hiệu quả can thiệp tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm hiv aids tại cộng đồng ở 5 huyện của nghệ an, 2008 - 2012 (tt) - Pdf 24



28

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
ĐÃ CÔNG BỐ

1. Nguyễn Văn Định, Nguyễn Thanh Long, Phan Trọng Lân và
cộng sự (2014), “Thực trạng tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ
người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng tỉnh Nghệ An năm
2012”, Tạp chí Y học Dự phòng, Tập XXIV, Số 8 (157), Hà
Nội. Tr. 79 - 85
2. Nguyễn Văn Định, Nguyễn Thanh Long, Phan Trọng Lân và
cộng sự (2014), “Hiệu quả hoạt động tư vấn, chăm sóc và
hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng tỉnh Nghệ An
sau 4 năm can thiệp, 2008 - 2012”, Tạp chí Y học Dự
phòng, Tập XXIV, Số 8 (157), Hà Nội. Tr. 86 - 92.

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
* NGUYỄN VĂN ĐỊNH

Phản biện 2: .

Phản biện 3: Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện,
tổ chức tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương 27

1. Tăng cường các hoạt động truyền thông thay đổi
hành vi và tiếp tục triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác
hại, đặc biệt với đối tượng có học vấn thấp, sống độc thân, thất
nghiệp, còn tiêm chích ma túy và vẫn hoạt động mại dâm. Chú
trọng xây dựng mạng lưới đồng đẳng viên.
2. Biện pháp can thiệp tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người
nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng cần được nhân rộng, đặc biệt
áp dụng cho các địa bàn miền núi, vùng có nhiều đồng bào dân
tộc, có địa hình đi lại phức tạp và điều kiện kinh tế của người
dân còn gặp nhiều khó khăn.


(từ 35,7% lên 66,9%).
- Tăng tỷ lệ người nhiễm nhận được dịch vụ chăm sóc điều trị:
được điều trị ARV (từ 26,5% lên 84,1%), được chụp X - Quang
phát hiện Lao (từ 34,7% lên 52,3%).
- Tăng tỷ lệ nhận được các dịch vụ can thiệp giảm hại: nhận
bao cao su (từ 62,8% lên 72,4%), nhận bơm kim tiêm (từ
48,1% lên 57,5%) và được sinh hoạt câu lạc bộ người nhiễm
(từ 16,8% lên 24,0%).
- Giảm hành vi nguy cơ lây truyền HIV ở người nhiễm
HIV/AIDS: giảm tiêm chích ma túy trong tháng qua ( từ 67,1%
xuống 38,7%); giảm tỷ lệ không dùng bao cao su lần quan hệ
tình dục gần nhất và không thường xuyên dùng bao cao su 12
tháng qua với gái mại dâm đối với nam và khách làng chơi đối
với nữ (ở nam từ 18,2% xuống 8,9% và từ 57,1% xuống
42,4%; ở nữ từ 44,8% xuống 35,0% và từ 62,2% xuống
50,0%).
- Giảm tỷ lệ sinh con sau nhiễm HIV (từ 20,0% xuống 15,7%).
KHUYẾN NGHỊ 3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính đến 31/12/2013, số người nhiễm HIV/AIDS được
phát hiện tại Nghệ An đã lên tới 7.294 người, trong đó 4.323
người biểu hiện AIDS và 2.571 người đã chết do AIDS. Hiện
tại, Nghệ An là tỉnh xếp thứ 6 của cả nước về số người nhiễm
HIV/AIDS còn sống với khoảng 5.545 người.

Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp mới của luận án;
1. Luận án có giá trị thực tiến cao do lựa chọn đối tượng
nghiên cứu can thiệp là nhóm người nhiễm HIV/AIDS đang
quản lý tại cộng đồng, là nguồn lây nhiễm HIV và là đối tượng
nghèo, yếu thế trong xã hội. Đặc biệt, nghiên cứu được triển
khai lần đầu tiên tại các huyện miền núi và đáp ứng được nhu
cầu thực tế, mong mỏi của người nhiễm HIV/AIDS là người
dân tộc, sinh sống tại vùng cao, vùng xa. Vì lẽ đó, can thiệp đã
đóng góp không những cho chương trình phòng chống
HIV/AIDS, mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện
các chính sách xã hội đối với các vùng, miền và đối tượng khó
khăn mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ ta đề ra.
2. Xác định và xây dựng được biện pháp can thiệp tư vấn,
chăm sóc, hỗ trợ có hiệu quả cho người nhiễm HIV/AIDS tại
cộng đồng và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và
tình hình dịch HIV/AIDS ở 5 huyện trọng điểm của Nghệ An.
3. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp kinh nghiệm thực tiễn
cho việc xây dựng nội dung và mở rộng hoạt động tư vấn,
chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng ở các
địa phương khác của tỉnh, đặc biệt là khu vực miền núi, nơi có 25

- Người nhiễm HIV/AIDS bị gia đình và cộng đồng ruồng bỏ,
xa lánh vẫn còn diễn ra (2,7% và 4,5%); chỉ có 35,7% nhận
được chăm sóc, hỗ trợ của cộng đồng.
- Tỷ lệ được khám và điều trị thấp: ARV (26,5%), điều trị dự
phòng Cotrimoxazole (37,5%) và điều trị nhiễm trùng cơ hội
(40,0%), chụp X- Quang phổi phát hiện Lao (34,7%), khám và

khai sau 4 năm can thiệp. Tỷ lệ người nhiễm HIV còn TCMT
tháng trước điều tra đã giảm rõ rệt (p< 0,01). Tuy vậy, tỷ lệ đối
tượng có TCMT trong tháng trước điều tra vẫn dùng chung
BKT giảm chưa nhiều, không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Đã có những thay đổi nhất định trong hành vi QHTD
không an toàn của nam nhiễm HIV với GMD, tỷ lệ không sử
dụng BCS đã giảm trong cả lần QHTD gần nhất cũng như trong
12 tháng trước cuộc điều tra đánh giá sau can thiệp. Song, sự
thay đổi này còn hạn chế, chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Đối với bạn tình thường xuyên, tỷ lệ không thường xuyên sử
dụng BCS đã không giảm sau can thiệp ở cả trong lần QHTD
gần nhất và trong 12 tháng trước cuộc điều tra. Các kết quả trên
cho thấy, truyền thông thay đổi hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV
và can thiệp giảm hại là nội dung cần quan tâm, chú trọng và
bền bỉ trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS nhằm ngăn
chặn có hiệu quả sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS.
KẾT LUẬN
1. Thực trạng tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm
HIV/AIDS tại cộng đồng và hành vi nguy cơ trước can
thiệp tại 5 huyện năm 2008.
Chất lượng hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV vẫn còn thấp: tỷ
được tư vấn hỗ trợ thường xuyên chưa cao (66,1%); chỉ có
66,1% bạn tình làm xét nghiệm HIV.
Chất lượng chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS vẫn còn
hạn chế: 5

