ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN BÉO PHÌ
TẠI KHOA DINH DƯỢNG BỆNH VIỆN Nhi đồng I
Characteristics of obese patients
Bác só Nguyễn Thò hoa
Khoa dinh dưỡng
Bệnh viện Nhi Đồng I
Thành phố Hồ Chí Minh
Summary
Method : Cross-sectinal observation of 330 examined obese patients and Long-time
observation of 81 treated obese patients over 3 months.
Results :
Patient’s cooperation : only 69,3% of 330 obbese patients were brought to
hospital voluntarily, the rest ( 30,7%) involuntarily.
The clinical manifestations ( 330 obese patients): severe obesity ( 61,8%);
hypertension (2,7%); snorred (42,8%); difficult breathing (26,8%); headache (32,2%);
knock-knee ( 7,5%) ; lumbalgia ( 3,7%) .
The laboratory findings (330 obese patients): fatty liver ( 39,1%); glycemia
disordered (18,3%); lipidemia disordered (74,3%): increased triglycerides ( 74,3%),
cholesterol (12,3%), LDL (13,9%) but decreased HDL (11,7%).
The risks factors in severe obesity (330 obese patients) :
Boys , over-weight mothers and semi-boading children have more 1,58, 1,84 and
1,65 risks to be severe obese than girls, normal weight mothers and non semi-boading
children respectively( p = 0,05; p=0,005 and p = 0,03 ).
Severe obese children snore 2,25, fatty liver 2,58, increased triglycerides 2,65
and fat percentage(31,405 ± 10,89% to 30,25 ± 7,64%, p = 0.004) higher than mildly
obese ones.
The results of treatment (81 obese patients): by diets counseling and exercices
of obese patients themselves, the result is fairly good: reducing weight for height
(145,93 ± 31,16% before vs 142,39 ± 38,77% after treatment, p = 0.02 ) ; BMI ( 23,78 ±
6,85 before vs 23,08 ± 7,22 after treatment, p = 0,0006 ); fat mass ( 32,46 ± 5,31%
lần so với trẻ nữ ( p = 0,05 ); 1,84 lần so với trẻ không có mẹ thừa cân ( p = 0,05) ; 1,65
lần trẻ không học bán trú ( p = 0,03 ).
Trẻ bò béo phì nặng nguy cơ ngủ ngáy nhiều hơn gấp 2,25 lần so với béo phì nhẹ
( p < 0,001 )
Trẻ bò béo phì nặng nguy cơ bò gan nhiễm mỡ gấp 2,58 lần ( p = 0,001 ) , tăng
Triglycerides 2,65 lần (p = 0,005) so với béo phì nhẹ. Trẻ béo phì nặng có tỷ lệ mỡ cao
hơn trẻ béo phì nặng (31,405 ± 10,89% so với 30,25 ± 7,64%,p = 0.004 )
Về kết qủa điều trò : bằng phương pháp tham vấn dinh dưỡng và luyện tập kết
quả là cân nặng / chiều cao giảm( từ 145,93 ± 31,16% trước điều trò xuống 142,39 ±
38,77% , p = 0.02 ) ; BMI giảm ( từ 23,78 ± 6,85 xuống 23,08 ± 7,22 , p = 0,0006 ) ; Tỷ
lệ mỡ giảm ( từ 32,46 ± 5,31% xuống 30,68 ± 6,41%, p = 0,0006 ) ; LDL giảm ( từ
91,05 ± 54,52 mg/dl xuống 81,39 ± 60,024mg/dl, p = 0,04 ) ; HDL tăng ( 39,72 ± 19,08
mg/dl lên 41,61 ± 10,93mg/dl, p = 0,01). Các chỉ số như huyết áp , VLDL, đường máu,
gan nhiễm mỡ cũng có thay đổi nhưng chưa có ý nghóa thống kê vì số lượng nghiên cứu
nhỏ , cần nghiên cứu thêm. Không ghi nhận biến chứng trong khi điều trò.
