Luận án Tiến sĩ kinh tế Phát triển logistics ở một số nước đông nam á bài học kinh nghiệm đối với việt nam (Full Text ) - Pdf 24

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ QUẾ ANH
PHÁT TRIỂN LOGISTICS Ở
MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á - BÀI HỌC
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
Mã số: 62.31.07.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
1
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam.
Người hướng đẫn khoa học: 1. GS.TS. Nguyễn Xn Thắng
2. PGS.TS. Phạm Thị Thanh Bình
Phản biện 1: PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh
Phản biện 2: PGS.TS. Đỗ Đức Định
Phản biện 3: GS.TS. Đặng Đình Đào
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
tại vào hồi giờ phút,
ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Logistics là hoạt động tối ưu hóa việc lưu trữ, vận chuyển hai chiều
các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa),
tài chính, thông tin từ nơi cung cấp qua các khâu của chuỗi cung ứng đến
người tiêu dùng. Trong nền kinh tế hiện đại, logistics ngày càng có vai trò
quan trọng.Khi sản xuất ngày càng phát triển, các nguồn lực ngày càng trở
nên khan hiếm, logistics giúp các nhà sản xuất tối ưu hóa mọi thao tác để

có trình độ phát triển logistics cao hơn (Singapore, Malaysia và Thái Lan)
là cần thiết để rút ra những bài học cho Việt Nam trong quá trình phát triển
logistics- đây có thể được coi là một hướng đi ngắn và hiệu quả để phát
triển logistics Việt Nam nhanh đạt được mục tiêu. Vì vậy, nghiên cứu sinh
đã lựa chọn vấn đề “Phát triển logistics ở một số nước Đông Nam Á - bài
học kinh nghiệm đối với Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên
quan đến đề tài Luận án
Khoảng 20 năm trở lại đây, Logistics đã thu hút sự quan tâm của các
nhà nghiên cứu. Trên thế giới, các nghiên cứu về logistics khá phong phú
vàđược thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau. Các nghiên cứu lý luận
chung về logistics chủ yếu được thực hiện dưới góc độ vi mô luận giải
những vấn đề liên quan đến logistics của doanh nghiệp. Ngoài những
nghiên cứu lý luận chung, còn có những nghiên cứu cụ thể về một hay một
số khía cạnh logistics ở một số quốc gia trên góc độ trung mô và vĩ mô.
Một số công trình nghiên cứu về logistics ở Singapore, Trung Quốc, Thái
Lan, cho thấy họ rất quan tâm tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài.
Ở Việt Nam hiện nay có rất ít các nghiên cứu chuyên sâu về logistics,
đặc biệt chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào tập trung nghiên cứu kinh
nghiệm của các quốc gia đi trước.Trong khung khổ nghiên cứu một đề tài
cấp Nhà nước, GS. TS. Đặng Đình Đàođã xuất bản cuốn sách chuyên
khảovề Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc
tế(2012). Cuốn sách có một phần đề cập về kinh nghiệm phát triển
logistics ở Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và Thái Lan nhưng chỉ dừng
ở mức rất khái quát bởi đây không phải là nội dung nghiên cứu chủ yếu.Vì
thế, cần phải có công trình nghiên cứu phân tích chuyên sâu, toàn diện hơn
về vấn đề này.
2
3.Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của Luận án là rút ra