đồng bào dân tộc sinh sống với điều kiện kinh tế gặp nhiều khó

- Đáp ứng dịch vụ chăm sóc phù hợp cho người nhiễm
HIV/AIDS trên nguyên tắc bí mật, quản lý tốt hồ sơ bệnh án, tư
vấn trước khi thông báo.
- Người nhiễm HIV/AIDS có quyền tham gia vào lập kế
hoạch và thực hiện các chương trình chăm sóc và điều trị.
- Cơ sở cho việc chăm sóc và điều trị những người
nhiễm HIV/AIDS là can thiệp sớm, theo dõi chặt chẽ và hỗ trợ
tăng cường sức khỏe.
- Khuyến khích và hỗ trợ các dịch vụ TVCSHT người
nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng, lồng ghép với mạng lưới
chăm sóc sức khỏe ban đầu.
1.3. Nội dung tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm
HIV/AIDS dựa vào cộng đồng
- Tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện: được coi là đầu
vào của mọi hoạt động dự phòng và chăm sóc. TVXNTN có 3
cấp độ: tư vấn trước xét nghiệm, tư vấn sau xét nghiệm và tư
vấn hỗ trợ thường xuyên.
- Chăm sóc/quản lý lâm sàng: bao gồm điều trị dự
phòng, chẩn đoán và điều trị nhiễm trùng cơ hội, quản lý và hỗ
trợ tuân thủ điều trị ARV và giảm đau, chăm sóc giảm nhẹ.
- Hỗ trợ tâm lý và kinh tế - xã hội, bao gồm: hỗ trợ
đồng đẳng; hỗ trợ việc làm; hỗ trợ kinh tế (dinh dưỡng và các
nhu cầu thiết yếu); giảm kỳ thị và phân biệt đối xử; hỗ trợ cuối
đời; bảo vệ các quyền của người nhiễm, miễn học phí cho các
đối tượng trẻ em bị nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
- Dự phòng lây nhiễm HIV: bao gồm khuyến khích tình
dục an toàn, các biện pháp giảm tác hại trong nhóm nguy cơ 23


22

tháng qua với các loại bạn tình của người nhiễm HIV/AIDS có
sự chênh lệch do liên quan đến nhiều yếu tố như ý thức về hành
vi tình dục an toàn của bản thân người nhiễm HIV, do bạn tình
yêu cầu, hoặc mức độ sẵn có BCS…Tuy nhiên, việc có một tỷ
lệ cao nam nhiễm HIV/AIDS không dùng BCS với GMD và
các loại bạn tình cho thấy kết quả của việc giáo dục hành vi,
đặc biệt là hành vi tình dục chưa làm chuyển đổi căn bản nhận
thức, dẫn đến việc thực hành sử dụng BCS chưa triệt để hoặc
còn thấp đối với các loại bạn tình của người nhiễm HIV/AIDS.
4.1.6. Ảnh hưởng một số yếu tố đến hành vi nguy cơ lây
truyền HIV
Với hành vi dùng chung BKT, việc được nhận hỗ trợ từ
đồng đẳng viên được tìm thấy là yếu tố ảnh hưởng đến hành vi
này. Với hành vi luôn sử dụng BCS khi QHTD với các loại bạn
tình trong 12 tháng trước thời điểm phỏng vấn đã cho thấy: các
đặc điểm về tình trạng hôn nhân, được điều trị ARV, được hỗ
trợ BCS và nhận hỗ trợ từ đồng đẳng viên thực sự có ảnh
hưởng đến hành vi luôn sử dụng BCS khi QHTD. Kết quả phân
tích này là cơ sở để kế hoạch phòng chống HIV/AIDS và xây
dựng, triển khai các biện pháp can thiệp có hiệu quả.
4.2. Hiệu quả can thiệp tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người
nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng
4.2.1. Hiệu quả về tư vấn xét nghiệm HIV
Sau 4 năm can thiệp, các nội dung TVXNTN tại địa bàn
nghiên cứu đã đạt được kết quả tốt với nhiều chỉ số đánh giá
tăng rõ rệt, có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Biện pháp can thiệp
TVCSHT trong nghiên cứu này về tổ chức các nội dung

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 8

Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng phương pháp tính cỡ mẫu cho
thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng, so sánh trước và sau
can thiệp. Cỡ mẫu được tính theo công thức:
Tính được n