2
Kết luận: Gia đình chưa chủ động đưa trẻ đi khám và điều trò béo phì sớm do đó trẻ
được khám và điều trò béo phì muộn nên đa số đã có biến chứng lâm sàng và cận lâm
sàng . Trẻ càng béo phì nặng càng có nhiều những biến chứng xấu về sức khỏe. Những
đối tượng cần chú ý vì dễ bò béo phì nặng là trẻ nam, học bán trú và có mẹ thừa cân.
Phương pháp tham vấn dinh dưỡng và luyện tập dựa vào tập quán sinh hoạt của bệnh
nhân của Khoa dinh dưỡng Bệnh viện Nhi đồng I bước đầu tỏ ra có hiệu quả cần nghiên
cứu thêm về hiệu quả lâu dài của phương pháp.
MỞ ĐẦU
Béo phì là một trong những vấn đề sức khoẻ đang được quan tâm hàng đầu trên
toàn thế giới vì tốc độ gia tăng và hậu quả sức khoẻ của nó. Và theo Tổ chức y tế thế
giới thì béo phì là nạn dòch toàn cầu [ 8 ]. Tỉ lệ người bò béo phì gia tăng không những ở
các nước đã phát triển mà nó còn gia tăng ở các nước đang phát triển [1,8 ] .
Tại Việt Nam, theo điều tra cuả Viện dinh dưỡng: năm 1997, tỉ lệ trẻ em dưới 5
tuổi béo phì là 0,6 – 0,7%, năm 1999 là 1,1%, năm 2000 là 2,7% [3]. Tại Thành phố Hồ
ở mức ý nghóa α = 0,05 được sử dụng để xác đònh các mối liên
quan cho những so sánh yếu tố nguy cơ và biến chứng của béo phì nặng. Mức độ liên
quan được đo lường bằng tỉ số số chênh (OR: odds ratio) và khoảng tin cậy 95% của OR.
Với biến số liên tục sự so sánh được thực hiện với phương pháp phân tích
phương sai (ANOVA). Trong trường hợp phương sai của các nhóm không đồng nhất thì
phép kiểm Krusmal Wallis được áp dụng.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm bệnh nhân béo phì : Tổng số bệnh nhân là 330
3.1.1. Đặc điểm dòch tễ, gia đình và tiền căn nuôi dưỡng
Bệnh nhân nam nhiều hơn bệnh nhân nữ ( 62,3% so với 37,7%). Lứa tuổi chiếm
tỉ lệ cao nhất là lứa tuổi tiểu học ( 56%), sau đó là lứa tuổi trung học cơ sở và trung học
phổ thông ( 28,5%) và ít nhất là lứa tuổi mẫu giáo. Vì Bệnh viện Nhi đồng I ở Thành
phố Hồ Chí Minh, nên đa số bệnh nhân ( 73,9% ) ở Thành phố Hồ Chí Minh, còn lại
( 26,1%) . Dân tộc Kinh chiếm 94,8%, 5,2% là dân tộc Hoa, 24,2% cân nặng lúc sanh
cao, đa số bệnh nhân là con cưng ( 93,9% là con út, con một ) của gia đình ít con
( 78,3% gia đình có từ 1 đến 2 con ). Đa số trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ ( 65,2% ).
Những đặc điểm trên phù hợp với những nghiên cứu khác trong nước ( 3. ).
69,3% bệnh nhân được cha mẹ tự đưa con đến khám,
Trần Thò Hồng Loan [2] 80,8% cha mẹ trẻ em thừa cân bíêt là “béo phì là
không tốt”, nhưng trong số họ 25% phụ huynh không biết con mình bò thừa cân và đáng
nói hơn , khi biết con mình bò thừa cân thì 19,2% không muốn con giảm cân. Theo
Nguyễn Thìn [24], 67,7% cha mẹ của trẻ béo phì cho béo phì là đẹp và 32,3% không
muốn điều trò cho con. Quek CM [8 ], 62% cha mẹ có con béo phì không muốn giảm
cân cho con. Như vậy, tương tự như ngoài cộng đồng 1/3 bậc phụ huynh không muốn
điều trò béo phì cho con. Tương tự giữa nước ta và các nước đang phát triển – nền kinh
tế mới trải qua một thời kỳ khó khăn, mối lo sợ suy dinh dưỡng còn đang ám ảnh mọi
người thì ý thức về béo phì còn rất hạn chế nên đây cũng là một trở ngại cho công tác
phòng chống béo phì [ 2]. Đây cũng là một yếu tố nguy cơ cho béo phì trẻ em vì nếu
điều trò muộn thì khó thành công và hậu quả sức khỏe của trẻ vẫn bò ảnh hưởng và có lẽ
đây cũng là lý do khiến tỉ lệ béo phì nặng cao ở những trung tâm điều trò [3].