biện chứng và duy vật lịch sử với nguồn dữ liệu thứ cấp từ các số liệu và
kết quả điều tra của các nghiên cứu hiện có và số liệu thống kê, Luận án
chú trọng làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu trên cơ sở phân tíchchỉ số
năng lực logistics (LPI) mà Ngân hàng thế giới (WB) công bố đảm bảo độ
tin cậy cao. Phương pháp phân tích dữ liệuđịnh tính là phương pháp chủ
yếu được sử dụng, bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương
pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp phân tích so sánh. Ngoài ra,
Luận án còn sử dụng phương pháp phân tích SWOT đánh giá thực trạng
logistics của từng quốc gia được đề cập.
6.Đóng góp mới của Luận án
Thứ nhất, tạo dựng được cơ sở lý luận về logistics trên quan điểm
lịch sử và toàn diện, lý giải một cách dễ hiểu những vấn đề cơ bản như:
bản chất của logistics, vì sao cần phát triển logistics,sự hình thành và phát
triển ngành dịch vụ logistics, các yếu tố cấu thành hệ thống logistics quốc
gia và nội dung phát triển logistics quốc gia;
Thứ hai, phân tích được thực trạng phát triển logistics ở ba nước
Đông Nam Á (Singapore, Malaysia, Thái Lan) một cách khá toàn diện với
nội dung phong phú, đồng thời chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và nguyên
nhân của thành công cùng những hạn chế trong sự phát triển logistics ở các
quốc gia này;
Thứ ba,rút ra được một số bài học về phát triển logistics từ kinh
nghiệm phát triển logistics của 3 quốc gia được nghiên cứu, liên hệ với
Việt Nam;
Thứ tư, chỉ ra được những yếu kém và nguyên nhân hạn chế trong
phát triển logistics ở Việt Nam, trên cơ sở các bài học kinh nghiệm, đưa ra
định hướng vàmột số đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Nam thời
gian tới.
7.Kết cấu nội dung Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án
gồm 3 chương:

khác nhau.
Hiện nay, định nghĩa được đưa ra bởi Hội đồng Các Chuyên gia
Quản trị Chuỗi cung ứng Hoa Kỳ (CSCMP) năm 2001 được thừa nhận
5
rộng rãi hơn cả, theo đó logistics được quan niệmlà một bộ phận của chu
trình chuỗi cung ứng, bao gồm hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm
soát hàng hóa, dịch vụ,thông tin trong lưu trữ và lưu chuyển hai chiềugiữa
điểm khởi đầu và điểm tiêu dùng đạt hiệu quả cao, lợi ích cao để đáp ứng
nhu cầu của khách hàng.
1.1.3.Các hoạt động logistics chủ yếu
Các hoạt động logistics trong doanh nghiệp thường gồm các hoạt
động chủ yếu sau: dịch vụ khách hàng, vận chuyển, quản lý dự trữ, hoạt
động kho bãi, cung ứng vật tư, mua sắm và thuê dịch vụ, đóng gói, liên kết
hệ thống sản xuất và vận hành, quản lý thông tin.
1.1.4.Vai trò của logistics
Ở góc độ doanh nghiệp, logistics có vai trò tối ưu hóa chu trình lưu
chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào tới khi đến tay khách
hàng sử dụng; hỗ trợ cho các nhà quản lý ra quyết định chính xác; đảm bảo
cung cấp đúng yếu tố, đúng thời gian, tại đúng địa điểm (JIT- just in time),
thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng. Vì thế, logistics trở thành yếu tố quan
trọng gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và quyết định khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp và phát triển bền vững. Trên thực tế, 98% nhà sản
xuất cho rằng logistics quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng,
85% cho rằng logistics là yếu tố chính trong lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp và 62% cho rằng logistics là lĩnh vực ưu tiên quản lý hàng đầu.
(Phần Lan, 2009)
Ở góc độ vĩ mô, đối với nền kinh tế quốc dân, logistics có vai trò
thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển các ngành sản xuất và nền kinh tế; thúc
đẩy lưu thông hàng hóa và mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế; gia
tăng khả năng cạnh tranh của hàng nội địa trên thị trường quốc tế; là công

