Chuyên đề tốt nghiệp Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hang TMCP Hàng Hải chi nhánh Đà Nẵng - Pdf 24

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua như chúng ta đã thấy hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta
nói chung và trên địa bàn Đà Nẵng nói riêng đều là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, để
tồn tại được trong môi trường khốc liệt như hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi
mới công nghệ, nâng cao năng lực quản lý và mở rộng quy mô sản xuất tạo ra đươc
sản phẩm có chất lượng cao với giá cả cạnh tranh hơn. Để làm được điều này thì cần
phải có vốn mà đây là vấn đề khó khăn nhất mà các doanh nghiệp đều gặp phải.
Trong khi đó, ngân hàng với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh về tiền tệ,
luôn tìm mọi cách để mở rộng đầu ra cho nguồn vốn, phát triển sản phẩm mới đồng
thời phát huy những thế mạnh vốn có để thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế, đặc biệt
trong các hoạt động cho vay của mình, hoạt động tín dụng là hoạt động thường xuyên
và cũng là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng, mà cho vay đối với các doanh
nghiệp nhỏ và vừa là xu thế của các ngân hàng hiện nay nhất là đối với NHTMCP.
Để thúc đẩy cho sự phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện của nền kinh tế hiện nay thì cần
phải có một chiến lược và những giải pháp cụ thể để hổ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa phát triển, trong đó ngân hàng là một chủ thể quan trọng giúp các doanh nghiệp
giải quyết những khó khăn về vốn. Và nếu doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả thì
cũng góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng.
Xuất phát từ những vấn đề trên, cùng với những kiến thức đã học ở trường và
những kiến thức thu được trong thời gian thực tập đã cho em cái nhìn sát thực hơn về
hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa nên em quyết định chọn đề tài:
“Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
ngân hang TMCP Hàng Hải chi nhánh Đà Nẵng.”
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì chuyên đề của em gồm 3 phần:
Phần I: Những vấn đề chung về hoạt động cho vay của doanh nghiệp nhỏ
và vừa và hoạt động tín dụng.
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
Phần II: Phân tích thực trạng về hoạt động cho vay của doanh nghiệp nhỏ

tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là loại hình tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Đối
tượng của loại hình này là để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới
thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh.(quy mô nhỏ)
- Tín dụng dài hạn: Là loại hình tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Đối tượng của
loại hình này là để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương
tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.(quy mô lớn)
2.3. Căn cứ vào xuất xứ của tín dụng:
- Cho vay trực tiếp là loại tín dụng mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người
vay, đồng thời người vay cũng là người trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp là thông qua các loại giấy tờ có giá như khế ước hoặc chứng
từ nợ, ngân hàng tái cấp tín dụng cho người phát hành bằng cách mua lại các giấy tờ
này từ người sở hữu chứng từ
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
2.4. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
-Cho vay đảm bảo không bằng tài sản là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh có khả
năng tài chính mạnh, kinh doanh có hiệu quả thì NH có thể thế cấp tín dụng dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
- Cho vay có đảm bảo là loại hình cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế
chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với các khách hàng
không có uy tín cao đối với NH thì khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo, sự đảm bảo
này căn cứ theo pháp lý để NH có thêm nguồn thu nợ thứ hai,bổ sung cho nguồn thu
nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
2.5. Căn cứ vào hình thái giá trị cho vay:
- Cho vay bằng tiền là hình thức cho vay phổ biến và vốn tín dụng được cấp là
dưới hình thái giá trị tiền tệ.
- Cho vay bằng tài sản là vốn cho vay được cấp bằng tài sản dưới hình thái tài

và chu chuyển tiền tệ.
- Tín dụng ngân hàng là công cụ chủ yếu để tài trợ, đầu tư cho các ngành kinh
tế then chốt, các vùng kinh tế kém phát triển nhằm xóa bỏ sự đói nghèo.
- Tín dụng ngân hàng làm cho việc sử dụng vốn đối với các đơn vị đi vay có hiệu
quả hơn, bên cạnh đó nó còn thúc đẩy sự mở rộng và phát triển của ngành ngoại thương.
- Tín dụng ngân hàng còn có vai trò tạo tiền và góp phần bình ổn giá cả trong
nền kinh tế, giúp mở rộng quan hệ với khách hàng từ đó làm tăng khả năng huy động
các loại tiền gửi cho ngân hàng, tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh góp
phần nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
II. TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DN VỪA VÀ NHỎ:
1.Khái niệm về DN, doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Theo luật doanh nghiệp thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản riêng có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
- Kinh doanh là việc thực hiện một hay một số tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi.
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt
vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao
động từ 10 đến dưới 50 người còn doanh nghiệp vừa có số lao động từ 50 đến 300
người, ở mỗi nước người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở nước mình. Nhưng ở Việt Nam thì không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các
doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình
hàng năm dưới 300 người thì được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp
nhỏ và vừa bao gồm các doanh nghiệp nhà nước các công ty cổ phần các công ty
TNHH, các doanh nghiệp tư nhân và các công ty liên doanh với nước ngoài đảm
bảo được các yêu cầu trên.
2. Sự cần thiết của tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM:

