1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não nói chung và nhồi máu não nói riêng đang là vấn đề thời sự và cấp bách bởi tỷ
lệ tử vong, tàn phế còn cao và nguyên nhân rất phức tạp. Ở các nước phát triển, đột quỵ
não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba sau ung thư và tim mạch. Việc cứu sống
tính mạng người bệnh ở giai đoạn cấp tại các tuyến trung ương đã đạt được nhiều thành tựu
khả quan, tuy nhiên điều trị phục hồi chức năng, dự phòng tái phát, nâng cao chất lượng
cuộc sống cho bệnh nhân còn gặp nhiều khó khăn [12], [36].
Y học cổ truyền Phương Đông cũng như Y học cổ truyền Việt Nam thường mô tả bệnh lý
Tai biến mạch máu não hay Đột quỵ não trong phạm trù “Trỳng phong” (Biển Thước, thế
kỷ 3- 2 trước Công Nguyên) nghĩa là người bệnh đột nhiên “hụn mờ – thốt đảo – bán thân
bất toại” [57], [70].
Trong những thập kỷ gần đây góp phần giảm tỷ lệ: tái phát- tử vong- tàn phế
và phòng ngừa biến chứng xuất huyết não trong ổ nhồi máu cũ, điều trị phục
hồi chức năng liệt, nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện chức năng lao
động trí óc và thể lực tăng tuổi thọ cho người bệnh. Việc chẩn trị Y học cổ
truyền (YHCT) có vai trò quan trọng đáng tin cậy.
Thiệt chẩn là một phần của vọng chẩn, một nội dung quan trọng trong “Tứ
chẩn” thuộc hệ thống biện chứng luận trị của y học cổ truyền. Y học cổ truyền
Phương Đông luôn coi lưỡi như một bức tranh phản ánh sức khỏe và bệnh tật
(Lưỡi liên quan đến: khí, huyết, tạng phủ kinh lạc trong cơ thể con người). Vì
vậy khi cơ quan tổ chức tạng phủ hay kinh lạc mắc bệnh từ khởi phát, toàn
phát đến hồi phục hay biến chứng tử vong, mọi diễn biến tốt xấu trong quá
trình bị bệnh đều có liên quan đến trạng thái lưỡi.
Từ 1964 đến nay trong nhiều trung tâm nghiên cứu vi tuần hoàn ở Đức, Pháp,
Mỹ và Trung Quốc các tác giả: W.Gotze, 1964; B.Wzweifach-Alarcan, 1970;
R.J.Xtu, 1980 đề cập đến liên quan vi tuần hoàn đầu lưỡi và bệnh lý viêm
gan vi rút mạn tính, được gọi là phương pháp sinh thiết lạnh (sinh thiết không
chảy máu). Do đó việc phát hiện các biến đổi về lưỡi (rêu lưỡi, chất lưỡi, hình
được. Cơ móng lưỡi, cơ trâm lưỡi và phần trước của cơ cằm lưỡi làm nhiệm
vụ kéo lưỡi lại [28], [29], [47], [61].
Về hình thể: Lưỡi có đầu lưỡi (đỉnh lưỡi); gốc lưỡi (cuống lưỡi); thân
lưỡi (lưng lưỡi). Thân lưỡi chia làm 2 phần: Phần cố định gắn vào xương
móng và nền lưỡi, phần tự do tham gia vào tiêu hóa và phát âm; phần này chia
ra 2 khúc ngăn cách nhau bởi rãnh chữ V đáy là lỗ tịt (Formen caecum). Khúc
lưỡi phía sau rãnh ở vị trí đứng dọc tạo nên thành trước của hầu. Khúc lưỡi
phía trước rãnh nằm ngang trên nền miệng. Bề mặt lưỡi được phân chia thành
mặt trên, mặt bên (viền lưỡi)và mặt dưới. Mặt trên lưỡi có vết dọc giữa lưỡi
gọi là rãnh giữa lưỡi. ở dọc chính giữa mặt dưới có nếp hãm lưỡi. Hai bên nếp
hãm lưỡi có lỗ tiết của các tuyến nước bọt dưới lưỡi và tuyến nước bọt dưới
hàm [28], [29], [47], [61].