về dịch vụ logistics.
1.3.2. Nội dung phát triển logistics quốc gia
Trên cơ sở khái niệm phát triển kinh tế, có thể hiểuphát triển logistics
quốc gia là quá trình hoàn thiện về mọi mặt, gia tăng cả về mặt lượng và
mặt chất của các yếu tố cấu thành hệ thống logistics quốc gia, bao gồm
phát triển hệ thống hạ tầng logistics, xây dựng khung thể chế thuận lợi cho
7
phát triển logistics, phát triển nhà cung cấp dịch vụ logistics và phát triển
cầu về dịch vụ logistics nhằm tạo dựng những điều kiện thuận lợi nhất, tối
ưu nhất cho hoạt động logistics doanh nghiệp thực hiện hiệu quả, đồng
thời thúc đẩy sự phát triển ngành dịch vụ logistics.
Với nội hàm của phạm trù phát triển, phát triển logistics quốc gia
không chỉ nhằm vào mặt lượng như tăng quy mô, tăng số lượng hạ tầng cơ
sở logistics (gia tăng số lượng, mở rộng đường sá, cảng biển, sân bay, hệ
thống đường sắt, cầu, cống, đường ống, mạng thông tin viễn thông, kho
chứa, cảng cạn, ) mà còn bao gồm sự phát triển về mặt chất hạ tầng cơ sở
(gia tăng chất lượng hạ tầng cơ sở, giảm chi phí sử dụng hạ tầng cơ sở, gia
tăng khả năng kết nối giữa các hệ thống giao thông làm cơ sở cho phát
triển hình thức vận chuyển đa phương thức, gia tăng các hình thức dịch vụ
hạ tầng cơ sở, hình thành các Khu tập trung Logistics với hệ thống cơ sở
vật chất hiện đại ); không chỉ nhằm vào gia tăng tăng số lượng nhà cung
cấp dịch vụ logistics, gia tăng số lượng người sử dụng dịch vụ, tăng tỷ
trọng của lĩnh vực này trong GDP… mà còn bao hàm những vấn đề liên
quan đến mặt chất của phát triển ngành dịch vụ logistics như gia tăng số
lượng dịch vụ cung ứng, gia tăng chất lượng dịch vụ cung ứng, gia tăng
phạm vi cung ứng dịch vụ, gia tăng số lượng dịch vụ người sản xuất kinh
doanh muốn được cung ứng (thuê ngoài). Đồng thời, sự phát triển hệ thống
logistics quốc gia còn gắn liền với những thay đổi về thể chế quản lý, điều
hành và thực hiện các hoạt động logistics với mục tiêu tạo thuận lợi hóa
thương mại, giảm chi phí, thời gian, giảm phiền hà, tăng cường tính liên

2.1. Thực trạng phát triển logistics ở Singapore
2.1.1.Một số đặc điểm địa lý, kinh tế, xã hội chủ yếu
2.1.2.Tình hình phát triển logistics ở Singapore
Với chủ trương phát triển Singapore trở thành Trung tâm trung
chuyển hàng hóa của khu vực (từ những năm 1980), Chính phủ Singapore
đã sớm thực hiện nhiều biện pháp để thúc đẩy logistics phát triển.
Phát triển, hiện đại hóa hạ tầng cơ sởvật chất và hạ tầng công
nghệ thông tin.Singapore chú trọng phát triển cảng biển, sân bay, hệ thống
đường bộ và các kho bãi hiện đại bậc nhất thế giới. Song song với việc đầu
tư phát triển hệ thống hạ tầng cơ sởvật chất, Singapore đã phát triển hệ
9
thống hạ tầng công nghệ thông tin rất mạnh qua việc thực thi các dự án
phát triển tin học quốc gia và triển khai sử dụng 5 hệ thống mạng liên kết:
mạng thương mại, mạng cảng biển, mạng trực tuyến cảng Jurong, mạng
hàng hải, mạng cộng đồng vận tải hàng không. Hệ thống hạ tầng cơ sở
giao thông hiện đại song hành cùng hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin
rất mạnh là nhân tố quyết định hiệu quả của Logistics Singapore. Nguồn
tài chính rất lớn để phát triển hạ tầng cơ sở được Chính phủ Singapore huy
động từ quỹ tiết kiệm quốc gia, nguồn đầu tư nước ngoài, và vốn vay từ hệ
thống ngân hàng thương mại.
Thiết lập khung thể chế thúc đẩy sự phát triển của logistics và tạo
thuận lợi hóa thương mại. Chính phủ Singapore đã ban hành các chính
sách ổn định tài chính, tiền tệ và tỷ giá để gia tăng tiết kiệm và thu hút đầu
tư nước ngoài; thực thi chính sách ưu đãi thuế đối với các công ty vận tải
và logistics, miễn thuế với đầu tư mạo hiểm, miễn thuế thu nhập từ tàu
biển trong 10 năm, Một điểm đáng chú ý là đối tượng thụ hưởng từ
Chính sách ưu đãi của Chính phủ là các công ty logistics mạnh, có quy mô
lớn, kinh doanh có hiệu quả, có cam kết làm ăn lâu dài và phát triển mở
rộng - điều này cho thấy mục tiêu của Chính phủ nhằm hướng đến sự phát
triển logistics bền vững. Chính sách hải quan được minh bạch hóa với

