đánh giá tác dụng chống viêm, giảm đau, chống dị ứng của cream sl1 trên động vật thực nghiệm - Pdf 24

Đặt vấn đề
Sứa lửa có tên khoa học là Physalia physalis còn được gọi là “Chiến
thuyền Bồ Đào Nha” (Portuguese Man O’ War). Sứa lửa có hình dạng giống
như chiếc dù lơ lửng trong nước, bụng dưới rỗng có chứa nhiều xúc tu là cơ
quan tóm bắt mồi và tự vệ. Trên thế giới sứa lửa phân bố ở các biển, vịnh có
khí hậu ôn đới và nhiệt đới có khắp nơi trên biển Đại Tây Dương, Thỏớ Bỡnh
Dương, Ấn Độ Dương…[25].
Ở nước ta, sứa lửa thường tập trung nhiều ở vùng biển phía Nam và ở
các vùng biển đảo Trường Sa, Phú Quốc…. Chúng thường sống trôi nổi thành
từng đoàn, từng tốp hoặc đơn lẻ dọc theo bờ biển. Sứa lửa thực sự trở thành
mối nguy cơ đe dọa với lực lượng hoạt động dưới biển: Bộ đội Đặc công
nước, Hải Quân và những ngư dân, khách du lịch
Khi tự vệ, các xúc tu của sứa lửa bám vào da người hoặc động vật, tiết
ra các độc tố. Các độc tố này gây bỏng, rỏt, loột nỏt da, gây tổn thương thần
kinh, gây dị ứng Nếu không được xử trí điều trị kịp thời, vùng da tại chỗ sẽ
bị hoại tử sau 10 - 72 giờ hoặc nhiễm trùng, lâu liền Ngoài ra còn có thể gây
rối loạn toàn thân: dị ứng, choáng phản vệ, ảnh hưởng trực tiếp hoạt động tức
thời và sức khỏe lâu dài. Tất cả những ai đã từng bị sứa lửa tấn công đều bị
tâm lý hoang mang lo sợ [28], [62].
1
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác hại của sứa lửa cũng như sinh
lý, sinh thái của loài nhuyễn thể này nhất là ở các nước phát triển và có lực
lượng Hải quân hùng mạnh như Hải quân Mỹ ở Hawai, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha
mà sứa lửa ở đõy được gọi với cái tên là Chiến thuyền Bồ Đào Nha (Portuguese
Man O’ War). Ở Việt Nam đó có những công trình nghiên cứu, bào chế thuốc
điều trị và dự phòng về tổn thương do sứa lửa nhưng chưa đưa ra được thuốc
đặc hiệu [33].
Điều trị tổn thương do sứa lửa chủ yếu là dựng cỏc thuốc: chống dị
ứng, giảm đau Các đơn vị Hải quân đã có kinh nghiệm sơ cứu nạn nhân khi
bị sứa lửa tấn công: rửa sạch vùng tổn thương, bụi cỏc thuốc chống dị ứng,
đồng thời cho uống hoặc tiêm thuốc giảm đau, thuốc chống viêm, truyền dịch

lời. Sau đó, họ khám phá ra đấy chỉ là một đàn sứa lửa đang di chuyển trên
biển. Từ đó người ta quen gọi nó là “Chiến thuyền Bồ Đào Nha” (Portuguese
man of war) mà quên rằng nó có tên là Physalia physalis [27], [32], [34].
Sứa lửa thường tập trung nhiều ở biển Gulf Stream, Bắc biển Caribe
đến Nova Scotia và trờn cỏc biển như Thái Bình Dương và Đại Tây Dương.
Những người bơi trên biển nếu gặp phải sứa lửa thỡ khú sống sót. Vì thế
người ta còn gọi nó là “Tử thần của biển” [29], [30], [53].
Khi sứa lửa tấn công người, nọc của nó có thể gây sốc, sốt, dị ứng, loét
da. Độc tố của sứa lửa thuộc loại độc tố dạng nematocyt sting toxin và
neurotoxin, có hoạt tính mạnh bằng 75% so với độc tố của rắn hổ mang. Các
độc tố chứa một hỗn hợp phức tạp của polypeptides và protein bao gồm cả
catecholamines, histamin, hyaluronidase, fibolysins, kinins, phospholipases
và nhiều hemolytic, cardiotoxic và dermatonecrotic độc tố [35], [36], [42].
Một con cá hoặc một con tôm có thể di chuyển nhanh theo hướng xác định,
nhưng con sứa lửa biển chỉ có thể bơi lờ đờ trôi theo dòng nước và sóng biển.
4
Những kết quả nghiên cứu gần đây nhất đã khiến cho các nhà khoa học
phải thừa nhận họ đã đánh giá thấp con sứa biển và họ hàng của nó, được biết
đến với tên gọi là tập hợp cnidarian. Bên trong cơ thể có vẻ đơn giản của
chúng là một tập hợp gene rất phức tạp và đáng chú ý [44],[45], [47].
Những khám phá này đã đem đến một lý thuyết hoàn toàn mới về quá
trình tiến hoá của động vật từ 600 triệu năm trước. Kết quả tìm kiếm cũng đã
thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học dành cho loài cnidarian như một mô
hình để tìm hiểu cơ thể động vật và con người [26], [49], [51].
Kevin J. Peterson, một nhà sinh vật học tại Dartmouth nhận xét: "Điều
ngạc nhiên lớn nhất chính là việc loài cnidarian lại có nhiều gene phức tạp
hơn ta tưởng. Điều này đã làm cho rất nhiều người phải quay lại và nhận ra
rất nhiều điều họ vẫn nghĩ về loài cnidarian là hoàn toàn sai lầm" [46], [52],
[60].
Bica và Rochio (1901) đã Ðp xóc tu sứa lửa tìm được một chất lỏng

