đánh giá hiệu quả xử trí, chăm sóc thoát mạch trên bệnh nhân ung thư truyền hóa chất tại khoa nội 3 bệnh viện k tt - Pdf 24


1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh ung thư, trong đó cơ bản vẫn là
ba phương pháp chính: phẫu thuật, xạ trị và hóa trị liệu.
Hóa trị liệu bao gồm: Truyền hóa chất tĩnh mạch, động mạch, nội màng
bụng, nội tủy, bơm vào khoang màng phổi nhưng truyền hóa chất tĩnh mạch ngoại
vi là phổ biến và được áp dụng rộng rãi nhất [5][6][9].
Trong chuyên ngành điều dưỡng nội khoa ung thư, kỹ thuật truyền hóa chất
tĩnh mạch ngoại vi được sử dụng nhiều nhất và là kỹ thuật cơ bản trong chăm sóc
bệnh nhân ung thư được điều trị bằng hóa trị liệu.
Ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu phải sử dụng tĩnh mạch ngoại vi để truyền hóa
chất cho bệnh nhân ung thư có chỉ định điều trị bằng thuốc hóa chất. Trong khi
truyền hóa chất do nhiều yếu tố: chủ quan, khách quan, do đặc điểm tính chất của
tĩnh mạch, vị trí cắm kim truyền, tư thế khi truyền, vận động, cử động của người
bệnh dẫn đến bị thoát mạch [7].
Thoát mạch trong khi truyền hóa chất là tai biến thường xảy ra khi sử dụng
tĩnh mạch ngoại vi để truyền. Nồng độ các thuốc hóa chất tại nơi thoát mạch cao,
một số thuốc hóa chất lại có tác dụng kích thích, trong khi một số thuốc khác lại
gây hoại tử. Vì vậy việc nhận biết, phát hiện sớm và xử trí kịp thời thoát mạch là
cần thiết nhằm hạn chế tối đa những tổn thương, biến chứng cho người bệnh [8].
Theo sách “Hóa chất điều trị Ung thư” của GS.TS Nguyễn Bá Đức – Giám
đốc Bệnh viện K trong mục “ Xử trí các tác dụng phụ cấp do điều trị hóa chất Ung
thư” thì thoát mạch được đưa lên số một và thoát mạch được định nghĩa “là sự rò
hoặc xâm nhập của thuốc vào tổ chức dưới da, các thuốc gây phỏng da khi thoát
mạch có thể gây lên hoại tử mô hoặc lột da, các thuốc kích thích gây viêm hoặc đau
tại vị trí thoát mạch” [7].
Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này nên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiệu quả xử trí, chăm sóc


1.2. Nguyên tắc điều trị bệnh ung thư [5][6][9]:
Do đặc tính của tổ chức và tế bào ung thư là phát triển mạnh tại chỗ và xâm
lấn ra các vùng xung quanh, di căn xa vào hệ thống bạch huyết và các cơ quan.
Vì thế để điều trị có hiệu quả, thường phải phối hợp nhiều biện pháp điều trị:
- Phẫu thuật.
- Tia xạ.
- Hóa chất, nội tiết, miễn dịch.
Tất nhiên mỗi phương pháp đều có chỉ định điều trị riêng với mục đích riêng.
Trên thực tế, phần lớn bệnh nhân đến viện khi đã ở giai đoạn muộn. Sự đáp ứng của
mỗi loại ung thư với từng phương pháp điều trị (kể cả trong một loại bệnh ung thư)