hình vận tải; (iv) xây dựng các khu thương mại tự do (Free Commercial
Zone – FCZ) với vai trò hỗ trợ các cảng chính trở thành trung tâm chuyển
tải trong khu vực.
Xây dựng và củng cố thể chế logistics.Với sự thay đổi nhận thức về
vai trò của logistics, Chính phủ Malaysia không ngừng hoàn thiện các
chính sách để thúc đẩy logistics quốc gia phát triển; chú trọng thuận lợi
hóa các quy trình thủ tục hải quan, thông quan; áp dụng công nghệ cao vào
các khâu quản lý, giám sát và điều hành các hoạt động logistics; thực thi
hàng loạt các chính sách tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư: hệ
thống thuế hấp dẫn, chính sách hỗ trợ các LSP quốc tế và đầu tư trực tiếp
cho các LSP nội địa.
Phát triển thị trường logisticsthông qua thúc đẩy sự phát triển các
LSP và hỗ trợ công tác giáo dục, đào tạo nhằm gia tăng lượng cầu dịch vụ
logistics.Trong giai đoạn 1980-2000, logistics Malaysia hầu như chỉ hoạt
động theo mô hình 2PL. Bước sang thế kỷ XXI, thị trường dịch vụ
logistics 3PL tại Malaysia ngày càng phát triển. Trải qua hơn một thập kỷ
11
(2000 - nay), hệ thống logistics 3PL của Malaysia đã phát triển ở mức độ
tương đối với sự xuất hiện của hàng loạt các công ty logistics 3PL, trong
đó có những công ty đạt chuẩn quốc tế. Cùng với các công ty trong nước
(chiếm 57% thị phần), các LSP lớn với mạng lưới hoạt động toàn cầu cũng
đang gia tăng tại Malaysia (chiếm 31% thị phần). Năm 2012, Chính phủ
Malaysia lại tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng thị trường
logistics thông qua chương trình Cải cách Chính phủ và chương trình Cải
cách kinh tế, theo đó lượng cầu về dịch vụ logistics của Malaysia đã gia
tăng đáng kể và được mở rộng ở nhiều lĩnh vực, chứ không chỉ giới hạn ở
các lĩnh vực thuê ngoài truyền thống như trước đây.
Đánh giá chung: Malaysia đứng vị trí 29/155 trong bảng xếp hạng
LPI toàn cầu năm 2012.Chỉ số thấp nhất trong nhóm bảng xếp hạng LPI là
sự thuận lợi hóa trong khâu thủ tục hải quan (chủ yếu do liên quan đến tôn

