đánh giá hình ảnh tế bào tuyến giáp bằng xét nghiệm tế bào học trong bệnh lý bướu nhân tuyến giáp - Pdf 24

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tuyến giáp chiếm một vị trí quan trọng trong các bệnh nội tiết, bên
cạnh các bệnh tuyến giáp hay gặp trên lâm sàng như bệnh Basedow, bướu cổ đơn
thuần thì bướu nhân tuyến giáp là bệnh thường gặp và rất đáng quan tâm.
Bệnh tuyến giáp phổ biến ở nhiều nước trên thế giới: Theo Tổ chức Y tế thế
giới (WHO) công bố năm 1995, tỷ lệ mắc bệnh chiếm tới 5% dân sốtừ 16 tuổi trở
lên [11]. Tại Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh ước đoán vào khoảng 4 – 7% dân số trưởng thành
[14]. Tại Việt Nam, theo thống kê chưa đầy đủ, trên cả nước có khoảng 3 triệu
người mắc bệnh bướu tuyến giáp các loại [2].
Biểu hiện lâm sàng của bướu nhân tuyến giáp thường nghèo nàn, thậm chí
hoàn toàn không có triệu chứng gì. Vì thế bệnh thường được phát hiện muộn khi
bướu nhân đã biểu hiện rõ. Đáng chú ý là có khoảng 4% bướu nhân tuyến giáp là
ung thư và biểu hiện lâm sàng cũng không có gì khác nhiều so với bệnh tuyến giáp
lành tính [5].
Trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ
thuật, các phương tiện thăm dò hình thái hiện đại như siêu âm, CT scaner, MRI và
các phương pháp chẩn đoán y học hạt nhân đã được áp dụng để phát hiện và chẩn
đoán bướu nhân tuyến giáp. Các kỹ thuật thăm dò hình ảnh trên đã đem lại hiệu
quả cao, giúp phát hiện sớm các bướu nhân có kích thước nhỏ, số lượng nhân, đặc
tính của bướu nhân là bướu đặc hay bướu nang Tuy nhiên, các kỹ thuật thăm dò
hình thái kể trên có ý nghĩa phát hiện sớm bướu nhân tuyến giáp hơn là xác định
tính chất lành tính hay ác tính của bướu.
Việc áp dụng kỹ thuật chẩn đoán tế bào học với phương pháp chọc hút kim
nhỏ đã khắc phục được hạn chế của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh đó, cho phép
xác định được bản chất lành tính hay ác tính của các bướu nhân với độ chính xác
cao (70 – 95% tuỳ theo từng nghiên cứu) [5, 9]. Xét nghiệm tế bào học chọc hút
kim nhỏ có thể chỉ định cho mọi bệnh nhân, không gây nguy hiểm, kỹ thuật nhanh,
chính xác, đơn giản và Ýt gây thương tổn. Chuẩn đoán tÕ bào học qua chọc hút
kim nhỏ ở tuyến giáp có thể đem lại kết quả tốt, có thể thay thế các sinh thiết kim
đồng thời hạn chế tối đa các cuộc phẫu thuật bướu nhân tuyến giáp [5]. Ngoài ra, tế
1