4

cũng rất khác nhau. Vì vậy, sự phối hợp nhiều phương pháp điều trị với nhau càng
trở lên cần thiết.
1.3. Hóa chất trong điều trị bệnh ung thư [6]
Hiện nay, ngay tại các nước phát triển cũng có nhiều bệnh nhân ung thư khi
đến khám bệnh đã ở giai đoạn muộn. Khi các phương pháp điều trị tại chỗ trở lên ít
hoặc không hiệu quả. Ngay cả những bệnh nhân ở giai đoạn sớm, khi được điều trị
triệt căn bằng các phương pháp tại chỗ, các ổ vi di căn tiềm ẩn vẫn tồn tại, sau sẽ
phát triển thành các tổn thương di căn đại thể. Để giải quyết những tình trạng này,
điều trị hệ thống (systemic therapy) hay điều trị toàn thân bằng các thuốc hóa chất
(HC) là phương pháp hữu hiệu. Thuốc hóa chất ngày càng phát triển không ngừng
nhờ sự tiến bộ của khoa học trong việc tìm kiếm và phát minh những thuốc mới với
những cơ chế mới.
1.3.1. Phương pháp điều trị hóa chất trong bệnh ung thư
Điều trị hóa chất (Chemotherapy) là phương pháp sử dụng các thuốc gây
độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh ung thư.
Điều trị hóa chất bắt đầu có từ những năm 1860 khi Asenitkali được sử dụng

điều dưỡng có tinh thần trách nhiệm cao, cẩn thận, chuẩn xác trong thực hiện y lệnh
và kỹ thuật chuyên môn.
- Bệnh nhân điều trị hóa chất cũng thường được điều trị kết hợp với các
phương pháp điều trị khác như: phẫu thuật, tia xạ, giảm đau trước, trong hoặc sau
khi điều trị hóa chất.

Hình 1.2. Một số loại hóa chất
1.3.2. Các tác dụng phụ phổ biến của thuốc hóa chất điều trị bệnh ung thư [7][8]:
- Các phản ứng cấp tính
+ Thoát mạch.
+ Tăng nhạy cảm và sốc phản vệ.
+ Nôn và buồn nôn.

6

- Các tác dụng phụ khác
+ Loét niêm mạc miệng.
+ Rụng tóc.
+ Tiêu chảy.
+ Táo bón.
+ Thay đổi tình trạng dinh dưỡng.
+ Suy tủy do hóa trị liệu.
1.4. Các thuốc khi thoát mạch gây tổn thương tại chỗ
Các thuốc gây phỏng da khi thoát mạch có thể gây lên hoại tử mô hoặc lột
da. Các thuốc kích thích gây viêm hoặc đau ở vị trí thoát mạch.
Các thuốc hóa chất gây tổn thương phỏng da, hoại tử mô tại vị trí thoát mạch
thường gặp như: Dactinomycin, Daunorubicin, Doxorubicin, Mitomycin,
Vinblastin, Navelbine.
Các thuốc hóa chất gây kích thích gây viêm hoặc đau tại vị trí thoát mạch
thường gặp trong khi truyền hóa chất gồm: Dacarbazine, Etoposide, Mitoxantrone,

lần 1).
- Đi găng tay, chuẩn bị bơm tiêm và kim lấy thuốc.
- Kiểm tra thuốc dịch (tên, chất lượng, hàm lượng, hạn dùng) lần 2.
- Sát khuẩn đầu ống, lọ, chai thuốc hóa chất, chai dịch, bẻ đầu ống thuốc
bằng gạc vô khuẩn.
- Thuốc nước: Tùy theo từng loại thuốc chọn bơm tiêm cho phù hợp, hút
thuốc vào bơm tiêm an toàn (kiểm tra chất lượng, hàm lượng thuốc, dịch pha lần 3).
- Thuốc bột: Tùy theo từng loại thuốc mà dùng dung dịch pha, khi lấy dịch
pha phải chú ý đến số lượng dịch bơm vào lọ thuốc để tính liều chính xác.
- Kiểm tra, đối chiếu dịch, thuốc, y lệnh truyền (tên bệnh nhân, dịch, thuốc,
số lượng dịch, hàm lượng thuốc) trước khi hút thuốc vào bơm tiêm (kiểm tra lần 4).
- Bơm thuốc vào chai dịch, đánh dấu vào chai và y lệnh thuốc đã pha.