= 265. Cỡ mẫu này được áp dụng cho điều
tra lần 1 trước can thiệp và điều tra lần 2 sau can thiệp.
Trên thực tế, đã điều tra lần 1 trước can thiệp 335
người. Điều tra lần 2 sau can thiêp là 308 người.
Phương pháp chọn mẫu:
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, có chủ
đích kết hợp chọn ngẫu nhiên. Chọn chủ đích 5 huyện. Cỡ mẫu
265 được chia cho 5 địa bàn nghiên cứu theo tỷ lệ với tổng số
người nhiễm đang còn sống, quản lý được của từng huyện.
- Lập khung mẫu tại mỗi huyện là danh sách người
nhiễm HIV/AIDS đang quản lý tại cộng đồng của từng huyện
và có địa chỉ đến tận xã/phường. Sử dụng phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên hệ thống đối với từng huyện.
Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu được nhập, sử dụng phần mềm EPI - Info bản 6.04.
- Sử dụng phần mềm STATA 10 để phân tích.
- Để đánh giá hiệu quả trước và sau can thiệp trên các chỉ số


21

Người nhiễm Lao vừa nhiễm HIV sẽ chuyển thành bệnh Lao
cao gấp 30-50 lần so với tỷ lệ Lao đơn thuần. Ngược lại, nhiễm
HIV vừa bị mắc Lao: sẽ phát triển tình trạng nhiễm HIV thành
bệnh AIDS nhanh hơn bình thường.
Cũng như tiếp cận dịch vụ chăm sóc điều trị, tiếp cận
các dịch vụ hỗ trợ của người nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam tại
thời điểm nghiên cứu vẫn còn khó khăn. Người nhiễm trong 6
tháng trước điều tra nhận được chủ yếu là tài liệu truyền thông.
Các hỗ trợ cần thiết như BCS, BKT, giới thiệu khám điều trị
các BLTQĐTD, hỗ trợ đồng đẳng và được sinh hoạt câu lạc bộ
còn rất hạn chế.
4.1.5. Hành vi nguy cơ lây truyền HIV của người nhiễm
HIV/AIDS
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, tỷ lệ cao đối tượng nghiên
cứu vẫn tiếp tục TCMT trong tháng trước điều tra với tần suất
người nhiễm HIV/AIDS sử dụng chung BKT cao. Tỷ lệ đối
tượng có TCMT trong tháng qua ở nghiên cứu này cao hơn
nghiên cứu của QTC 2006 tại Nghệ An (60,2%) và miền Nam
(34,0%), nhưng thấp hơn miền Bắc (71,0%). Nghệ An là một
trong những điểm nóng của cả nước về buôn bán, vận chuyển,
tàng trữ và sử dụng ma túy trái phép, số người NCMT có hồ sơ
quản lý toàn tỉnh rất cao (5.000 người vào cuối năm 2008).
Giám sát trọng điểm năm 2007 cho kết quả, tỷ lệ người nhiễm
HIV/AIDS trong nhóm NCMT tại Nghệ An rất cao (28,3%).

không có khả năng mua những thuốc này mà chỉ trông chờ vào
nguồn miễn phí của dự án. Công tác điều trị đồng nhiễm Lao và
HIV/AIDS cũng chưa tốt. Các nghiên cứu cho thấy, nhiễm Lao
và lây nhiễm HIV có mối quan hệ thúc đẩy mật thiết. Trong
một quần thể, đồng nhiễm Lao/HIV có tác động bùng nổ. 9