1.2.2. Tác dụng sinh lý của T3, T4:
- Tác dụng lên sự phát triển cơ thể: Hormon tuyến giáp phối hợp với GH làm
cơ thể phát triển, làm tăng biệt hoá tế bào, điều hoà sự phát triển cơ thể.
- Tác dụng lên chuyển hoá năng lượng: làm tăng chuyển hoá cơ bản.
- Tác dụng lên chuyển hoá Protid: làm tăng thoái hoá protein. Trong thời kỳ
đang phát triển, T3 và T4 làm tăng tổng hợp protein ở hầu hết các mô để làm cơ
thể phát triển và tăng biệt hoá tế bào.
- Tác dụng lên chuyển hoá Lipid: Tăng thoái hoá lipid, làm giảm nồng độ
cholesterol trong máu và giảm nồng độ lipoprotein tỷ trọng thấp.
- Tác dụng lên chuyển hoá Glucid: Tăng thoái hoá glucose ở mô. Tăng phân
huỷ glycogen thành gluose ở gan. Tăng hấp thu gluose ở ruột.
3
- Tác dụng lên chuyển hoá vitamin và muối khoáng: T3 và T4 cần cho sự
hấp thu vitamin B12 và sự chuyển hoá caroten thành vitamin A. Đồng thời T3 và
T4 cũng làm tăng chuyển hoá calci và phospho.
- Tác dụng lên chuyển hoá nước và điện giải: Hormon giáp trạng các tác
dụng điều hoà sự phân bố nước. Thiếu T3, T4 gây đái Ýt và phù.
- Tác dụng lên hệ thống tim mạch: làm tim đập nhanh, tăng lưu lượng tim và
làm giãn mạch.
- Tác dụng lên hệ thống thần kinh cơ: Nồng độ T3, T4 giảm sẽ làm chậm sự
phát triển của não. Khi nồng độ T3, T4 tăng quá cao các synáp thần kinh bị hoạt
hoá mạnh dẫn đến biểu hiện run cơ.
- Tác dụng lên chức năng sinh dục: T3, T4 cần cho sự phát triển bình thường
của cơ quan sinh dục khi trẻ và hoạt động tình dục khi trưỏng thành [2, 6].
1.2.3. Điều hoà, tổng hợp, bài tiết T3, T4:
Hoạt động nội tiết của tuyến giáp, tuyến yên, vùng hypothalamus luôn luôn
liên hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất và tạo thành một trục nội tiết:
Vùng hypothalamus - tuyến yên - tuyến giáp.
Vùng hypothalamus (vùng dưới đồi) tiết ra kích tố giải phóng TRH có tác
dụng kích thích tiền yên tiết TSH. Dưới tác dụng của TSH, tuyến giáp tăng tổng

cao hơn hẳn so với nam ( ở cả vùng dịch tễ và vùng không dịch tễ ), đặc biệt là lứa
tuổi tiền mãn kinh [11, 15]. Những nhận xét trên là sự tổng hợp các kết quả nghiên
cứu của nhiều tác giả trên nhiều quần thể khác nhau. Tỷ lệ Nữ/Nam trong nghiên
cứu của Tạ Văn Bình là 9/1.[8]
Theo Michael và Tumbrige [15], ở cùng lứa tuổi 45, trong khi tỷ lệ mắc ở
nam giới là 1% thì ở nữ giới là 5%. Nhưng ở lứa tuổi ngoài 70 tỷ lệ mắc ở nam vẫn
chỉ là khoảng 1% thì ở nữ lại tăng khoảng 9%. Nghiên cứu Wickham (Anh) cho tỷ
số Nữ/nam mắc bệnh là 4,5/1 và tỷ số xuất hiện bướu nhân đơn độc ở Nữ /nam là
6,6/1. Còn theo nghiên cứu Framingham (Mỹ) tỷ lệ mắc ở nữ và nam trong nghiên
cứu này tương ứng là 6,4% và 1,5%.[12]
2.1.3. Tuổi:
Bệnh thường gặp ở những người trên 35 tuổi. Michael [15] thấy nếu ở lứa
tuổi 45 tỷ lệ bệnh ở nữ giới là 5% thì ở lứa tuổi 75 tỷ lệ này là trên 9%. Theo
Marqusee [13] tuổi trung bình phát hiện bướu nhân tuyến giáp là 46,6 ± 13,5 năm.
5
Tác giả Tạ Văn Bình trong nghiên cứu về bướu nhân tuyến giáp cho kết quả lứa
tuổi trung bình mắc bệnh là 39,5 ± 13,4 năm.[8]
Bướu nhân tuyến giáp Ýt gặp hơn ở trẻ em, tuy nhiên nếu mắc bướu nhân ở
lứa tuổi này thì tỷ lệ ung thư lại cao hơn lứa tuổi trưởng thành [3].
2.2. Những nét chính về sinh lý bệnh:
2.2.1. Bệnh nguyên và bệnh sinh:
Rất nhiều công trình nghiên cứu đã và đang được tiến hành hy vọng tìm ra
nguyên nhân của bướu nhân tuyến giáp, nhưng chưa có tác giả nào khẳng định yếu
tố nào có vai trò trong gây bệnh. Người ta tạm chia ra làm 2 nhóm nguyên nhân:
Nhóm các yếu tố ngoài tuyến:
- Yếu tố môi trường:
Cho tới nay, người ta vẫn cho rằng mọi nguyên nhân làm giảm lượng
hormon tuyến giáp lưu hành đều có khả năng gây ra các bướu giáp nói chung hay
các nhân giáp nói riêng. Nói cách khác, khi lượng T3, T4 giảm dẫn đến tăng bài
tiết TSH theo cơ chế feedback, TSH làm tăng thể tích, trọng lượng và hoạt động