triển hệ thống hạ tầng cơ sởvật chất, Chính phủ Thái Lan định hướng và
đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý hạ tầng logistics, dù vậy,
đây mới chỉ là những bước đi cơ bản ban đầu và chưa đem lại hiệu quả
cao.
Tạo điều kiện thuận lợi trong các thủ tục thông quan vớiviệc áp
dụng hệ thống hải quan tự động từ khá sớm (2000), đếnnăm 2007 Thái
Lan đã triển khai áp dụng Hải quan điện tử. Tuy nhiên, do mới triển khai
thực hiện và quy trình quản lý còn phức tạp nên hiệu quả công tác hải quan
còn chưa cao.
Các nhà cung cấp dịch vụ logistics tại Thái Lan hầu hết là 3PL của
nước ngoài, có chất lượng dịch vụ cao. Các doanh nghiệp logistics nội địa
rất yếu do mạng lưới kinh doanh nhỏ lẻ, thiếu thông tin trong kỹ thuật
quản lý logistics, hạn chế về vốn, công nghệ và chất lượng nhân lực chưa
cao. Thái Lan chỉ có hơn 16 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics
tương đối toàn diện và hơn 30 hãng tàu nhưng tổng vốn đăng ký của nhóm
doanh nghiệp này chiếm chỉ khoảng 5% tổng vốn đăng ký ngành dịch vụ
logistics.
Người sử dụng dịch vụ logistics:Cầu về dịch vụ logistics chủ yếu
đến từ các doanh nghiệp và tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh
nghiệp sản xuất trong nước chưa có xu hướng thuê ngoài dịch vụ logistics.
Để thúc đẩy ngành dịch vụ logistics phát triển, Chính phủ ban hành
khuyến khích các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào thị
13
trường dịch vụ logistics 3PL; hỗ trợ tư vấn, cung cấp tư vấn kỹ thuật và
dịch vụ cho các doanh nghiệp (chương trình Tăng cường kinh doanh Thái
2002); thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực gia công để tạo
cầu cho thị trường logistics quốc gia.
Đánh giá chung:chi phí logisticsở Thái Lan đã giảm nhưng vẫn còn
ở mức cao, hạ tầng giao thông vận tải chưa đồng bộ và chưa hiện đại;hạn
chế trong áp dụng công nghệ thông tin; nguồn nhân lực yếu; quản lý Nhà

Singapore.
2.4.3.Trường hợp Thái Lan: Sự phát triển kinh tế khá nhanh trong
những năm 1980-1990 đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống hạ
tầng cơ sở giao thông - nền tảng để logistics phát triển. Hơn nữa, nhờ sự
thay đổi nhận thức của Chính phủ (2001), tầm quan trọng của Logistics
ngày càng được đánh giá cao.Chính phủ đã có các kế hoạch và chiến lược
phát triển logistics một cách khá nghiêm túc,vì thếlogistics Thái Lan đã có
những bước phát triển đáng ghi nhận.Tuy nhiên, trong những năm đầu thế
kỷ XX, những quyết sách của Chính phủ không thực sự kịp thời và thiếu
đồng bộ, thiếu quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực và hệ thống hạ tầng
công nghệ thông tin, cộng với những bất ổn chính trị xã hội đã kìm hãm sự
phát triển logistics Thái Lan.
CHƯƠNG 3 - BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
ĐÔNG NAM Á VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN LOGISTICS
Ở VIỆT NAM
3.1. Thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam
3.1.1.Hạ tầng cơ sở logistics của Việt Nam
Cả hạ tầng cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin ở Việt Nam
còn rất kém. Kết quả đánh giá về chất lượng hạ tầng năm 2012 của WB
cho thấy, Việt Nam bị đánh giá kém hoặc rất kém trên mọi phương diện,
đặc biệt ở hạ tầng cơ sở đường sắt (84,6%), đường bộ (69%), sân bay
(53,8%), kho bãi - trạm trung chuyển (53,8%), 25% đánh giá cho rằngcác
mức phí sử dụng hạ tầng cơ sở là cao hoặc rất cao. Thêm vào đó, chất
lượng dịch vụ hạ tầngđược đánh giá là không cao (100% với đường biển,
đường sắt, kho bãi, trạm trung chuyển, 85% với đường bộ, 92% với
đường hàng không).
15
3.1.2.Khung thể chế logistics
Các quy định về logistics không rõ ràng, kém chặt chẽ, nhiều điểm
chưa phù hợp với điều kiện kinh doanh logistics và còn nhiều điểm cần