ở vùng biển phía Nam và nam Trung bộ, ở vùng biển Trường Sa, Phú Quốc.
Đặc biệt từ vùng biển của tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận trở vào. Trong
khoảng thời gian từ cuối mùa hè sang thu chúng thường sống trôi nổi thành
từng đàn, từng tốp hoặc đơn lẻ dọc theo bờ biển. Khi bơi dưới nước đuụi
ngúng nguẩy để đẩy chúng đi theo các hướng, vì sứa lửa không có mắt nờn
chỳng khụng định hướng trước được. Những ngày biển động sứa lửa thường
tập trung từng đàn ngay gần với bờ biển thành từng đám màu đỏ di chuyển
săn mồi….
Tháng 6/1988 các chiến sỹ Đặc công nước luyện tập và hoạt động ở
vùng biển Phan Thiết đã bị sứa lửa tấn công gây bỏng rất nặng. Theo thống kê
của Quân y đơn vị và kết quả hồi cứu hồ sơ bệnh án tại bệnh xá tỉnh đội
Thuận Hải đã có tới 21 trường hợp bị bỏng (với các mức độ nhẹ, vừa, nặng)
do sứa lửa gây ra.
Trong đợt đi thực hiện đề tài hè năm 2008, nhóm nghiên cứu cùng Đại
tá Đoàn trưởng Đoàn Đặc Công 5 Nguyễn Doãn Hân trên tàu ra đảo Phú Quý
đã phát hiện một đoàn sứa lửa tại vùng biển Ninh Thuận và bắt được một số
sứa lửa phục vụ cho nghiên cứu. Theo tổng kết của Quân y Đoàn Đặc công 5
thì về mùa hè sứa lửa ở vùng biển Ninh Thuận gặp khá nhiều, chúng thường
xuất hiện vào buổi sáng, những tân binh mới đến chưa có kinh nghiệm hay bị
sứa lửa gây tổn thương.
1.3. Đặc điểm tổn thương do sứa lửa và nguyên tắc điều trị
7
Khi bị sứa lửa tấn công, các xúc tu của sứa lửa bám vào da con người
đồng thời tiết ra các độc tố. Ngay lập tức các độc tố này gây bỏng, rỏt, loột
nỏt da, tổn thương thần kinh Đồng thời gây rối loạn toàn thân: dị ứng,
choáng phản vệ. Đặc điểm tổn thương do sứa lửa giống với các tổn thương
bỏng: tổn thương bị phù nề, xung huyết, loét da. Nếu bị nhiều nọc, tổn thương
có thể sâu tới lớp trung bì và hạ bì. Khi con người bị sứa lửa tấn công có tâm
lý hoảng hốt và sợ hãi [39], [40], [53].
Nọc của sứa lửa rất độc có chứa các chất độc thần kinh, chất độc với