3
1.1.2. Niêm mạc lưỡi
Niêm mạc bao phủ bề mặt lưỡi có cấu tạo khác biệt nhau giữa mặt trên,
mặt bên và mặt dưới lưỡi: Niêm mạc mặt dưới lưỡi mỏng nhẵn, trong suốt,
cấu trúc là lớp biểu mô nhiều tế bào dẹt không sừng hóa. Niêm mạc mặt trên
lưỡi và mặt bên lưỡi dính vào khối cơ lưỡi. Niêm mạc tạo thành cỏc nhỳ lồi
lên trên bề mặt lưỡi trong đó có nhiều mao mạch và các hành vị giác. Mỗi nhú
gồm một khối nhỏ mô liên kết đệm ở bên trong và được bao phủ bởi một lớp
biểu mụ lỏt tầng có sừng hóa một phần [28], [47].
Theo hình thể chia ra bốn loại nhú (nhú dạng chỉ, nhú dạng đài, nhú
dạng nấm và nhú dạng lá): Nhú dạng chỉ: phân bố đều trên bề mặt 2/3 trước
lưỡi, về kích thước là loại nhú nhỏ nhất: dài 0,3 mm, lớp biểu mụ lỏt tầng có
sừng hóa một phần rụng bong ra và theo vào nước bọt. Nhú dạng đài: ở dọc
đường ranh giới mặt trước lưỡi và gốc lưỡi. Cỏc nhỳ dạng đài xếp với nhau
thành hình chữ V, đỉnh là lỗ tịt quay vào trong chia lưỡi làm hai phần: trước
chiếm 2/3 và sau chiếm 1/3 lưỡi. Nhú này có chiều cao 1- 1,5 mm và có
đường kính 1- 3 mm. Nhú dạng nấm: ở đầu lưỡi cú đỏy hẹp, đỉnh xoè như tán
hoặc gián tiếp (qua tĩnh mạch giáp lưỡi mặt) đổ vào tĩnh mạch cảnh trong [28].
1.1.4. Thụ cảm thể vị giác và nước bọt
Thụ cảm thể vị giác có hình dáng như củ hành trong đó có tế bào nhận
cảm đặc hiệu (2- 6 tế bào) và những tế bào đế. Các nụ vị giác này phân bố ở
cỏc nhỳ lưỡi thuộc đầu lưỡi, viền lưỡi và cuống lưỡi. phần giữa và dưới của
mặt lưỡi không có thụ cảm thể [30], [29], [47].
Có bốn loại vị giác cơ bản: đắng, ngọt, chua, mặn. Mỗi loại chất có vị
kích thích trên những nụ vị giác nhất định. Lưỡi mỗi người có tới 2 vạn nụ vị
giác, chúng tập trung thành từng vùng, mỗi vùng đặc trách về một vị chủ yếu:
đầu lưỡi nhạy cảm với vị ngọt, hai rìa lưỡi nhạy cảm với vị mặn, hai rìa phía
dưới của thân lưỡi nhạy cảm với vị chua, gốc lưỡi nhạy cảm với vị đắng. Sự
5
hỗn hợp của các vị chua, đắng, ngọt, mặn tạo ra vô vàn sự cảm nhận các vị
khác nhau [30], [47].
Nước bọt được tiết chế ra từ ba đôi tuyến lớn: tuyến cạnh tai, tuyến
dưới lưỡi, tuyến dưới hàm và các tuyến nuớc bọt nhỏ nằm trong thành khoang
miệng. Ở người lớn, số lượng nước bọt tiết ra trong 24 giờ khoảng 1- 1,5 lít.
Trong 1000 gam nước bọt thành phần nước là 993 gam, các chất hữu cơ là 5
gam, các chất vô cơ là 2 gam.