nang với nhau (bao gồm cả nang mới và nang cũ), mà còn xảy ra giữa các nang với
tổ chức quanh nang. Hậu quả là làm biến dạng hệ thống mạch máu (vốn là tổ chức
cố định) làm mạch máu bị xoắn vặn, cuối cùng là bị hoại tử và xơ hoá. Cơ thể phản
ứng lại bằng cách tạo ra các mô hạt bao phủ vùng tổn thương. Sự phát triển này
dẫn đến hậu quả là một bướu nhân ra đời [3, 6, 8].
2.2.2. Quá trình hình thành nhân giáp:
Dù là nguyên nhân gì đi nữa thì cho tới nay, người ta vẫn chia quá trình hình
thành nhân giáp ra làm 3 giai đoạn:
 Giai đoạn tăng sản (Hyperplasia):
Trên lâm sàng biểu hiện là một bướu giáp lan toả, không có nhân.
Hình ảnh mô bênh học: Tế bào biểu mô cao, trong lòng nang có rất Ýt thậm
chí không có chất keo.
 Giai đoạn tích tụ chất keo (Colloid accumulation):
Hình ảnh mô bệnh học: Tế bào biểu mô tuyến có hình lập phương thấp, lòng
nang chứa đầy chất keo. Lớp tế bào biểu mô lót quanh nang gần nh dẹt. Chứng
tỏ có sự làm việc quá mức.
 Giai đoạn hình thành nhân (Nodularity):
7
Giai đoạn này kéo dài trong nhiều năm. ở giai đoạn này các nang tiếp tục
phát triển, đường kính đạt tới 300 – 400 µm, có khi còn có thể phát triển lớn hơn.
Người ta ghi nhận được 2 hiện tượng ở trong giai đoạn này:
- Thứ nhất: Sự phát triển của các nang làm tổn thương hệ thống mạch máu
dẫn đến chảy máu, hoại tử và xơ hoá.
- Thứ hai: Những tổn thương trên được bao bọc lại bởi các mô hạt.
Tóm lại, bướu nhân tuyến giáp là tình trạng thay đổi cấu trúc, thậm chí cả
chức năng của vùng tuyến giáp, tạo thành một hoặc nhiều khối riêng biệt trong
lòng nhu mô tuyến giáp. Bệnh chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại sinh và nội
sinh. Các nghiên cứu về sinh bệnh học vẫn còn đang tiếp diễn nhằm làm sáng tỏ
thêm cơ chế bệnh sinh của bướu nhân tuyến giáp [6, 8].
3. Lâm sàng:

+U nang giáp hỗn hợp: Các tổn thương dạng đặc và dạng lỏng xen lẫn
nhau.
- Các tổn thương đặc biệt khác.
b. Giá trị của siêu âm trong chẩn đoán bướu nhân tuyến giáp:
Khi thăm dò hình thái tuyến giáp bằng siêu âm, người ta có thể xác định các
dạng tổn thương đặc, lỏng hay hỗn hợp của nhân giáp với độ chính xác trên 90%
và đây là phương pháp tốt nhất để xác định kích thước nhân.
Nhờ siêu âm, người ta theo dõi được diễn biến của các nhân giáp, thể tích
tuyến giáp trong quá trình điều trị. Vì thế, nó không chỉ góp phần lựa chọn phương
pháp điều trị mà còn giúp theo dõi, đánh giá kết quả quá trình điều trị.
Ngoài ra, siêu âm còn là phương tiện dẫn đường để thực hiện các thủ thuật
chẩn đoán (chọc hút kim nhỏ) và điều trị (chọc hút dịch nang, tiêm Ethanol,…) đối
với các nhân giáp nằm sâu trong nhu mô tuyến và có kích thước nhỏ.
Tuy nhiên, bằng siêu âm người ta không thể xác định chính xác tính chất
lành tính hay ác tính của tổn thương. Trên siêu âm, người ta chỉ có được những
hình ảnh gợi ý về bản chất lành tính hay ác tính của tổn thương, chứ không thể
chẩn đoán xác định được [6, 8, 13].
4.1.2.Xạ hình tuyến giáp:
Trước kia, khi siêu âm tuyến giáp chưa ra đời thì xạ hình là phương pháp
thăm dò hình thái được lựa chọn nhiều nhất. Có nhiều loại đồng vị phóng xạ được
sử dụng như: I
131
, I
123
,
99m
TC,…
9
Ở Việt Nam phần lớn các cơ sở dùng I
131

- Những tổn thương có đường kính nhỏ hơn 1 cm hay những tổn thương có
đường kính lớn hơn nhưng ở sâu thì khả năng của xạ hình rất khó phân
biệt được.
- Những tế bào tại nhân tuyến giáp có cùng khả năng thu nhận Iod như tế
bào tuyến bình thường hoặc sự khác biệt này chưa đủ để tạo ra sự khác
biệt trên xạ hình.
- Việc sử dụng muối Iod phổ biến trong dân cư làm việc đánh giá kết quả
khó khăn.
Với những hạn chế trên, người ta có thể giải thích tại sao những công trình nghiên
cứu cho thấy tỷ lệ âm tính giả của xạ hình là khá cao. Sù ra đời của siêu âm đã
khắc phục được những hạn chế của xạ hình tuyến giáp [6].
10
4.1.3. CT scanner và MRI:
Có thể đánh giá chính xác hơn vị trí u nguyên phát cũng nh mức độ xâm lấn
của u nhưng không có khả năng phân biệt giữa u lành và u ác tính.
4.2. Các thăm dò sinh hoá:
Những xét nghiệm thăm dò chức năng tuyến giáp không có giá trị chẩn đoán
xác định BNTG, tuy nhiên sẽ giúp cho lựa chọn phương pháp điều trị và theo dõi
tiến triển của bệnh. Người ta có các chỉ số sau để phát hiện:
 Định lượng TSH huyết thanh: Nồng độ TSH thường là bình thường, có thể
giảm nhẹ, rất Ýt khi có tăng TSH huyết thanh.
 Định lượng T3, T4, FT3, FT4: thường trong giới hạn bình thường, tăng trong
trường hợp có nhân độc.
 Định lượng Thyroglobulin: Có thể tăng trong trường hợp có nhân ác tính. Tuy
nhiên, các trường hợp lành tính cũng có thể tăng.
 Kháng thể kháng Thyroglobulin: Có Ých trong việc khẳng định một chẩn đoán
tế bào nhân giáp là nghi ngờ khi nó tăng cao hơn mức bình thường.
 Calcitonin máu: thường trong giới hạn bình thường, hormone này là một trong
những marker của ung thư tế bào tuỷ tuyến giáp [2, 6].
4.3. Phương pháp chẩn đoán tế bào học (FNA: Fine Needle Aspiration):