8

- Để chai dịch đã pha thuốc và y lệnh truyền vào một giỏ đựng riêng có tên
người bệnh.
- Bàn giao cho điều dưỡng truyền, điều dưỡng truyền kiểm tra lại lần 5
trước khi truyền.
- Thu dọn bơm-kim tiêm, vỏ lọ thuốc hóa chất vào hộp đựng chất thải độc
hại, sắc nhọn.
- Tháo găng cho vào hộp đựng chất thải độc hại.
- Thu dọn dụng cụ, vệ sinh tủ pha thuốc, bỏ áo choàng, khẩu trang, mũ, rửa
tay bằng xà phòng.
- Chú ý: Thuốc phải được pha trong tủ pha thuốc có kính chắn và hệ thống
quạt hút không khí, hút mùi để bảo vệ người pha thuốc. Tủ phải tuân theo các
nguyên tắc vô trùng, khô, thoáng đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp 20-25ºC.
Trước khi pha điều dưỡng phải nắm chắc y lệnh của bác sĩ về tên thuốc, liều thuốc,
loại dịch pha (thường là huyết thanh Glucose 5% hoặc NaCl 0.9%), số lượng dịch,
hạn sử dụng, chất lượng thuốc (xem có vón cục, vẩn đục hay có đổi màu sau khi

quá ưu phiền.
+ Cho bệnh nhân đi đại tiện, tiểu tiện trước khi truyền hóa chất.
+ Đo dấu hiệu sinh tồn (mạch, nhiệt độ, nhịp thở, huyết áp).
+ Tư thế: Cho bệnh nhân được truyền ở tư thế thích hợp nhất.
- Dụng cụ
+ Khay vô khuẩn.
+ Kìm Kocher.
+ Bơm, kim tiêm 5ml, 10ml, 20ml.

10

+ Gạc miếng vô khuẩn.
+ Bộ dây truyền.
+ Bát kền (đuổi không khí).
+ Hộp đựng bông cồn vô khuẩn.
+ Cồn 70º – Cồn Iốt 1%.
+ Các loại thuốc khác (nếu có).
+ Y lệnh thuốc của bác sĩ điều trị.
+ Thuốc hóa chất đã pha theo y lệnh.
Hình 1.5. Dung dịch chuẩn bị pha hóa chất

Hình 1.6. Thuốc hóa chất đã pha
Thang Long University Library

11

- Các dụng cụ khác
12

- Theo dõi bệnh nhân trong truyền thuốc hóa chất
+ Theo dõi sát sắc thái, diễn biến của người bệnh.
+ Theo dõi lưu thông của thuốc, tốc độ truyền.
+ Theo dõi các phản ứng, tác dụng phụ, thoát mạch ( như sốc, phản ứng di
ứng thuốc, nôn, buồn nôn, đau bụng, phồng, sưng, đau tại vị trí cắm kim đang
truyền), thông báo ngay cho bác sĩ điều trị để cùng phối hợp xử trí kịp thời.
- Thu dọn dụng cụ, tháo găng, rửa tay.
- Phải dùng dung dịch Glucose 5% hoặc NaCl 0,9% truyền 10-15 phút trước
khi rút kim
- Rút kim – đặt bông – dán băng dính (nếu cần).
- Giúp người bệnh về tư thế thoải mái, hướng dẫn người bệnh những điều
cần thiết, ghi phiếu theo dõi chăm sóc.

Hình 1.7. Bệnh nhân đang truyền hóa chất
1.6.4. Đánh giá ghi hồ sơ và báo cáo
- Đánh giá tình trạng người bệnh trong và sau khi truyền hóa chất.
- Ghi hồ sơ tình trạng người bệnh, các thông số cần theo dõi 15 phút/1lần
trong giờ đầu, sau 30 phút/1lần đến khi hết truyền hóa chất. Thang Long University Library