Hạ tầng
cơ sở
Vận
chuyển
hh
quốc tế
Năng lực
nhà cung
cấp dv
Truy
xuất
đơn
hàng
Đúng
hạn
giao
hàng
16
Việt Nam 53 3.00 2.65 2.68 3.14 2.68 3.16 3.64
Singapore 1 4.13 4.1 4.15 3.99 4.07 4.07 4.39
Thái Lan 38 3.18 2.96 3.08 3.21 2.98 3.18 3.63
Malaysia 29 3.49 3.28 3.43 3.4 3.45 3.54 3.86
Nguồn: Tổng hợp từ LPI Report,World Bank, 2012
Có thể nói, Việt Nam có trình độ phát triển logistics còn khá thấp và
lệch lạc.Các chỉ số bị đánh giá thấp nhất trong hiệu quả logistics của Việt
Nam là ở lĩnh vực năng lực, thủ tục hải quan, hạ tầng cơ sở và năng lực
nhà cung cấp dịch vụ (dưới mức trung bình).
Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém:
Thứ nhất, nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của logistics đối với
sự phát triển doanh nghiệp và sự phát triển chung của nền kinh tế còn hạn

kiện dễ dàng kết nối giữa các hình thức vận tải
Việc xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn,
thời gian dài, vì thế cần linh hoạt trong việc huy động, kết hợp các nguồn
lực quốc gia, trong đó khuyến khích sự tham gia của khối kinh tế tư nhân.
Các nguồn lực từ nhóm kinh tế tư nhân được Chính phủ định hướng vào
các hoạt động bổ trợ cho logistics như xây dựng hệ thống kho bãi, mua
sắm trang bị các hệ thống bốc xếp hiện đại, các dây chuyền đóng gói tiên
tiến, mua sắm các phương tiện vận tải có năng lực lớn…
3.2.3. Phát triển hạ tầng cơ sở vật chất phải đi đôi với phát triển hạ
tầng công nghệ thông tin
Trong logistics hiện đại, hạ tầng mềm đang ngày càng thể hiện vai
trò quyết định tới năng lực logistics quốc gia và cần được xem như một
trong nhưng ưu tiên hàng đầu khi phát triển logistics.Đầu tư cho hạ tầng
công nghệ thông tin phải rất đồng bộ, đầu tư hiện đại ngay từ đầu đi kèm
với giáo dục nâng cao năng lực ứng dụng.
3.2.4. Xây dựng khung thể chế thuận lợi cho logistics
Nếu như hạ tầng cơ sở quyết định tốc độ phát triển của logistics thì
khung thể chế là yếu tố quyết định qui mô và khả năng phát triển lâu dài
của logistics. Cần phải thiết lập môi trường chính trị, kinh tế, xã hội ổn
định; ban hành và thực thi những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho
logistics phát triển, đặc biệt các chính sách về hải quan, thông quan và ưu
đãi trực tiếp khi đầu tư vào lĩnh vực logistics.
18
3.2.5. Phát triển logistics quốc gia thông qua phát triển thị trường dịch
vụ logistics, phát triển nguồn cung và cầu logistics trong nền kinh tế
Bên cạnh chính sách ưu đãi đầu tư và thu hút đầu tư nước ngoài vào
lĩnh vực logistics, cả 3 quốc gia còn rất coi trọng việc tuyên truyền giáo
dục và nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp sản xuất về vai trò của
logistics. Theo nguyên tắc phát triển chung của thị trường, nguồn cung và
cầu thị trường gia tăng sẽ khiến hoạt động logistics có cơ hội để phát triển