một nhóm nhỏ cần xem xét việc phẫu thuật. TBHHKN được coi là một xét nghiệm
nhậy cảm và đặc hiệu có giá trị đối với ung thư tuyến giáp hiện nay [3, 4, 5].
4.3.2. Chẩn đoán bệnh lý nhân tuyến giáp qua hình ảnh tế bào học :
a. Hình ảnh tế bào học của tuyến giáp bình thường :
Trên phiến đồ tế bào bình thường của tuyến giáp gồm có các thành phần :
- Tế bào biểu mô tuyến : là thành phần tế bào chủ yếu. Các tế bào có hình
trụ, hình khối hay dẹt tuỳ thuộc vào giai đoạn chế tiết, kích thước tương đối đồng
đều, nhân tròn nhỏ nằm ở giữa, màng nhân mỏng, chất nhiễm sắc mịn, có thể thấy
các hạt nhân nhỏ, bào tương có bờ rõ, bắt màu ưa base. Các tế bào thường đứng
với nhau thành đám, có khi xếp thành hình vi nang.
- Tế bào cận nang ( tế bào C ): tế bào to, bào tương phong phú có vành rộng
bắt màu base, nhân hình tròn hay bầu dục. Ranh giới giữa các tế bào thường rõ.
Các tế bào này có thể đứng rải rác hoặc thành đám nhỏ.
12
- Tế bào lớn ưa acid ( Tế bào Hurthle – Akanazy): Tế bào có nhân tròn to,
đường kính bình thường trên 15 àm, hình ảnh đặc trưng nhất của chúng là bào
tương rộng, đậm đặc dạng hạt mịn, vành rộng, màu xám xanh nhạt hay tím nhạt, có
nhiều hạt ưa acid.
- Đại thực bào tuyến giáp: Ýt gặp. Có 2 loại: ĐTB thông thường giống ở mọi
mô khác và ĐTB đặc trưng có hình tròn hay bầu dục, đường kính khoảng 25 –
40àm , hoặc hơn nữa, có thể có giả túc. Bào tương nhiều hốc lỗ rỗ sáng.
- Chất colloid : là chất keo giáp biểu thị dưới dạng một chất thuần nhất màu
xanh hay hay hồng tím với độ đạm nhạt thay đổi tuỳ theo lượng keo nhiều hay Ýt,
đặc hay loãng.
- Ngoài ra còn có thể thấy hồng cầu, rải rác bạch cầu đơn đa nhân, Ýt sợi tạo
keo, tế bào sợi, tế bào nội mô…[3, 5, 9, 10]
b. Bệnh lý lành tính :
Viêm tuyến giáp :
- Viêm cấp tính ( viêm mủ ) :
Trên tiêu bản bạch cầu đa nhân thoái hoá chiếm ưu thế. Đa số hồng cầu thoái

hoá.
⇒ TÕ bào biểu mô phủ hình khối hay hình trụ bong ra từ biểu mô lót vách
nang ( u nang thật ) hoặc các tế bào biểu mô gần giống ĐTB bong ra từ
biểu mô túi tuyến giáp ( u nang giả ).
⇒ ĐTB bọt, tế bào viêm chủ yếu BCĐN trung tính, lympho bào . Ngoài ra
có thể gặp tế bào nội mô, tế bào sợi, tế bào hình thoi…
U tuyến tuyến giáp :
- U tuyến típ biểu mô :
+ Trên tiêu bản thấy những tế bào biểu mô hình khối hay trụ khá tập trung
lấn át mọi loại tế bào khác. Những tế bào này có kích thước đồng đều, nhân tròn
đều, lưới nhiễm sắc mỏng, không thấy rõ hạt nhân, hầu như không có hoạt động
14
chế tiết. Tế bào tuyến Ýt khi đứng đơn độc, chúng thường xếp thành đám, dây,
hình vi nang.
+ Hồng cầu Ýt hay không thấy rõ, chất keo giáp Ýt, không mấy khi tạo
thành chất nền hồng hay hồng tím.
- U tuyến típ keo :
Trên nền của một chất keo dày đặc, thuần nhất màu hang hay màu xanh tím
chỉ có Ýt tế bào biểu mô trong nhỏ không rõ bào tương, rất giống lympho bào. Các
tế bào thường đứng rải rác, đôi khi tụ tập thành từng đám nhỏ [3, 9, 10].
15
c. U ác tính :
Tiêu chuẩn chẩn đoán tế bào học cho mét ung thư tuyến giáp nói chung:
- Sự tăng sinh tế bào rõ rệt: mật độ tế bào dày đặc trên mỗi phiến đồ, thường
nhiều hơn trong các u lành quá sản hoặc thoái triển biểu mô đơn thuần kể cả týp
quá sản biểu mô.
- Tính chất bất thường (hay không điển hình) và đa hình thái của tế bào u ở
những mức độ khác nhau: tế bào to nhỏ không đều, nói chung lớn hơn bình thường
và tăng sắc. Tỷ lệ nhân trên bào tương lớn, nhân to nhỏ không đều với nhân to có
múi hay nhiều nhân: chất nhiễm sắc bất thường, chỗ đậm chỗ nhạt, thô, vón cục,