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm
HIV/AIDS và hành vi nguy cơ trước can thiệp (2008)
3.1.1. Một số đặc điểm người nhiễm HIV/AIDS
Kết quả nghiên cứu cho thấy: người nhiễm HIV/AIDS
tham gia nghiên cứu có tỷ lệ cao nhất là 30-39 (48,6%). Nam
giới (82,4%). Người kinh (99,4%), có 0,6% là người dân tộc
Thái và Thổ. Đa số đối tượng là độc thân (50,3%). Phần lớn
sống cùng bố mẹ (69,2%) và có 14,7% sống với bạn bè hoặc
lang thang. Về nghề nghiệp: tỷ lệ cao nhất là thất nghiệp
(40,5%), tiếp đến là nông dân (30,9%), nghề không ổn định
(18,9%).
3.1.2. Tư vấn xét nghiệm HIV
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: thời gian nhiễm HIV
chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 5 - 9 năm (45,3%); có 6,9% đối tượng
nghiên cứu sống chung với HIV từ 10 năm trở lên. Về tự nhận
lý do nhiễm HIV: tỷ lệ cao nhất là do tiêm chích ma túy
(TCMT) (73,7%), tiếp đến là quan hệ tình dục (QHTD) với
vợ/chồng (14,6%), tình dục với gái mại dâm (GMD) (4,2%).
Bảng 3.5. Tần suất, nội dung tư vấn hỗ trợ sau nhiễm HIV và
xét nghiệm HIV của bạn tình thường xuyên (333)

293
93,7
96,1
95,8
91,6
88,0
Bạn tình làm xét nghiệm HIV 22 66,1
Bảng 3.5 cho thấy: tần suất tư vấn hàng tháng (66,1%),
hàng 6 tháng (23,7%), hàng năm (5,4%). Tỷ lệ có bạn tình
thường xuyên làm xét nghiệm HIV không cao (66,1%).
3.1.3. Chăm sóc hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người nhiễm HIV được
gia đình chấp nhận, chăm sóc sức khỏe và giúp đỡ (89,0%), có
2,7% cho rằng bị người nhà ruồng bỏ, xa lánh và 8,3% gia đình
chưa biết tình trạng nhiễm HIV của đối tượng. Biểu đồ 3.6. Thái độ của cộng đồng đối với người nhiễm
HIV/AIDS (n=335)
Kết quả nghiên cứu tại biểu đồ 3.6 cho thấy: tỷ lệ được
cộng đồng chấp nhận (54,7%), được hỗ trợ và giúp đỡ (35,7%).
Có 4,5% đối tượng cho rằng bị cộng đồng ruồng bỏ, xa lánh.
5,1


4.1.3. Chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, việc thực
hiện chăm sóc và vệ sinh dinh dưỡng của người nhiễm
HIV/AIDS còn nhiều hạn chế: do điều kiện kinh tế và sự hiểu
biết chưa đầy đủ nên đối tượng ăn uống thất thường, hoặc
thường xuyên bỏ bữa do TCMT. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS
bị gia đình ruồng bỏ, xa lánh tại nghiên cứu này tương đương
nghiên cứu của QTC 2006 tại miền Bắc (1,8%) và miền Trung
và miền Nam (3,1%). Tuy vậy, thấp hơn nhiều so với những
đánh giá trong điều tra của Ngân hàng Phát triển châu Á và
Ngân hàng Thế giới năm 2002. Điều này cho thấy, mặc dù đã
có sự đáp ứng mạnh mẽ của các chương trình phòng chống
HIV/AIDS, trong đó có vai trò của truyền thông kiến thức về
lây nhiễm HIV, về luật pháp nhưng vẫn còn hiện tượng ruồng
bỏ, xa lánh của gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS. Bên
cạnh đó, tỷ lệ người nhà chăm sóc cho người nhiễm được tập
huấn thấp (61,2%). Nghiên cứu tại Thái Nguyên nhằm đánh giá
hiệu quả của việc tập huấn cho gia đình người nhiễm cho kết
quả: sau tập huấn, những thành viên trong gia đình không còn
lo lắng và lúng túng khi chăm sóc HIV/AIDS.
Cũng như gia đình, sự quan tâm và hỗ trợ của cộng
đồng với người nhiễm HIV/AIDS còn hạn chế: tỷ lệ đối tượng
bị cộng đồng ruồng bỏ, xa lánh ở nghiên cứu này cao hơn so
với nghiên cứu năm 2006 tại miền Bắc (3,2%) và tương đương
miền Nam (4,6%). Tỷ lệ này cũng cao hơn nghiên cứu năm 18