khối lượng mỡ cơ thể làm giảm thể tích phổi, hẹp đường thở làm giảm chức năng hệ hô
hấp và gây cản trở hoạt động của bệnh nhân góp phần làm béo phì nặng thêm. Thường
bệnh nhân đi khám khi có những dấu hiệu này và thường khám các chuyên khoa khác
sau đó mới được gởi tới khám béo phì .
Các biến chứng khác ( đau đầu, đau lưng, đau khớp gối ) thì tỉ lệ ít hơn có lẽ do
bệnh nhân mới bò béo phì chưa có biến chứng hoặc bệnh nhân đang được điều trò tại
chuyên khoa khác.
3.1.3. Mức độ và loại béo phì
61,8% bệnh nhân là béo phì nặng so với 35,2% của Phạm Thò Thục [ 3 ] và
64,4% của Lê Quang Hùng [3]. Như vậy so với Hà Nội thì bệnh nhân của chúng tôi đi
khám và điều trò béo phì muộn hơn. 97,2% bệnh nhân tới khám là béo phì ngoại vi,
tương tự vơiù lô nghiên cứu của Lê Quang Hùng [3] trẻ em chủ yếu là béo phì toàn thân
chứ không béo phì kiểu trung tâm như người lớn. Tuy nhiên, theo Mo – Suwan L[6] thì
vòng eo của trẻ béo phì cao hơn trẻ bình thường một cách có ý nghóa.
Đây là một lợi điểm cho sức khỏe của trẻ, có lẽ do trẻ hoạt động nhiều hơn người
lớn hoặc chưa có sự thống nhất chỉ số vòng eo/ vòng hông để đánh giá béo phì trung tâm
ở trẻ em, điều này cần được nghiên cứu thêm.
3.2. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với các đặc điểm cuả bệnh nhân
3.2.1. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với những yếu tố dòch tễ
Bảng 3.2.1. Mối liên quan giữa mức độ béo phì và những yếu tố dòch tễ
Mứùc độ béo phì Nặng Nhẹ
OR KTC
95%
p
n
%
n
%
5
Tuổi
34,7
45,8
1,58 1,1-2,6 0,05
Dân tộc
Kinh
Hoa
171
13
59,6
81,3
116
3
40,4
18,8
0,34
0,06-
1,28 0,08
Đòa phương
Tp Hồ chí minh
Tỉnh
136
52
59,9
64,2
91
29
40,1
35,8
0,83
39,5
38,2
33,3
0,86
Cân nặng lúc sanh
< 2500 gr
2500 – 3500gr
> 3500 gr
10
128
48
52,6
60,7
64,0
9
83
27
47,4
39,8
36,0
0,65
Nhận xét :
- Không có sự khác biệt về béo phì nặng và béo phì nhẹ ( p > 0,05) giữa các yếu
tố Tuổi , Dân tộc, Đòa phương, Số con trong gia đình, Thứ tự con và Cân nặng lúc
sanh
- Trẻ nam béo phì nặng nhiều hơn trẻ nữ một cach đáng kể ( 65,3% so với 54,2%)
với ( p = 0,05). Nguy cơ béo phì nặng của trẻ nam cao gấp 1,58 lần so với trẻ nữ
với khoảng tin cậy 95% (1,1 – 2,6)
3.2.2. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với những yếu tố gia đình
Bảng 3.2.2. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với yếu tố gia đình
6
Học vấn cha
Cấp I
Cấp II
Cấp III
> Cấp III
8
65
74
39
72,7
63,7
61,7
56,5
3
37
46
30
27,3
36,3
38,3
39,7
0,67
Học vấn mẹ
Cấp I
Cấp II
Cấp III
> Cấp III
21
84
37,9
37,8
0,91
Nghề mẹ
CNV
Doanh nghiệp tư
nhân
Khác
18
26
144
66,7
57,8
61,3
9
19
91
33,8
42,2
38,7
0,75
Lý do khám
Tự đến
Bác só gởi
132
54
63,5
55,7
76
43
3.2.3. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với tiền căn nuôi dưỡng
Bảng 3.2.3.1. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với tiền căn nuôi dưỡng.