UTGT thể không biệt hoá :
Các phiến đồ thường nhiều tế bào và các tế bào có biểu hiện ác tính cao.
Chúng có thay đổi lớn về kích thước và hình dạng, thường đa dạng, nhiều tế bào có
hình thoi hoặc thành tế bào khổng lồ. Nhân tế bào có hình ảnh ác tính rõ rệt như
màng nhân không đều, chất nhiễm sắc thô và thường có các hạt nhân lớn. Thường
có nhiều nhân chia, trong đó có các hình nhân chia bất thường. Bào tương tế bào
có thể thay đổi từ nhạt màu và có hốc (sáng) tới dạng hạt (giống tế bào Hurthle),
tới dạng đặc (dạng vảy). Hoại tử xâm nhập BCĐN là hình ảnh của nền phiến đồ
thường gặp.
Ung thư biểu mô thể tuỷ :Tế bào ung thư phát sinh từ tế bào cận nang ( tế bào C )
Tế bào u tròn hay đa diện, có thể đứng rải rác hay xếp thành bè, dây, ổ nhỏ.
Đôi khi có cấu trúc vi nang hay cấu trúc nhú. Ba loại tế bào phổ biến với tỷ lệ khác
nhau tuỳ trường hợp là lympho bào – tương bào, tế bào dạng hình thoi hoặc dạng
hạt. Ngoài mức độ ác tính biểu hiện vừa phải, thường thấy tế bào có nhân lệch một
bên khá rõ với một số tế bào chứa từ 2 – 4 nhân. Một tiêu chuẩn khá đặc trưng là
bào tương chứa những hạt những hạt màu hồng hay đỏ sẫm.
17
Ung thư biểu mô tế bào lớn ưa acid:
Tế bào ung thư dày đặc, có hình ảnh đặc trưng, tính chất ác tính biểu lộ rõ, tế
bào có bào tương rộng ưa acid với nhiều hạt nhân nhỏ bắt màu hồng chiếm ưu thế.
Nhân tế bào đa hình thái rõ rệt, nhân lệch tâm, có thể có 2 hạt nhân, chất nhiễm sắc
bất thường, hạt nhân lớn và nhiều. Chúng đứng rải rác hay xếp thành bè, dây, ổ
nhỏ và các hình vi nang không đều, giới hạn tế bào không rõ.
Ung thư biểu mô dạng biểu bì: hiếm gặp
Phiến đồ đa dạng với tế bào u biểu hiện tính chất ác tính rõ hay vừa phải khi
chúng chưa biệt hoá, khi gợi hình trụ có thể có hoạt động chế tiết nhưng nổi bật là
tế bào u đa diện xếp thành ổ hay phức hợp, đám đặc, nhiều khi bào tương và màng
tế bào rất rõ, thậm chí thấy cả cầu nối và hiện tượng hoá sõng [3, 4, 5, 9, 10].
5. Điều trị bướu nhân tuyến giáp:
Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi giữa việc lựa chọn phương pháp điều trị