Bình thường nước bọt có phản ứng kiềm nhẹ (pH = 7,4- 8) đo theo pH
met. Nhưng nếu trong miệng cú cỏc quá trình men hóa, niêm mạc lưỡi miệng
có mọc nấm thì niêm mạc lưỡi miệng chuyển sang phản ứng axit hóa. Tỷ
trọng nước bọt khoảng 1,004. Sự tiết nước bọt nhằm đảm bảo cho quá trình
tiêu hóa như nhai, nuốt, thủy phân tinh bột. Nước bọt còn có tính sát khuẩn
nhẹ Hoạt động của các tuyến nước bọt được điều tiết bởi cơ chế thần kinh và
thần kinh thể dịch. Những phản xạ không điều kiện làm tăng tiết nước bọt cả
về số lượng, chất lượng nhưng cũn cỏc phản xạ ức chế bài tiết nước bọt bằng
cơ chế phản xạ có điều kiện. Ví dụ: kích thích dây thần kinh hông to, kích
thích đau đều làm giảm hoặc đình chỉ bài tiết nước bọt [5], [30], [61].
kết hợp của những gai nhú lưỡi đã bị sừng hóa với những mảnh bong của lớp
tế bào biểu mô niêm mạc lưỡi cùng với các tế bào thẩm thấu của nước bọt,
các vi sinh vật sống ở trong miệng và với một số thành phần của thức ăn khi
nhai ở miệng. Bình thường niêm mạc lưỡi sạch không có rêu, sáng bóng mà
ướt hoặc có một lớp rêu trắng rất mỏng, đều.
Rêu lưỡi dày và biến đổi màu sắc là do hiện tượng tăng sinh và sừng
hóa của lớp biểu mô niêm mạc, màu sắc rêu lưỡi cũng có liên quan đến hàm
lượng bilirubin và các yếu tố khác [47], [64].
7
Bong rụng: rêu lưỡi bong rụng thành mảng, có ranh giới rõ ràng, hình
dáng như bản đồ do sự thoái hóa cỏc nhỳ. Lưỡi mất rêu bong rụng, nhẵn trơn
hoặc sáng bóng như mặt gương là do thiểu dưỡng, thiếu máu, albumin của
huyết tương giảm thấp, thiếu hụt các sinh tố, các chất điện giải Na, Ca làm
các tế bào niêm mạc lưỡi chết, rụng hoặc co vỡ với các mức độ khác nhau
trên bề mặt lưỡi [64] [65].
1.1.7. Hình thể lưỡi
Hình thể của lưỡi có liên quan đến tạp khuẩn, một số quá trình bệnh lý
tại lưỡi miệng, các trạng thái dị dạng bẩm sinh về lưỡi hoặc do các bệnh lý
toàn thân và bệnh lý nội tiết.
- Lưỡi mập bệu nhẽo thường do phù nề tổ chức khi albumin trong huyết
tương giảm thấp, do giảm trương lực cỏc nhúm cơ ở lưỡi nên diện tiếp xúc
của bờ rìa lưỡi và đầu lưỡi với mặt trong các răng cú cỏc vết dấu hằn của răng.
Lưỡi to mập bệu chắc nhưng cử động lưỡi khó gặp trong bệnh to mặt và các
chi, lưỡi miệng hầu đầy.