13

1.6.5. Hướng dẫn người bệnh và gia đình
- Hướng dẫn người bệnh và gia đình không được tự ý thay đổi tốc độ truyền thuốc.

ngoại vi.
- Tuổi: 18 – 80 tuổi.
- Có xảy ra tai biến thoát mạch trong khi truyền và được xử trí tại khoa.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân sử dụng buồng tiêm truyền hay catheter tĩnh mạch.
- Bệnh nhân tự ý xử trí thoát mạch: chườm đá, chườm ấm.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả các biến, cắt ngang và tiến cứu có can thiệp.
2.3. Công cụ nghiên cứu
- Bệnh án nghiên cứu mẫu.
- Khám, quan sát tại chỗ, toàn thân.
- Đo đường kính tại chỗ thoát mạch bằng thước (cm).
- Phỏng vấn (câu hỏi).
2.4. Phương pháp tiến hành:
Khi có tai biến thoát mạch xảy ra:
+ Khóa dây truyền hóa chất.
2.4.1. Quy trình xử trí thoát mạch
Chuẩn bị dụng cụ:
- Bơm tiêm 10ml: 02 chiếc.
- Huyết thanh mặn 0.9% 500ml.
- Thuốc tiêm: Dexamethason 4mg: 04-06 ống.
- Thuốc bôi ngoài da, tiêm dưới da theo chỉ định của bác sĩ như
Dimethylsulfoxid (DMSO) hoặc Hyaluronidaxe
- Bút đánh dấu vùng thoát mạch: Loại bút không xóa.
Thang Long University Library

15

- Hồ sơ bệnh án, phiếu truyền dịch, phiếu chăm sóc.
Tiến hành:
- Ngừng truyền hóa chất, khóa dây truyền.

- Hỏi và khai thác người bệnh bị thoát mạch:
+ Sau truyền bao lâu thì xảy ra thoát mạch.
+ Lý do gây lên thoát mạch là gì: Khi bệnh nhân cử động vùng cắm kim
truyền, bệnh nhân đang nằm truyền hay đang ngồi truyền hóa chất.
+ Phát hiện ra thoát mạch khi nào.
+ Ai phát hiện ra thoát mạch: Bệnh nhân, người nhà hay điều dưỡng viên.
+ Các biểu hiện khi phát hiện ra thoát mạch: Thấy dây truyền không chảy, tại
vị trí kim truyền thấy đau nhức, bỏng rát, khó chịu hoặc phồng lên.
+ Khi bệnh nhân phát hiện ra thoát mạch có báo ngay điều dưỡng không hay
sau bao lâu mới báo cho điều dưỡng, bác sĩ điều trị.
+ Khi phát hiện thoát mạch có được xử trí kịp thời không.
+ Bệnh nhân có hài lòng về phương pháp, cách xử trí và thái độ của điều
dưỡng viên khi chăm sóc và xử trí thoát mạch.
+ Lo lắng của bệnh nhân và người nhà khi có thoát mạch xảy ra và ở mức
nào: rất sợ, sợ, bình thường.
- Quan sát (ghi nhận):
+ Vị trí thoát mạch tại vùng nào: mu bàn tay, cẳng tay, khuỷu tay, cánh tay,
mu bàn chân.
+ Nhìn: tại chỗ thoát mạch, màu sắc da có nổi mẩn ngứa tại chỗ không.
+ Đo kích thước: Dùng thước có cm đo đường kính vị trí thoát mạch ngay
khi phát hiện thoát mạch.
+ Dùng bút bi hoặc bút không xóa khoanh vùng theo chu vi vị trí thoát mạch
- Sau 24 giờ:
+ Đo đường kính vị trí thoát mạch.
+ Khám, quan sát ghi nhận tại tổn thương.
+ Ghi nhận vào phiếu đánh giá chăm sóc
Thang Long University Library

17


3.1. Đặc điểm bệnh nhân.
3.1.1. Giới.
Bảng 3.1: Tỷ lệ giới
Giới Số BN Tỷ lệ %
Nam 10 28,6
Nữ 25 71,4
Tổng 35 100,0

71.4%
28.6%
Nam
Nữ

Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới
Nhận xét: Đa số bệnh nhân bị thoát mạch là nữ chiếm 71,4%.
3.1.2. Tuổi:
Bảng 3.2. Phân bố tuổi
Tuổi Số BN Tỷ lệ %
< 40 2 5,7
40 – 49 5 14,3
50 – 59 8 22,9
60 – 69 13 37,1
≥ 70 7 20,0
Tổng 35 100,0

Thang Long University Library

19

5,7

Paclitaxel 4 11,4
Oxaliplatin 3 8,6
Etoposide 3 8,6
5FU 2 5,7
Tổng 35 100,0
Nhận xét: Bệnh nhân bị thoát mạch thuốc Doxorubicin và Navelbin chiếm 20%.
Thuốc Taxotere chiếm 14,3%.