cảng cạn, trạm trung chuyển, điểm kết nối để gia tăng năng lực hệ thống hạ
tầng. Thứ tư, phải hiện đại hóa logistics trên nền tảng phát triển công nghệ
thông tin và nguồn nhân lực chất lượng cao.Thứ năm, tạo dựng môi trường
để logistics phát triển.Thứ sáu, Chính phủ không chỉ làm các nhiệm vụ có
tính định hướng, thúc đẩy mà phải trực tiếp tham gia vào việc triển khai
các kế hoạch phát triển logistics.
3.4. Một số đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Nam
3.4.1. Nhóm đề xuất liên quan đến phát huy vai trò của Chính phủ
3.4.1.1. Đổi mới tư duy của Chính phủ và các nhóm đối tượng tham gia
hoạt động logistics, tăng cường vai trò của Chính phủ
Chính phủ Việt Nam cần xác định logistics là một lĩnh vực ưu tiên
bởi nó là một trong những công cụ để phát triển kinh tế quốc gia và có lộ
trình thực hiện.Chính phủ cần chủ động và trực tiếp tham gia vào quá trình
kiến tạo những yếu tố cấu thành hệ thống logistics quốc gia, chứ không chỉ
dừng ở nhận thức. Việc nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp có thể thực
hiện thông qua Chương trình hỗ trợ kỹ thuật, các khóa đào tạo cán bộ quản
lý doanh nghiệp (như Thái Lan, Malaysia), qua các diễn đàn hoặc thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng với sự hỗ trợ từ phía chính phủ.
3.4.1.2. Lập kế hoạch, chuẩn bị nguồn lực con người và vật chất cho
việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển logistics
Cần lập kế hoạch cụ thể để phát triển logistics Việt Nam theo từng
giai đoạn. Lộ trình phù hợp với Việt Nam là các kế hoạch 5 năm có điều
chỉnh. Cần thành lập Ban chuyên trách chính phủ về phát triển logistics
20
quốc gia(bao gồm các chuyên gia logistics, chuyên gia của các Bộ/Ngành
hữu quan), cân đối ngân sách quốc gia cho các hạng mục đầu tư cần thiết,
tìm kiếm nguồn ngân sách bổ sung từ viện trợ, vay vốn. Chậm nhất là đến
giữa năm 2015, các điều kiện về nhân lực, nguồn lực kinh tế phải được
đảm bảo khả thi.
3.4.2. Nhóm đề xuất liên quan đến phát triển hạ tầng cơ sở logistics

bạch, thống nhất, đảm bảo các cam kết đã ký theo lộ trình hội nhập
ASEAN, ban hành các chính sách khuyến khích đặc biệt cho sự phát triển
của ngành logistics trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của Singapore,
Malaysia và tập hợp ý kiến tư vấn của các chuyên gia logistics thông qua
các diễn đàn chuyên môn do Chính phủ chỉ đạo tổ chức.
3.4.3.2. Hiện đại hóa hải quan và các thủ tục thông quan khác
Chính phủ cần hỗ trợ ngành Hải quan xây dựng hệ thống thông tin
máy tính hải quan, xây dựng một hệ thống chứng từ mới đồng bộ, phù hợp
với hình thức vận tải đa phương thức, tương thích và phù hợp với các nước
trong khu vực và cho phép thực hiện thủ tục thông quan cả bằng đường bộ,
đường không, đường biển trong một bộ hồ sơ. Nâng cấp mở rộng các địa
điểm thực hiện thủ tục hải quan, thông quan tại các cửa khẩu và hoàn thiện
khung thể chế cho hình thức kiểm hóa tại kho, kiểm hóa tại các trạm trung
chuyển và thành lập các đội hải quan lưu động.
3.4.3.3. Ban hành chính sách ưu đãi để thúc đẩy đầu tư vào logistics
Cần có chính sách ưu tiên đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực
logistics nhằm tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics nước
ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam và có chính sách hỗ trợ các doanh
nghiệp logistics làm ăn hiệu quả, cam kết đầu tư lâu dài ở Việt Nam.
3.4.4. Các đề xuất khác
Ngoài ra, để tạo điều kiện cho logistics phát triển, Chính phủ cần
tham gia hỗ trợ trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực logistics
cùng với việc duy trì, giữ vững ổn định an ninh chính trị, kinh tế, xã hội,
chống tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà trong việc quản lý hoạt động
logistics, phát huy sức mạnh Hiệp hội Logistics, tăng cường công tác tuyên
truyền, giáo dục logistics trên cácphương tiện thông tin đại chúng.
22
KẾT LUẬN
Với mục tiêu tìm hiểu bài học từ kinh nghiệm phát triển logistics của
Singapore, Malaysia và Thái Lan nhằm đưa ra đề xuất phát triển logistics


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status