- Nổi gai: là những điểm nốt nhỏ chấm đỏ, phân bố ở đầu rìa lưỡi hoặc
giữa lưỡi do các loại nhú tăng sinh. Bình thường trẻ con có 4 loại gai lưỡi hay
nhú lưỡi đến khi trưởng thành còn 3 loại: dạng nấm, dạng chỉ và dạng đài. Tỳ
theo bệnh lý khác nhau mà 3 loại gai lưỡi tăng sinh phì đại hay teo nhỏ biểu
hiện trạng thái vi tuần hoàn động của tĩnh mạch và mao động mạch: co thắt ứ
"Biệt lạc kinh túc thái âm liên hệ với cuống lưỡi phân tán ra dưới lưỡi"; "biệt
lạc của kinh thủ thiếu âm liên hệ đến cuống lưỡi"; "Thân của kinh túc thiếu
âm, lên đến thận, tương ứng với đốt sống 14 đi ra mạch đới; mạch đi thẳng
liên hệ với cuống lưỡi", lại viết: "Nhánh của túc thiếu âm đi lên liên hệ với
lưỡi; túc thiếu âm thiệt hạ - tức đi dưới lưỡi; túc thiếu âm liên hệ với gốc lưỡi;
túc thiếu âm chi tiêu tại bối du, hữu thiệt hạ lưỡng mạch- tức có hai đường
mạch dưới lưỡi và tiếp xúc ở đầu lưỡi", "Quyết âm là đường mạch của can,
can hợp với cõn, cõn tụ hội ở âm khí mà đường mạch nối ở cuống lưỡi". Dựa
trên nền tảng của《Nội kinh》các tác giả đời sau kế thừa và bổ xung thêm về
mối quan hệ của lưỡi với kinh lạc tạng phủ. Lý Thời Trân viết: "Dưới lưỡi có
bốn khiếu, hai khiếu thông với tâm khí, hai khiếu thông với tân dịch của thận",
Lý Đụng Viờn viết:"Lưỡi thuộc tâm, lại có thể nhận biết ngũ vị, là trong lưỡi
có tỳ", Tôn Cảnh Tư viết: "Lưỡi do tõm khớ làm chủ, tỳ khớ thụng lờn lưỡi,
hai tạng bất hòa, trúng phong tà, thì lưỡi cứng không thể nói; nhiệt cụng lờn
lưỡi thì lưỡi sưng không thể chuyển động, lập tức cú cỏc chứng: lưỡi nặng,
10
lưỡi sưng, lưỡi tê, lưỡi chảy máu " [57], [60], [61], [62], [65]. Tóm lại 12
kinh mạch đều có liên quan mật thiết với lưỡi.
* Lưỡi liên quan với tạng phủ
Lưỡi là mầm của tâm, trong ngũ hành lưỡi thuộc hành hỏa. Trong tác
phẩm《Linh khu - Mạch độ thiên》viết: "Tõm khớ thụng với lưỡi, tõm hòa thì
có thể nhận biết ngũ vị ". Biệt lạc của kinh thủ thiếu õm tõm liên hệ với gốc
lưỡi. Vỡ tõm chủ huyết mạch mà mạch lạc của lưỡi rất phong phú, tâm huyết
vinh lên ở lưỡi nên tình hình vận hành khí huyết của cơ thể có thể được phản
ánh ở màu sắc của chất lưỡi; Tâm chủ thần minh, vận động của lưỡi cũng
nhận sự chi phối bởi chức năng chủ thần minh của tâm, do đó vận động của
lưỡi có linh hoạt tự do hay không, lời nói rõ ràng hay không, điều này có quan
hệ mật thiết với hoạt động tinh thần. Nên mối quan hệ giữa lưỡi với tâm, thần
rất là mật thiết, có thể phản ánh bệnh biến của tâm và thần [41], [65], [67].
Quốc cũng vẫn chú trọng ghi chép về chất lưỡi và hình thể lưỡi. Đến nhà
Đông Hán thỡ đó phát triển thêm một bước về thiệt chẩn và mãi đến thế kỷ
thứ XIII mới có những bài chuyên về thiệt chẩn như 《Ngao Thị Thương Hàn
Kim Kinh Lục》, sách này đăng 36 loại bệnh thái về lưỡi, đặt cơ sở cho việc
chẩn đoán qua lưỡi. Đến nhà Thanh, do học thuyết về bệnh dịch phát triển đã
thúc đẩy sự nghiên cứu thiệt chẩn và thiệt chẩn được ứng dụng rộng rãi [65],
[67].