20

Thuốc Paclitaxe và Cisplatin chiếm 11,4%.
Tỷ lệ thấp nhất là 5FU chiếm 5,7%.
3.3. Đặc điểm của các đợt truyền có thoát mạch
Bảng 3.4. Tỷ lệ BN thoát mạch các đợt truyền hóa chất
Đợt truyền Số BN Tỷ lệ %
1
7 20,0
2
3 8,6
3
3 8,6
4
2 5,7
5
9 25,7
6
11 31,4
Tổng 35 100,0

20

BN vận động 22 62,9
BN ngồi truyền 8 22,8
BN nằm truyền 5 14,3
Tổng 35 100,0

62.9
22.8
14.3
Vận động
Nằm truyền
Ngồi truyền

Biểu đồ 3.4: Biểu đồ lý do thoát mạch
Nhận xét: -Bệnh nhân bị thoát mạch do vận động chiếm 62,9%.
- Bệnh nhân bị thoát mạch do ngồi truyền chiếm 22,8%.
- Bệnh nhân bị thoát mạch do nằm truyền chiếm 14,3%.
3.5. Các vị trí tĩnh mạch truyền hóa chất bị thoát mạch
Bảng 3.6. Vị trí TM khi bị thoát mạch
Vị trí tĩnh mạch(TM) Số BN Tỷ lệ %
Mu bàn tay 18 51,4
Khuỷu tay 10 28,6
Cẳng tay 5 14,3
Mu bàn chân 2 5,7
Cánh tay 0 0
Tổng 35 100,0 22

51.4

3.6. Thực trạng TM khi truyền hóa chất
Bảng 3.7. Thực trạng TM khi truyền hóa chất
Thực trạng TM Số BN Tỷ lệ %
Rất khó lấy 15 42,9
Khó lấy 9 25,7
Bình thường 11 31,4
Tổng 35 100,0

Nhận xét: - Bệnh nhân rất khó lấy TM truyền chiếm 42,9%.
- Bệnh nhân khó lấy TM truyền chiếm 25,7%.
- TM bình thường chiếm 31,4%.
Thang Long University Library

23

3.7. Đánh giá loại kim truyền gây thoát mạch
Bảng 3.8. Loại kim truyền gây thoát mạch
Loại kim Số lượng Tỷ lệ %
Kim bướm 27 77,1
Kim luồn 8 22,9
Tổng 35 100,0

77.1
22.9
0
10
20
30
40
50

0
5
10
15
20
25
30
35
40
01cm 02cm 03cm 04cm 05cm 06cm >06cm
Đường kính
Tỷ lệ %

Biểu đồ 3.7. Đường kính tổn thương thoát mạch
Nhận xét:
Chủ yếu đường kính tổn thương khi thoát mạch 02cm chiếm 37,1%.
Đường kính tổn thương khi thoát mạch 03cm chiếm 28,6%.
Đường kính tổn thương khi thoát mạch 04cm chiếm 20%.
Có một BN bị thoát mạch với đường kính ≥ 6cm chiếm 2.9%
3.9. Các triệu chứng, di chứng của thoát mạch
Bảng 3.10. Triệu chứng tại chỗ thoát mạch
Triệu chứng Số BN (35) Tỷ lệ %
Sưng 35 100,0
Đau 31 88,6
Đỏ 25 71,4
Nóng 20 57,1
Mẩn ngứa 4 11,4
Thâm tím 2 5,7

Thang Long University Library

- Mẩn ngứa chiếm 11,4%.
- Thâm tím chiếm 5,7%.
Bảng 3.11. Triệu chứng tại chỗ thoát mạch sau xử trí 3-5 ngày
Đỡ Giữ nguyên Nặng hơn
Triệu chứng
BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ % BN Tỷ lệ %
Tỷ lệ
%
Sưng 30 85,7 3 8,6 2 5,7 100
Đau 14 45,2 15 48,4 2 6,4 100
Đỏ 18 72,0 5 20,0 2 8,0 100
Nóng 14 70,0 4 20,0 2 10,0 100
Mẩn ngứa 0 0 4 100 0 0 100
Thâm tím 0 0 2 100 0 0 100

Trích đoạn Đặc điểm các loại thuốc gây thoát mạch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status