tác dụng điều trị các bệnh lý viêm, sẩn ngứa, dị ứng da tại chỗ như bằng sa,
minh phàn, lục phàn, băng phiến, long não, lưu hoàng, hùng hoàng, hạt cây
máu chó, muồng trâu, ba chạc, chút chít, kiến cò, núc nác, vàng đằng, sến, cỏ
lào, nghệ, rau má, kim ngân, lô hội [2],[3].
9
Các loại dược liệu có tác dụng làm se khô và tạo màng thuốc che phủ
bề mặt tổn thương do bỏng: cao lá sến, sim, sú vẹt, củ nâu, sòi, săng lẻ, kháo
vàng, hoàng đằng,
Các loại dược liệu có tác dụng làm rụng nhanh các hoại tử: mủ đu đủ,
mã đề, nghệ, bấn, dứa xanh [3], [6].
Các loại dược liệu có tác dụng tốt trong tái tạo mô hạt và biểu mụ hoỏ:
nghệ, lá mỏ quạ, rau má, cao mỡ vàng
Các loại dược liệu này cũng đã được các tác giả nước ngoài chứng minh có
tính kháng khuẩn trên thực nghiệm cũng như hiệu quả trên lâm sàng [91], [92].
10
1.5. Các vị thuốc sử dông bào chế Cream SL1:
1.5.1. Đại hoàng (Radix et Rhizoma Rhei)
Hình 1.1. Đại hoàng (Rheum officinale
Baill)
* Tên khoa học của vị thuốc:
Radix et Rhizoma Rhei là thân rễ của cõy
Đại hoàng (Rheum officinale Baill) thuộc họ rau răm (Polygonaceae). Loại dược
liệu này có màu rất vàng, nếm vào miệng thấy lạo xạo và có bọt nước vàng
nên gọi là Đại hoàng [12], [90], [93], [94].
* Bộ phận dùng: Rễ của Đại hoàng có ít nhất trên 3 tuổi. Sau khi đào
về, gọt bỏ vỏ ngoài, chặt nhỏ, rồi phơi hay sấy khô. Lưu giữ trong một năm
rồi mới đem dùng.
+ Một số tên gọi khác: Cây có nhiều ở vùng Tứ xuyên Trung Quốc, nên
gọi là Xuyên đại hoàng, Xuyờn Quõn, Xuyờn văn [90], [95].
+ Đại hoàng (Rheum officinale Baill) ở Trung Quốc gọi là Chưởng diệp

+ Palmidin A, B, C, Sennidin A, B, C, Reindin A, B, C, Sennoside A,
B, C, D [64], [80], [81], [85].
* Các nghiên cứu về Đại hoàng:
+ Tác dụng dược lý:
- Chất gây tiêu chảy của Đại hoàng là Anthraquinone. Tác dụng chủ
yếu là ở đại trường, thuốc làm cho trương lực của đoạn giữa và cuối đại
trường tăng, nhu động ruột tăng, nhưng không trở ngại cho việc hấp thu chất
dinh dưỡng của tiểu trường. Nhưng trong Đại hoàng có chất Tanin vì thế sau
khi tiêu chảy hay bị táo bón. Hoặc liều nhỏ (ít hơn 0,3g/kg) thường gây táo
bón [49].
- Tác dụng lợi mật: Nước sắc đại hoàng làm tăng co bóp túi mật, giãn
cơ vòng Oddi khiến mật bài tiết.
- Tác dụng cầm máu: đại hoàng có tác dụng cầm máu, rút ngắn thờỉ
gian đụng mỏu, làm giảm tính thẩm thấu của mao mạch, cải thiện độ bền của
thành mạch, làm tăng Fibrinogene trong máu, làm mạch máu co thắt tăng,
kích thích tủy xương tạo tiểu cầu, nhờ đó làm tăng nhanh thời gian đụng mỏu.
Thành phần cầm máu chủ yếu là chất chrysophanol.
- Tác dụng kháng khuẩn: Đại hoàng có tác dụng kháng khuẩn rộng,
chủ yếu đối với tụ cầu, liên cầu, song cầu khuẩn lậu, trực khuẩn bạch hầu,
trực khuẩn thương hàn, phó thương hàn, kiết lỵ. Thành phần ức chế vi khuẩn
chủ yếu là dẫn chất của anthraquinone. Thuốc cũng có tác dụng ức chế một
số nấm gây bệnh và virỳt cỳm.
13
- Nước sắc Đại hoàng cho chó gây mê uống, gây hạ áp. Liều nhỏ của
đại hoàng kích thích tim ếch, liều lớn ngược lại, có tác dụng ức chế.
- Thành phần Emodin và Rhein trực tiếp ức chế sự sinh trưởng của tế
bào ung thư của Melanoma, ung thư vú và ung thư gan kèm trướng nước ở
bụng chuột.
- Nước sắc Đại hoàng có tác dụng lợi tiểu, bảo vệ gan và giảm
Cholesterol máu đối với thỏ thực nghiệm. Tuy nhiên với chuột bạch thường