Ở Việt Nam từ thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác (1720 -1791) hiệu là Hải
Thượng Lãn Ông, với bộ sách 《Hải Thượng Y Tụng Tõm Lĩnh》trong phần
vọng chẩn gồm quan sát thần sắc, thể trạng, động thái, mắt, mũi, môi, lưỡi là
biểu hiện tính thừa kế, tính phát huy sáng tạo những tinh hoa y học ở trong
nước và nước ngoài thời đó [46].
Thiệt chẩn gồm quan sát: rêu lưỡi (màu sắc, dày mỏng, khô ướt ), chất
lưỡi (màu sắc, tính chất, hình thể, động thái ), mạch máu lưỡi (hình thái, màu
sắc ) và tham khảo bộ vị của lưỡi để xét bệnh tạng phủ. Trên lâm sàng nói
chung, xét hư thực của tạng phủ thì chú trọng xem ở chất lưỡi, xét bệnh tà
nụng sõu hoặc vị khớ cũn hay mất thì chú trọng xem ở rêu lưỡi [49], [59],
[64].
1.2.3. Nội dung của thiệt chẩn
Bao gồm, quan sát chất lưỡi, rêu lưỡi và tham khảo bộ vị của lưỡi để
xét bệnh tạng phủ. Trên lâm sàng nói chung xét hư thực của tạng phủ thì chú
13
trọng xem ở chất lưỡi, xét bệnh tà nụng sõu hoặc vị khớ cũn hay mất thì chú
trọng xem ở rêu lưỡi.
1.2.3.1. Quan sát chất lưỡi.
Đánh giá trên 4 chỉ tiêu: thần, sắc, hình thể và động thái của lưỡi. Bình
thường lưỡi có thần, sắc hồng sáng, hình thể săn chắc mà mềm mại, động thái
linh hoạt.
* Thần của lưỡi:
theo rêu đen là nhiệt nặng hơn vàng đậm, như có gai mà thấy chất lưỡi đỏ
thẫm thì không những tà nhiệt cực thịnh mà phần âm dịch cũng hao thương.
- Vết nứt, vết loét trợt: những khe rãnh, vết nứt nẻ trên bề mặt lưỡi
phần nhiều là do âm huyết hư nhiệt thịnh (sốt cao, mất nước, suy dinh
dưỡng ). Lưỡi màu đỏ sẫm mà có nếp nhăn nứt phần lớn do nhiệt thịnh
thương tân hoặc âm hư dịch cạn. Lưỡi trắng nhạt mà có nếp nhăn nứt phần
lớn do huyết hư nờn khụng nhuận. Lưỡi trắng nhạt mà mềm bệu, rìa lưỡi có
ấn răng và nếp nhăn nứt phần lớn do tỳ hư thấp trệ [47], [60], [67].
- Trên mặt lưỡi mọc lên những nốt ban xanh tím hoặc tím đen, to nhỏ,
hình thù khác nhau mà không nổi lên khỏi mặt lưỡi thì gọi là ban ứ huyết
không kể nốt đỏ, đen hay trắng đều do thấp nhiệt độc uất ứ lại trong huyết.
Những điểm trắng là do tỳ vị khí hư mà nhiệt thịnh cụng lờn, dấu hiệu sắp
thối rữa; những điểm đen là do nhiệt trong huyết, khí huyết uất trệ, bệnh
ngoại cảm có sốt phần lớn là sắp phát ban, bệnh nội thương đa phần là
chứng huyết ứ [22], [26], [47], [60], [64].
* Động thái
Động thái của lưỡi mềm mại linh hoạt thể hiện tân dịch đầy đủ khí
huyết lưu thông. Bệnh lý hay gặp:
15
- Lưỡi cứng: là đầu lưỡi cứng đờ, tiếng nói khó, vướng rít không rõ là
do nhiệt nhập tâm bào, nhiệt thịnh hao âm hoặc do đờm trở tắc đường lạc
mạch của lưỡi, cũng có thể do khí huyết hư. Bệnh ngoại cảm cũng như tạp
bệnh đều có thể phát sinh lưỡi này.