Mức độ béo phì Nặng Nhẹ OR
KTC95% p
7
n % n %
Bú mẹ
Có
Không
66
120
60,6
61,5
43
75
35,9
38,5
0,96 0,58 –
1,60
0,86
Thời gian bú mẹ
< 12 tháng
>12 tháng
84
77
62,2
55,8
51
61
37,8
Không
97
91
67,4
55,5
47
73
32,6
44,5
1,65 1,01 –
2,71
0,03
Nhận xét:
- Không thấy sự khác biệt giữa béo phì nặng và béo phì nhẹ trong những yếu tố
bú mẹ, Thời gian bú mẹ, Thời gian bú bình và Tiền căn suy dinh dưỡng( p >
0,05)
- Trẻ học bán trú béo phì nặng nhiều hơn trẻ không học bán trú ( 67,4% so với
55,5%) một cách có ý nghóa với p = 0,03. Nguy cơ béo phì nặng của trẻ học bán
trú cao gấp 1,65 lần trẻ không học bán trú với KTC 95% (1,01 – 2,71) . So với
các nghiên cứu khác [11,21] trẻ học bán trú béo phì nhiều hơn trẻ không học bán
trú (10,2% so với 4,3% ở trẻ 5 – 7 tuổi ; 16,5% so với 7,95 ở trẻ 6 – 11 tuổi ).
Theo Lê Thò Hải, 46,2% trẻ béo phì học bán trú trong khi chỉ có 24,8% trẻ bình
thường học bán trú[ 3 ]. Như vậy, học bán trú trẻ bò béo phì và béo phì nặng
nhiều hơn trẻ không học bán trú. Điều này đã được tác giả Trần Thò Hồng Loan
[2] giải thích vì chế độ ăn và mức chi cho ăn uống của trẻ bán trú cao hơn trẻ
không học bán trú. Hơn nữa một giả thiết được nêu ra là chương trình học của trẻ
chiếm hết thời gian hoạt động ngoài trời của trẻ do đó trẻ càng có nguy cơ béo
phì hơn. Chính vì vậy mà Tổ chức y tế thế giới [8] khuyến cáo chương trình kiểm
soát cân nặng trẻ vào nhà trường thì mới có hiệu quả.
3.2.4. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với triệu chứng lâm sàng
2,08
0,52
Ngủ ngáy
Có
Không
95
91
51,1
48,9
37
80
31,6
68,4
2,25 1,35 –
3,78
0,0009
Đau gối
Có
Không
28
158
15,1
84,9
25
92
21,4
78,6
0,65 0,34 –
1,24
0,15
3.4.5. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với những triệu chứng cận lâm sàng
Bảng 3.2.5.1 . Mối liên quan giữa mức độ béo phì với triệu chứng cận lâm sàng
Mức độ béo phì Nặng Nhẹ OR KTC
95%
p
n % n %
Gan nhiễm mỡ
Có
Không
66
75
46,8
53,2
20
59
25,3
74,7
2,58 1,42 –
4,81
0,001
Triglyceride
Bình thường
Cao
20
97
17,1
82,9
24
44
87,1
12,9
1,12 0,40 –
2,96
0,80
LDL
Bình thường
Cao
105
13
89,0
11,0
56
14
80,0
20,0
2,09 0,81-
5,01
0,09
- Lipid máu, béo phì nặng có tỉ lệ tăng triglycerides cao hơn béo phì nhẹ ( 82,9%
so với 64,7%, p = 0,005 ) và nồng độ triglycerides, VLDL cũng cao hơn béo phì nhẹ
(170,034 155,39mg/dl so với 132,765 120,31 mg/dl, p = 0,0002 và 33,791 30,6 so
với 17,424 25,06 mg/dl, p = 0,002) (bảng 3.4.5.2). Như vậy, béo phì càng nặng thì khả
năng rối loạn chuyển hóa lipid càng cao và mức độ rối loạn càng nặng và đây là một
trong những yếu tố nguy cơ cuả bệnh tim mạch, cao huyết áp… Chưa thấy sự khác biệt
về cholesterol, LDL và HDL của độ béo phì, nhưng có lẽ vì mẫu còn nhỏ nếu mẫu lớn
hơn sẽ có khả năng có khác biệt , nhưng nếu độ tin cậy là 90% thì có sự khác biệt của
cholesterol, béo phì nặng cholesterol cao hơn béo phì nhẹ.