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ người


3.1.4. Tiếp cận dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ của người nhiễm
HIV/AIDS
Kết quả nghiên cứu này cho thấy: tỷ lệ người nhiễm
được hỗ trợ từ cán bộ y tế cao nhất (91,0%), tiếp đến là đồng
đẳng viên (ĐĐV) (67,3%), nhận được bao cao su (BCS)
(62,8%), nhận được bơm kim tiêm (BKT) (48,1%); tỷ lệ nhận
được tờ rơi trong 6 tháng qua cao (84,1%), tỷ lệ được tham gia
sinh hoạt câu lạc bộ thấp (15,0%).
Bảng 3.8. Tiếp cận chăm sóc, điều trị trong vòng 6 tháng trước
điều tra (n=332)
Tiếp cận dịch vụ chăm sóc, điều trị Số lượng Tỷ lệ %
Nhận thuốc ARV 88 26,5
Thời gian điều trị ARV trung bình 12,4 tháng
Nhận thuốc điều trị NTCH 133 40,0
Được chụp X - Quang phát hiện Lao
- Được chẩn đoán mắc Lao (n=115)
- Nhận thuốc điều trị Lao (n=14)
115
14
12
34,7
12,2
85,7
Khám, điều trị BLTQĐTD 9 2,7
Bảng 3.8 cho thấy: tỷ lệ người nhiễm được điều trị
ARV thấp (26,5%), thời gian điều trị ARV trung bình ngắn
(12,4 tháng); tỷ lệ được điều trị nhiễm trùng cơ hội (NTCH)
thấp (40,0%). Chỉ có 34,7% được chụp XQ phổi phát hiện Lao;
tỷ lệ người nhiễm được khám và điều trị các bệnh lây truyền

21
24,4 22,9
12,2
Hành vi quan hệ tình dục không an toàn: 13,1

18,2

16,7

23,7

57,1

42,6
0

1


Biểu đồ 3.19. Hành vi tiêm chích ma túy không an toàn
- Kết quả biểu đồ 3.19 cho thấy: tỷ lệ đối tượng còn
TCMT trong tháng trước điều tra giảm rõ rệt sau 4 năm can
thiệp từ 67,1% xuống 38,7% (CSHQ: 42,3%) có ý nghĩa thống
kê (p<0,01). Tuy nhiên, tỷ lệ đối tượng dùng chung BKT giảm
không đáng kể (từ 18,0% xuống 15,5%).
- Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy: tỷ lệ người
nhiễm HIV/AIDS có QHTD với GMD 12 tháng trước điều tra
chỉ giảm nhẹ từ 27,9% xuống 26,5% (CSHQ 5,0%). Các tỷ lệ
người nhiễm HIV/AIDS không dùng BCS trong lần QHTD gần
nhất và không thường xuyên dùng BCS 12 tháng trước có giảm
nhiều hơn, tương ứng từ 18,2% xuống 8,9% (CSHQ 51,1%) và
từ 57,1% xuống 42,4% (CSHQ 25,7%). Tuy nhiên, sự thay đổi
của các chỉ số này chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Chương 4: BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm
HIV/AIDS và hành vi nguy cơ trước can thiệp (2008)
4.1.1. Một số đặc điểm của người nhiễm HIV/AIDS
18,0