1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là 60 bệnh nhân được chẩn đoán là bướu nhân tuyến
giáp trên lâm sàng và được làm xét nghiệm tế bào học tại Viện Y học phóng xạ &
U bướu Quân đội.
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
+ Bệnh nhân được chÈn đoán là bướu nhân tuyến giáp trên lâm sàng
và được làm các xét nghiệm: tế bào học, siêu âm , xạ hình.
+ Giới: cả nam và nữ
+ Tuổi: Mọi lứa tuổi
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ BN được chẩn đoán là bướu nhân trên lâm sàng nhưng khi siêu âm
không thấy hình ảnh nhân giáp.
+ BN không được làm đầy đủ các xét nghiệm trên.
+ Những BN khi làm xét nghiệm tế bào học nhưng phiến đồ không đủ
tiêu chuẩn để đọc.
2. Phương pháp nghiên cứu:
2.1. Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu mô tả, tiến cứu.
- Số lượng mẫu nghiên cứu: 60
2.2. Kỹ thuật sử dông trong nghiên cứu:
2.2.1. Kỹ thuật lấy bệnh phẩm tế bào học và tiêu chuẩn đánh giá phiến đồ:
- Chuẩn bị dụng cụ:
+ Dùng bơm tiêm 20ml (để tạo áp lực âm khi chọc hút) và kim tiêm cỡ 20 –
25 tuỳ theo tuổi bệnh nhân và kích thước u. Ở đây chúng tôi dùng kim tiêm cỡ 23.
+Lam kính, bông, cồn và một số dụng cụ khác.
- Chuẩn bị bệnh nhân:
+ Bệnh nhân nên được nghỉ ngơi thoải mái trước khi tiến hành thủ thuật.
+ Giải thích cho bệnh nhân về thủ thuật để bệnh nhân hợp tác với thầy thuốc.
20
+ Dặn bệnh nhân tuyệt đối không được nuốt hoặc nói trong khi tiến hành thủ

Ýt nhất 10 tế bào nang giáp mới được xem là đủ tiêu chuẩn để đọc.
Đánh giá phiến đồ dựa vào 3 tiêu chuẩn chính sau:
+ Sự tăng sinh tế bào.
+Tính chất của nhân và bào tương: gồm 5 tiêu chuẩn là
*Sù thay đổi của nhân.
*Tỷ lệ nhân trên bào tương.
*Mối quan hệ giữa các tế bào với nhau.
*Sù thay đổi nguyên sinh chất.
*Sự xuất hiện của các tế bào bất thường.
+Tính chất gợi biểu mô giáp của các tế bào u.
+Các týp tế bào học được phân loại theo như tiêu chuẩn đẫ trình bày ở phần
tổng quan.
2.2.2. Kỹ thuật siêu âm và tiêu chẩn đánh giá tổn thương trên siêu âm:
BN được làm siêu âm bằng máy ALOKA SSD4000 đầu dò 7,5 MHz tại phòng
siêu âm Viện Y học phóng xạ & U bướu Quân đội.
Đánh giá tổn thương dùa theo tiêu chuẩn OHIOvà tiêu chuẩn của Carl:
- Tổn thương dạng đặc:
+Mật độ Echo vùng tổn thương đồng nhất (tăng hoặc giảm âm).
+Có vá bao quanh vùng tổn thương.
+Có quầng sáng “Hallo” quanh nhân (có thể có).
+Nốt vôi hoá trong vùng tổn thương (có thể có).
- Tổn thương dạng lỏng:
+U nang giáp đơn thuần:
- Mất Echo trong nang.
- Bê sau nang rõ nét.
- Tăng Echo ở sau vùng tổn thương.
22
+U nang giáp hỗn hợp: Các tổn thương dạng đặc và dạng lỏng xen lẫn nhau.
2.2.3. Kỹ thuật xạ hình và tiêu chuẩn đánh giá tổn thương trên xạ hình:
BN được làm xạ hình tuyến giáp trên máy SPECT – Kỹ thuật số Mellinium

44,3 ± 13,6
0
5
10
15
20
25
30
35
< 31 31 - 40 41 - 50 51 - 60 > 60
Biểu đồ 1: Phân bố BN theo nhóm tuổi.
Nhận xét: Sè BN trên 30 tuổi chiếm 88,53%. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi 31 – 40
( chiếm 35%). BN nhiều tuổi nhất là 77 tuổi, BN Ýt tuổi nhất là 12 tuổi.
24
%
Nhãm tuæi
2. Đặc điểm về giới:
Bảng 2: Phân bố BN theo nhóm tuổi
Giới
Nam Nữ Tổng sè
n
8 52 60
Tỷ lệ %
13,3 86,7 100
13%
87%
Nam

Biểu đồ 2: Phân bố BN theo nhóm tuổi.
Nhận xét: Qua bảng và biểu đồ trên cho thấy số BN có u giáp tập trung chủ yếu ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status