cả hai thứ dán lên chỗ đau.
- Điều trị miệng lở loét: Đại hoàng, Khô phàn, 2 vị bằng nhau, tán bột
bụi lờn chỗ loét.
- Chữa chứng lở loét mũi: Sinh địa hoàng, Hạnh nhân đều giã nát, trộn
với mỡ heo, bôi vào.
15
- Điều trị vết đứt da, đau nhức, táo bón: Đại hoàng, Hoàng cầm tán bột,
2 vị bằng nhau, luyện viên với mật. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 viên, trước
bữa ăn.
- Chữa vết thương bầm dập: Bột Đại hoàng trộn với giấm bôi.
- Điều trị mụn nhọt: bột Đại hoàng, trộn với dấm, dựng bụi ngoài da.
- Chữa viêm tuyến sữa: Đại hoàng, Phấn thảo, mỗi thứ 40g, tán bột, nấu
với rượu thành cao để dán.
- Điều trị chứng bỏng nóng: Đại hoàng nghiền thành bột, trộn mật, bôi
có tác dụng giảm đau, liền sẹo [86], [88], [89].
16
1.5.2. Cây khế (Ngũ liễm tử, Dương đào)
Hình 1.2. Cây khế (Averrhoa Carabola. L)
* Tên khoa học: Averrhoa Carambola. L. Thuộc họ chua me đất
(Oxalidaceae).
* Bộ phận dùng: Lá vỏ cõy thu hái quanh năm. Lá dùng tươi, vỏ cõy
sao vàng. Hoa, quả thu hái vào mùa hạ, thu, dùng tươi. Để làm thuốc, người ta
chỉ dùng cây khế chua [2], [12], [90]. Tất cả các bộ phận của cây khế, kể cả
cây tầm gửi sống ký sinh trên đó, đều được dùng chữa bệnh.
* Tớnh vị, công năng: Lá khế vị chua chát, tính bình, có tác dụng thanh
nhiệt, mát huyết, tiêu viêm, lợi tiểu.
17
* Thành phần hóa học: protein, carbohydrat, cú các chất đường, acid
oxalic, vitamin A, B
1

lá khế vào bài thuốc dùng chữa sốt xuất huyết.
- Thuốc thúc sởi, làm sởi chóng mọc và mọc đều. Quả khế thái lát phơi
khô 20g, rau dệu 20g, lá nọc sởi 20g, canh chõu 20g, sao vàng hạ thổ, sắc chia
làm 2 lần uống trong ngày. Có thể dùng vỏ cõy hoặc vỏ rễ, cạo bỏ vỏ ngoài và
vỏ xanh, ngày 20 - 40g, sao vàng, sắc uống [2], [82], [83], [87].
- Chữa cảm nắng: Lá khế tươi 20g, lá chanh 10g, giã nát, vắt lấy nước uống.
- Chữa sốt cao lên kinh giật ở trẻ em: Hoa khế 8g, hoa kim ngõn 8g, lá
dành dành 8g, cỏ nhọ nồi 8g, cam thảo 4g, bạc hà 4g. Sắc đặc chia nhiều lần
uống trong ngày.
- Chữa ho, ho suyễn trẻ em, ho gà, ho đờm, viêm họng:
. Hoa khế 13g, tẩm nước gừng rồi sao, sắc uống.
. Lá khế 20g, rửa sạch, sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.
. Quả khế tươi 60 - 80g, ép lấy nước uống.
. Vỏ thân cây khế, cạo hết vỏ ngoài và vỏ xanh, thái nhỏ, sao vàng 20g,
sắc cùng với rễ cây đơn châu chấu 8 - 12g, trần bì 4g, uống trong ngày.
- Chữa đái buốt, đái ra máu, viêm bàng quang, âm đạo: Lá khế 80g, rễ
cỏ tranh 40g, sắc uống.
19
- Chữa đỏi khụng thụng: Dùng 7 quả khế chua, cắt mỗi quả lấy 1/3 phía
cuống, đổ vào một bát nước, sắc còn nửa bát, uống khi còn ấm. Kết hợp lấy
một quả khế và một củ tỏi giã nát, đắp vào rốn (Nam dược thần hiệu).
- Chữa ngộ độc nấm, rắn cắn: Lá khế 20g, lá hoặc quả đậu ván 20g, lá
lốt 10g (có hoa càng tốt), dùng tươi, giã nát, hoà với 200ml nước đun sôi để
nguội, chắt lấy nước uống hết một lần. Dùng 2 - 3 lần. Nếu là rắn cắn, bã đắp
vào vết cắn. Có thể dùng lá khô, lượng bằng nửa, sao qua cho thơm, rồi sắc
uống. Dùng 2 - 3 lần.
- Chữa sốt rét, sốt kốm lỏch to: Lá khế, lá vối, rễ đu đủ, lỏ ngõu, rễ cỏ
xước, mỗi vị 20g, sắc uống.
- Phòng bệnh cho phụ nữ sau khi đẻ: Quả khế 20g, vỏ cây hồng bì 30g,
rễ cây quả giun 20g, sắc uống thay nước.

