.
+ Các biến chứng khác về ổ bụng: có thể là viêm phúc mạc do bục chỗ
khâu đường tiêu hóa, áp xe tồn lưu …
+ Nhiễm trùng vết mổ: xử trí bằng cắt chỉ - tách rộng vết mổ để thay
băng hàng ngày.
- Tiên lượng : nhìn chung tiên lượng sớm sau mổ VTNB là tốt nếu xử trí
đúng trong mổ và điều trị hợp lý sau mổ. Các biến chứng xảy ra chủ
23
yếu ở các trường hợp nh: bỏ sót thương tổn, phẫu thuật ở giai đoạn
muộn, xử trí trong và sau mổ không đúng, nhất là không quan tâm đúng
mực tới lý liệu pháp hô hấp sau mổ.
1.5. lịch sử nghiên cứu vtnb
1.5.1. Trên thế giới

các phương thức điều trị và các biến chứng, tiên lượng đối với loại VTNB do
dao đâm hay súng bắn [33], [49].
1.5.2. Ở Việt Nam:
Nếu như tình hình nghiên cứu về VTNB trên thế giới tương đối đầy đủ,
đi sâu về nhiều vấn đề như chẩn đoán, nguyên tắc điều trị, về tiên lượng, cũng
như biến chứng; thì ở Việt Nam, VTNB trong cả thời chiến và thời bình mới
được đề cập qua một số báo cáo tổng kết chung, như của Phạm Bửu Tâm,
Văn Tần (1963 - 1973) [18], của Nguyễn Thấu- Phạm Công Dương (1975-
1979) [19], Lê Cao Đài và cộng sự (1981) [2]. Các tác giả đều thống nhất
rằng, VTNB trong thời chiến chủ yếu có nguyên nhân do bom đạn. Việc xử
trí chủ yếu là DLMP, mở bụng khâu cơ hoành và xử trí các tổn thương tạng.
Về sau này, có một số bài viết mang tính tổng quát và đầy đủ hơn về VTNB,
nh của tác giả Nguyễn Công Dương (1979) [19], Nguyễn Công Minh [12].
Gần đây có các nghiên cứu của Cao Văn Thịnh 2001 [18], Nguyễn Cường
Thịnh 2006 [19]. Các nghiên cứu này cho thấy, VTNB trong thời bình vẫn
chiếm một tỷ lệ khá cao trong các VT ngực, tổn thương thường phức tạp.
Việc ứng dụng các thăm dò nh chọc dò ổ bụng, chọc rửa ổ bụng, siêu âm
ngực bông có giá trị chẩn đoán cao. Trong xử trí, do tính tổn thương kết
hợp ngực bụng gây rối loạn hô hấp và tuần hoàn nên việc chẩn đoán sớm,
chính xác có vai trò quan trọng trong việc lập lại thăng bằng về hô hấp, tuần
hoàn và lựa chọn chỉ định phẫu thuật kịp thời.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status