- Đường máu, không có sự khác biệt giữa béo phì nặng và béo phì nhẹ. Cả 2 nhóm
mức độ đường máu đều ở trong giới hạn bình thường.
Bảng 3.2.5.3. Mối liên quan giữa tỉ lệ mỡ ( đònh lượng) và độ béo phì
Nhận xét :
- *Nhóm tuổi 10 và11 Béo phì nặng có tỉ lệ mỡ cao hơn béo phì nhẹ ( 31,525% và
33,978% so với 29,844% và 28,467% ) một cách đáng kể ( p = 0,04 và p =
0,001 )
Ở các nhóm tuổi khác thì tỉ lệ mỡ giữa béo phì nặng và béo phì nhẹ không có sự
khác biệt ( p > 0,05)
- **Béo phì nặng có tỉ lệ mỡ cao hơn béo phì nhẹ ( 31,405 % so với 30,25% ) một
cách có ý nghóa ( p = 0,004 ),
Bảng 3.2.5.3. Mối liên quan giữa mức độ béo phì với với tỷ lệ mỡ ( đònh tình)
Mức độ béo phì Nặng Nhẹ p
n % n %
Tỷ lệ mỡ
Thấp
Trung bình
Cao
0
3
52
0,0
5,5
94,5
2
7
27
5,6
19,4
75,0
0,01
Nhận xét :
29,844 3,51
28,467 9,38
32,256 2,33
31,306,758
32,667 3,84
0,04*
0,001
0,47
0,94
0,25
Chung > 10 tuổi 31,405 10,89 30,25 7,64 0,004
*
11
nhỏ chiếm tỉ lệ thấùp nhất (4,9%), cao nhất là lứa tuổi tiểu học ( 67,9%), còn lại là lứa
tuổi lớn ( 27,2% ).
3.3.2. Kết quả điều trò
- Thời gian điều trò trung bình là 11 tháng ( ngắn nhất : 3 tháng, dài nhất: 59
tháng)
- Số lần tái khám trung bình: 5 lần (ít nhất: 2 lần; nhiều nhất:18 lần)
Bảng 3.3.2. Những biến đổi lâm sàng và cận lâm sàng Trước và Sau điều trò
Dấu hiệu Trước điều trò
( x2SD )
Sau điều trò
( x 2SD )
Hiệu số
trung bình
sau – trước
p
Cânnặng/chiềucao(%
)
Sau điều trò
( x 2SD )
Hiệu số
trung bình
sau – trước
p
Triglycerides(mg/dl
)
163,58 141,69 131,094,94 5,429 0,13
Cholesterol ( mg/dl) 162,28 61,44 148,48 63,34 -13,364 0,07
LDL ( mg/dl) 91,05 54,52 81,39 60,024 -12,381 0,04
VLDL ( mg/dl) 34,683 36,38 26,857 18,03 - 14,5 0,12
HDL ( mg/dl) 39,72 19,08 41,61 10,93 + 5,045 0,01
Đường máu ( mg/dl) 90,01 28,81 84,0437,656 - 8,682 0,08
Nhận xét : Kết quả điều trò có hiệu quả biểu hiện sự thay đổi có ý nghóasau điều trò :
12
LDL giảm ( p = 0, 04) và
Tăng HDL ( p = 0,01 )
- Không có sự khác biệt trước và sau điều trò của Triglycerides, cholesterol,
VLDL, đường máu và huyết áp ( p > 0,05 ). Tuy nhiên nếu độ tin cậy là 90% (
= 0,1 ) thì có sự thay đổi của Cholesterol và đường máu.