- Rau má có tác dụng làm giảm nhẹ cơn dị ứng khó thở ở chuột lang đã
được tiêm kháng nguyên để gây mẫn cảm, sau đó gây cơn dị ứng khó thở
bằng cách đưa kháng nguyên vào đường hô hấp trong buồng khí dung (kéo
dài thời gian an toàn hoặc hạ thấp tỷ lệ chuột chết); có tác dụng chống co thắt
phế quản chuột lang, kéo dài thời gian an toàn, làm chậm xuất hiện triệu
chứng khó thở ở chuột đặt trong buồng khí dung histamin; kháng lại độc lực
22
của nọc rắn, nâng cao tỷ lệ sống; kéo dài thời gian cầm cự của chuột đó tiờm
nọc rắn hổ mang[2], [79], [83].
- Nước sắc rau má, qua phân tích bằng sắc ký lớp mỏng, thấy có một số
vết chất có tác dụng chống oxy hoá trong ống kính.
- Nước sắc có tác dụng kháng khuẩn đối với trực khuẩn mủ xanh và tụ
cầu khuẩn vàng. Rau má có tác dụng kháng Entamoeba histolytica trong ống
kính và trên cơ thể sống, chống co thắt hồi tràng cô lập chuột lang gây bởi
acetylcholin và histamin.
- Các hợp chất triterpen được coi là hoạt chất có tác dụng dược : Nhiều
thử nghiệm trên động vật và nghiên cứu lâm sàng đã xác nhận cao rau má có
tác dụng làm lành vết thương.
- Bệnh nhân bị bỏng, viờm mụ tế bào, bị bệnh phong và loét da đã được
điều trị trong những nghiên cứu có kiểm chứng. Acid asiatic, acid madecassic
và asiaticosid được thử riêng rẽ và hỗn hợp trên sự tổng hợp colagen I ở các
nguyên bào sợi của da người in vitro. Hỗn hợp cũng như từng thành phần
riêng rẽ kích thích sự tổng hợp colagen I với mức độ tương đương, Colagen I
góp phần làm lành vết thương [12],[79].
+ Trong y học hiện đại:
- Rau mỏ ít được dùng trực tiếp, mà thường ở dạng cao đã được tiêu
chuẩn hoá bằng đường uống, tiêm bắp hoặc dưới da. Một pomat đặc chứa 1 -
2% cao rau má điều trị có kết quả nhưng vết thương nhiễm khuẩn. Cao rau má
điều trị bỏng độ II và III có tác dụng dự phòng sự co rúm và sưng do nhiễm
23

minh tử, hoàng đằng, mỗi vị 20g; hà thủ ô, cỏ mực, mỗi vị 16g; kinh giới,
phèn chua, mỗi vị 12g.
- Chữa viêm bàng quang cấp tính: Rau má 12g; bồ công anh 20g; mã đề
16g; thài lài tía, chi tử, rau ngô, cam thảo dây, mộc thông, mỗi vị 12g. Sắc
uống ngày một thang.
- Chữa vàng da: Rau má 100g; nhân trần hoặc bồ bồ, chi tử, mỗi vị 30g;
vàng đắng 3g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa rôm sảy, mẩn ngứa: Hàng ngày ăn rau má trộn dầu giấm, hoặc
rau má giã nát vắt lấy nước thêm đường để uống.
- Bài thuốc chống lão suy: Rau má 500g; lỏ dõu non, mật ong, mỗi vị
250g; vừng đen (rang thơm), rễ ngưu tất, rễ ba kích, mỗi vị 150g; rễ hà thủ ô
trắng 100g; đường 100g. Các dược liệu phơi khô, tán nhỏ cùng với vừng đen,
25

Trích đoạn Phương phỏp đỏnh giỏ kết quả điều trị tổn thương do sứa lửa bằng cream SL1 trờn người tỡnh nguyện Chương 4 Bàn luận Về tớnh an toàn của bài thuốc * Liều độc cấp tớnh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status