67,1

cộng đồng
Biểu đồ 3.17 cho thấy: tỷ lệ đối tượng được gia đình
chăm sóc, hỗ trợ tăng từ 82,2% lên 91,4% (CSHQ: 11,2%), có
ý nghĩa thống kê (p<0,01); tỷ lệ nhận được chăm sóc, hỗ trợ
của cộng đồng tăng từ 35,7% lên 66,9% (CSHQ: 87,4%), có ý
nghĩa thống kê (p<0.01).
3.2.3. Hiệu quả về tiếp cận dịch vụ của người nhiễm
HIV/AIDS
- Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả, người nhiễm
HIV/AIDS tại các địa bàn triển khai can thiệp đã tiếp cận với
các dịch vụ dễ dàng hơn: tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS được
điều trị ARV tăng rõ rệt từ 26,5% lên 84,1% (CSHQ: 217,4%),
tỷ lệ nhận được thuốc NTCH tăng từ 40,0% lên 63,0% (CSHQ:
57,5%), tỷ lệ được chụp XQ phát hiện Lao tăng từ 34,7% lên
52,3% (CSHQ: 50,7%), có ý nghĩa thống kê (p< 0,01).
- Có sự thay đổi rõ rệt (p< 0,05) ở các chỉ số đánh giá
khả năng tiếp cận dịch vụ giảm tác hại: tỷ lệ người nhiễm nhận
BCS tăng từ 62,8 lên 72,4 (CSHQ: 15,3%), nhận BKT tăng từ
48,7% lên 57,5% (CSHQ: 19,5%), được hỗ trợ từ đồng đẳng
viên tăng từ 91,0% lên 94,5% (CSHQ: 40,4%). Về tiếp cận
thông tin phòng chống AIDS, tỷ lệ được sinh hoạt câu lạc bộ
của đối tượng tăng đáng kể từ 16,8% lên 24,0% (CSHQ:
42,9%) có ý nghĩ thống kê (p< 0,05).
3.2.4. Thay đổi về hành vi nguy cơ lây truyền HIV của người
nhiễm HIV/AIDS
82,2
35,7
66,9
0


Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy: có 89,9% nam
nhiễm HIV/AIDS QHTD trong vòng 12 tháng trước điều tra;
tỷ lệ QHTD với vợ/người yêu là cao nhất (72,9%), tiếp đến là
với GMD (36,0%), thấp nhất là với bạn tình bất chợt (28,5%).
Ảnh hưởng một số yếu tố đến hành vi nguy cơ lây truyền HIV:
Phân tích về mối liên quan giữa các đặc điểm của đối
tượng nghiên cứu với hành vi dùng chung BKT cho thấy: nhóm
đối tượng nghiên cứu không được nhận hỗ trợ từ đồng đẳng
viên có nguy cơ dùng chung bơm kiêm tiêm gấp 2,46 lần nhóm
có nhận được hỗ trợ từ đồng đẳng viên và sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê (p<0,05).
Bảng 3.16. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến tỷ lệ
luôn sử dụng BCS khi QHTD với các loại bạn tình
Đặc điểm OR
Khoảng tin
cậy (95%)
Tình trạng hôn nhân (Hiện sống một
mình)
7,7 4,02 - 14,56
Hi
ện đang sống với vợ/chồng
Được điều trị ARV (Không) 2,4 1,11 - 5,19 14



Nhận được hỗ trợ BCS (Không)
2,6 1,24 - 5,35

83,3
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Tự nguyện
xét nghiệm
Bạn tình làm
xét nghiệm*
(*) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01
Tỷ lệ %
Trước can thiệp Sau can thiệp

Biểu đồ 3.14. Thay đổi nhu cầu tiếp cận dịch vụ tư vấn xét
nghiệm và bạn tình làm xét nghiệm HIV
Phân tích biểu đồ 3.14: tỷ lệ bạn tình người nhiễm làm
xét nghiệm HIV tăng cao (66,1% lên 83,3%; CSHQ: 26,0%),
có ý nghĩa thống kê (p< 0,01); tỷ lệ đối tượng tự nguyện xét
nghiệm HIV tăng ít (83,2% lên 88,3%; CSHQ: 6,1%).
3.2.2. Hiệu quả chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: tỷ lệ đối
tượng bị gia đình và cộng đồng ruồng bỏ, xa lánh đã giảm sau 4
năm can thiệp, tương ứng từ 2,7% xuống 1,3% (CSHQ: 51,9%)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status