- Lưỡi lệch: lưỡi không đúng vị trí, thè rụt lưỡi không đưa ra trở lại
theo đúng với đường giữa hoặc đầu và thân lưỡi lệch về một bên khi thè ra
ngoài thường gặp ở bệnh nhân trúng phong.
- Lưỡi run: Là đầu lưỡi cứ run không yên, nếu lưỡi run nhẹ là do khí hư
huyết ít, can phong động ở trong hoặc do tâm tỳ hư, nếu lưỡi run mạnh bần
bật mà sắc đỏ hồng là can nhiệt phong động.
Căn cứ theo học thuyết kinh lạc và nguyên tắc “trờn đại diện cho trên,
dưới đại diện cho dưới”, cổ nhân có hai cách chia bề mặt của lưỡi ra các khu
vực liên quan với tạng phủ:
- Phân định khu vực theo tam tiêu, kinh vị: đầu lưỡi thuộc thượng quản,
giữa lưỡi thuộc trung quản, cuống lưỡi thuộc hạ quản.
- Phân định khu vực theo tạng phủ: học thuyết của các y gia có chỗ hơi
khác nhau. Chỗ giống nhau là gốc lưỡi thuộc thận, phần giữa lưỡi thuộc tỳ vị,
đầu lưỡi thuộc tâm, chỗ khác nhau là can với phế [47], [49], [67].
17
Hình 1.4. Tương quan lạc mạch tạng phủ dưới lưỡi [61]
Mã Thiện Nhi (1959) cho rằng đầu lưỡi thuộc tâm phế, hai bên lưỡi
thuộc can đởm, giữa lưỡi thuộc tỳ vị trong đó trung tâm của lưỡi thuộc vị,
xung quanh trung tâm thuộc tỳ, cuống lưỡi thuộc thận. Cũng có một số tác giả
khác cho rằng chót lưỡi thuộc tâm phế, rìa lưỡi bên trái thuộc can, rìa lưỡi bên
phải thuộc đởm [49], [60], [65], [58].
* Độ nhuận và màu sắc của chất lưỡi
Thần của lưỡi biểu hiện chủ yếu ở chất lưỡi, đó là bề mặt lưỡi phải tươi
nhuận và linh hoạt. Trong sách《Biện thiệt chỉ nam》viết: Khi lưỡi tươi
nhuận tân dịch đầy đủ là lưỡi có sinh khí, màu đỏ vừa, có ánh sáng quang còn
18
gọi là có thần, đây là dấu hiệu tốt. Khi lưỡi khô mờ không nhuận thiếu tân
dịch và lưỡi cứng, khụng cú sinh khớ, không phản sỏng cũn gọi là mất thần,
đây là dấu hiệu xấu. Quan sát màu sắc lưỡi để đánh giá tình trạng thịnh suy,
sự lưu thông của khí huyết, đồng thời phản ánh tính chất hàn nhiệt của cơ thể
người bệnh [47], [60], [67]
- Sắc lưỡi hồng nhuận (đỏ nhạt): Chất lưỡi hồng, trong nền trắng để lộ
nhăn là âm hư hoả vượng hoặc dinh vị thận kiệt. Lưỡi đỏ thẫm mà khụ, rờu
vàng dày là tân dịch hao tổn. Lưỡi đỏ thẫm mà khụ, khụng rờu thuộc chứng
tân dịch cực hư. Ngoài ra, lưỡi đỏ thẫm ớt rờu mà nhuận thường là ứ huyết.
- Sắc lưỡi tím đen: Sắc lưỡi tớm cú chia ra hàn hoặc nhiệt: Tím thẫm
mà khô ráo là thuộc chứng nhiệt thịnh thương tâm, khí huyết uất trệ; tím nhợt
hoặc xanh tím mà ướt nhuận là thuộc chứng hàn ngưng huyết ứ. Lưỡi tím đen
ướt nhuận do huyết ứ thường hay gặp ở các giai đoạn suy thở, suy tuần hoàn.