-Tỉ lệ mỡ bệnh nhân cũng giảm một cách đáng kể sau điều trò từ 32,46 5,31%
xuống 30,68 6,41% với hiệu số sau trước là – 2,376 và P = 0,006.
- Có sự thay đổi một cách có ý nghóa các chỉ số LDL và HDL, LDL giảm từ 91,05
54,52 mg/dl trước điều trò xuống 81,39 60,02 mg/dl sau điều trò ( hiệu số sau trước là –
12,381 và p = 0,04). Kết quả này tương tự Suskind. R [7].
- HDL tăng từ 39,72 19,08 mg/dl lên 41,61 10,93 mg/dl ( hiệu số sau – trước = +
5,054 với p = 0,001). Điều náy không giống tác giả Sothern. M [ 7 ], theo nghiên cứu
cuả tác giả thì không có sự thay đổi của HDL, nhưng lại có sự thay đổi đáng kể của
triglycerides, cholesterol, LDL. Sự khác biệt này có thể do khác nhau về chọn mẫu, cỡ
chuyển hóa - Về những biến chứng lâm sàng: 2/3 bệnh nhân đã có những biến
chứng do sự tích tụ mỡ quá nhiều tăng trọng tải lên xương và có biểu hiện hẹp
đường thở, tăng áp lực nội so.
- Béo phì nặng có liên quan tới những yếu tố như giới, tình trạng dinh dưỡng của
mẹ, học bán trú . Như vậy trong chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ cần chú ý tới
những nhóm nguy cơ béo phì và béo phì nặng cao là trẻ nam, có mẹ thừa cân,
học bán trú.
- Các biến chứng lâm sàng và cận lâm sàng có liên quan tới độ béo phì là ngủ
ngáy, gan nhiễm mỡ ; triglycerides, nồng độ trung bình của triglycerides và VLDL, tỉ lệ
mỡ. Như vậy béo phì nặng có nhiều biến chứng hơn béo phì nhẹ, những biến chứng
này biểu hiện ở cả mức độ lâm sàng và cận lâm sàng và là yếu tố nguy cơ cho sức khỏe
của trẻ hiện tại và sau này khi trưởng thành. Vì vậy cần thiết điều trò béo phì khi mới bò
bệnh không nên để khi bò béo phì nặng mới chữa hậu quả khó khắc phục.
- Bước đầu nhận xét trên 81 bệnh nhân béo phì điều trò tại Khoa Dinh dưỡng Bệnh
viện Nhi đồng I, nhận thấy phương pháp tham vấn chế độ ăn và luyện tập thích hợp từng
cá nhân bước đầu đạt kết quả tốt. Và không có biến chứng do điều trò.Tuy nhiên cần
theo dõi thêm để xác đònh hiệu quả lâu dài và tỉ lệ tái phát của điều trò.
ĐỀ NGHỊ
1. Chú ý tới tình trạng dinh dưỡng của những đối tượng nguy cơ cao về béo phì
và béo phì nặng là trẻ nam, trẻ có mẹ thừa cân, học bán trú.
2. Thông tin những biến chứng và hậu quả của béo phì trẻ em càng nhiều cho
cộng đồng càng tốt để tác động vào ý thức phòng và điều trò béo phì cho trẻ.
3. Phát hiện và điều trò béo phì từ khi mới bò béo phì nhẹ.
4. Nghiên cứu thêm về thay đổi chức năng gan của bệnh nhân béo phì.
5. Nghiên cứu thêm về hiệu quả lâu dài của phương pháp tham vấn cá nhân về
dinh dưỡng và luyện tập cho trẻ béo phì.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Hà Huy Khôi. Mấy vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp . NXB Y Học,
1996,146, 156 – 226.