Sắc lưỡi màu xanh lam là do khí huyết lưỡng hư, hao tổn nặng, bệnh tình
nguy kịch. Nếu xanh lam mà cũn rờu lưỡi là do hỏa bên trong công kích cả
tâm, can, phế, tỳ, vị ; nhiệt công phần khí làm huyết dịch bất thông, tạng phủ
dù thương tổn nhưng chưa quá nặng, còn chữa được. Nếu xanh lam sáng bóng
mà không rêu, bất kể là chứng mạch nào đều thuộc khí huyết cực suy, khó
chữa, tiên lượng rất xấu, dễ tử vong, thường gặp trong suy tuần hoàn, khó thở
nặng, thiếu oxi nặng. Toàn lưỡi xuất hiện sắc đen là huyết đã bại, chứng nguy
kịch. Lưỡi đen mà trơn nhuận là cực hàn, đen mà khụ xỏm là cực nhiệt [60].
20
* Độ ẩm lưỡi
Bình thường mặt lưỡi ẩm ướt và khô ướt vừa phải. Nếu thủy phần quá
nhiều sờ vào lưỡi sẽ ướt và trơn. Nếu thủy phần ít, sờ vào lưỡi sẽ ráp tay và
khô ráo.
Lưỡi khô ráo chủ bệnh nhiệt thịnh thương tân hoặc âm dịch hao tổn
hoặc dương khí khụng húa được tõn, khớ tỏo thương phế. Nếu thấp tà vào khí
phận khụng húa tõn thỡ rờu lưỡi táo, nếu nhiệt tà nhập huyết phận, dương tà
động âm khí thỡ rờu lưỡi nhuận.
Lưỡi trơn ướt chủ bệnh thấp trọc hàn thấp do dương hư, đàm ẩm, thủy
thấp ứ trệ. Nếu rêu trắng nhớt khụng khụ phần lớn là tỳ hư thấp nặng, rêu
trắng dày dính nhớt, miệng cảm giác ngọt phần nhiều là tỳ vị hư nhiệt, khí trệ
trơn là rêu nhỏ mịn, chùi cạo không đi và có dịch phủ bên trên như dầu mỡ,
nếu rờu khớt chặt mà dính, bẩn đục trơn nhờn gọi là rờu dớnh trơn. Rêu
mủn nát là rêu lỏng thưa, to mà dày như bã đậu phụ tích ở mặt lưỡi, lau
chùi có thể hết.
Rêu lưỡi nhuận là tân dịch chưa bị hao tổn, rêu ướt là có thấp, rêu lưỡi
khô là tân dịch đã bị hao tổn, rêu khô ráo là có nhiệt.
Rêu trơn là do dương khí hư tổn không vận hoá được thuỷ thấp sinh ra
đàm ẩm, đàm ẩm theo kinh mạch đưa lên lưỡi nờn rờu lưỡi trơn, lâm sàng
thường giặp dương hư đàm ẩm, thủy thấp ứ trệ.
Rêu lưỡi nhớt là dương khí hữu dư còn có thể hoá được trọc khí ở vị,
phần lớn dương nhiệt có thừa là bốc tà khí trong vị quản, cũng gặp trong
người có u hoặc thấp nhiệt trong miệng [22], [49], [65], [67].
22
* Rêu lưỡi thay đổi màu sắc do tính chất hàn nhiệt
- Rêu lưỡi trắng: chủ bệnh ở biểu, thuộc chứng hàn, hư hàn, cũng có thể
thuộc chứng nhiệt nếu có chất lưỡi đỏ.
+ Rêu trắng mỏng là ngoại cảm phong hàn. Rêu trắng mỏng trơn trong
bệnh ngoại cảm là do hàn thấp, tà thịnh gây ra; trong bệnh nội thương là do
thủy khí tràn ra, đờm thấp gây bệnh. Rêu trắng mỏng khô thường do phong
nhiệt ở biểu làm tỏo khớ thương phế, tân dịch của tạng phế bị tổn thương.
+ Rêu trắng dày trơn là ngoại cảm phong hàn mà ở trong có thấp hoặc
là có hàn ẩm ngưng trệ. Rêu trắng dày khô là nhiệt tà nhẹ làm hao tân dịch mà
trọc khí chưa hoá được.
+ Rêu trắng như phấn đọng là bệnh ôn dịch nhẹ mới phát hoặc do thử tà
với thấp tà ở phế kinh sinh ra. Rêu trắng muốt, ớt sỏng, như tuyết rải trên lưỡi
là do tỳ dương suy kiệt, hàn thấp ngưng bế ở trung tiêu, là triệu chứng không
tốt.
- Rêu lưỡi vàng: chủ bệnh ở lý, thuộc chứng nhiệt, nhiệt tà ở dương
minh, nhiệt ở phần khí, nếu màu vàng càng sẫm thì nhiệt càng cao.
+ Rêu đen mà trơn nhuận, chất lưỡi hồng nhợt là chứng hàn mà dương
hư. Rêu đen nhuận khắp cả bề mặt lưỡi mà người bệnh không có các triệu
chứng gì nguy nặng thì là do đàm ẩm ẩn phục ở trong lồng ngực. Rêu đen như
nước mực loãng, đầu tay chân lạnh, mạch nhỏ nhanh yếu là chứng hư hàn.
24
+ Rêu đen mà khô ráo, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ thẫm là tổn thương âm, hoả
nhiệt hại õm. Rờu đen khô chỉ có ở đầu lưỡi là tâm hỏa bị thiêu đốt mạnh.
Giữa lưỡi rêu đen khô mà kèm theo bụng chướng đau là chứng táo bón, bế tắc
đại tiện kéo dài. Gốc lưỡi cú rờu đen khô là nhiệt ở hạ tiờu. Rờu đen khô mà
kèm theo môi miệng răng đều đen là vị khí sắp bại, tiên lượng xấu. Rêu đen
khô nứt do bệnh nhiệt chứng mà có nổi gai nhọn cao rõ là thiếu õm chõn thủy
ở thận sắp kiệt, bệnh nặng rất nguy [26], [47], [61], [62], [65].
- Rêu lưỡi đổi màu cũng phản ánh tình trạng biến hóa của bệnh tật:
+ Rêu trắng vàng: Rêu từ trắng chuyển sang vàng là phong hàn đó húa
hỏa. Rêu trắng hơi vàng mà mỏng là tà mới vào tới dương minh. Rêu trắng
kiêm vàng mà vùng vị quản đầy là ngoại tà chưa giải mà lý chứng đã kết. Nếu
lưỡi khụng khụ hoặc miệng khụng khỏt mà rêu vàng kiêm trắng là nhiệt uất
chưa dứt được hoặc trong người vốn sẵn có nhiều đàm ẩm.
+ Rêu trắng xám: Rêu trắng xám mà trơn là thuộc hàn thấp. Rêu trắng
xám mà cáu bẩn là hàn thấp kiêm đàm mà dương khí không thông hành, âm tà
ủng trệ. Rêu trắng mà một bên trắng xám là thương hàn chứng bán biểu bán lý,
cần kết hợp mạch với chứng mới có thể chẩn đoán chính xác được.
+ Rêu trắng đen: Rêu trắng hơi có điểm đen hoặc rêu trắng thấy có lằn
đen mà nhờn dính là thấp tà ở phần khí thái âm kinh. Rêu trắng kiêm vàng
đen lẫn lộn hoặc giữa khô xung quanh trơn hoặc đầu lưỡi khô gốc lưỡi nhuận
đều là chứng tích bệnh hợp bệnh, hàn nhiệt thác tạp không điều hòa.
+ Rêu vàng xỏm: Rờu vàng khô lại hơi có màu xám, đại tiện kết rắn
thường là do thấp tà lâu ngày sinh nhiệt, nhiệt gây thương âm [40], [60], [64]. Chất nhợt
Chất hồng
Chất đỏ
Lưỡi nứt Lưỡi thon
Lưỡi bệu
Lưỡi rụt
Hằn răng
Hình 1.5. Át lát lưỡi [71]