qua đào tạo tuy có tăng lên trong những năm gần đây nhưng vẫn ở tỷ lệ thấp so với thế
giới. Mặt khác, chỉ số xếp hạng trình độ công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
Việt Nam là rất thấp, xếp thứ 92/104 nền kinh tế trên thế giới và có xu hướng đi
xuống. Đáng chú ý là chỉ tiêu mức độ sang chế công nghệ, thuê bao internet, chất
lượng cạnh tranh trong dịch vụ cấp internet và luật pháp liên quan đến công nghệ
thông tin điều này sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
nhỏ và vừa, tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, là một
trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt
Nam trên thị trường thế giới.
3.Đặc điểm về hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Để giải quyết khó khăn về vốn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tìm đến
nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, việc vay vốn từ các ngân hàng của
doanh nghiệp vừa và nhỏ có một số đặc điểm sau:
- Các ngân hàng thường cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ này vay với quy mô
vốn cho vay nhỏ, trong khi đó để tồn tại và có chỗ đứng trên thị trường hiện nay đòi
hỏi các doanh nghiệp phải mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ thì cần phải có lượng
vốn lớn mới thực hiện được,Vì vậy, các ngân hàng đã chia nhỏ nguồn vốn, chốt hạn
mức tín dụng ở một ngưỡng nhất định đối với một khoản vay để đáp ứng được nhiều
nhu cầu nhỏ hơn, một số ngân hàng chuyển từ bán buôn chuyển dần sang mô hình bán
lẽ.Khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn để duy trì hoạt động còn các ngân hàng
thì có được nhiều lợi nhuận hơn, rủi ro sẽ được phân tán.
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
- Xuất phát từ nguyên tắc cho vay, vay vốn phải có tài sản đảm bảo nên khi các
doanh nghiệp vừa và nhỏ tới ngân hàng xin được vay vốn thì ngân hàng yêu cầu cần
phải có tài sản đảm bảo nhưng hiện nay khi các doanh nghiệp đến vay vốn thì xảy ra
tình trạng là không có tài sản đảm bảo hoặc thiếu tài sản đảm bảo, hoặc giá trị của tài
sản nhỏ và đa phần các tài các tài sản đảm bảo tại ngân hàng của các doanh nghiệp là
bất động sản. Điều này cũng gây khó khăn cho ngân hàng bởi bất động sản mà họ thế
chấp tại ngân hàng thường không đủ hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng, quyền sở hữu,

Xuất phát từ khẩu hiệu “an toàn, hiệu quả và chất lượng” trong hoạt động kinh doanh,
nên các ngân hàng chỉ cho vay đối với các khách hàng có nguồn tài chính ổn định. Do
vậy, khách hàng nào có công việc ổn định chắc chắn, hoặc có tài sản đảm bảo, hoạt
động kinh doanh tốt thì sẽ dễ dàng được vay hơn đối với khách hàng mà công việc dễ
biến động. Bên cạnh đó, tư cách khách hàng cũng ảnh hưởng đến quyết định của ngân
hàng. Một khách hàng có năng lực tài chính tốt thì chưa đủ để đảm bảo cho độ an toàn
của khoản vay đó, nếu đi kèm với đó là một lý lịch không rõ ràng hay một tiểu sử vay
nợ xấu ở những lần trước đó, do vậy điều đó cũng lý giải tại sao có những trường hợp
tuy khách hàng có thu nhập không cao nhưng vẫn được ngân hàng ưu ái cho vay hơn
là những khách hàng dù có thu nhập tốt, ổn định lại không được ngân hàng cho vay, vì
đó là những khách hàng có tư cách tốt, có ý thức trả nợ nghiêm túc và tôn trọng pháp
luật đem lại sự yên tâm tin tưởng cho ngân hàng.
- Chính sách tín dụng của ngân hàng cho vay cũng là một trong những hoạt
động làm tăng thêm thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng, xuất phát từ những lợi
ích như vậy các ngân hàng hiện nay đang tích cực không ngừng cạnh tranh với nhau
để thu hút khách hàng nhằm mở rộng hơn nữa loại hình cho vay. Tuy nhiên không
phải vì vậy mà cứ tự do cho vay mà không tính đến khả năng và độ an toàn cho ngân
hàng mình. Bất kể ngân hàng nào cũng đều có một chính sách tín dụng phù hợp với
nguồn vốn của riêng mình, trong chính sách này sẽ quy định rõ các danh mục tín dụng
với hạn mức vốn nhất định cho mỗi loại và theo đó các cán bộ tín dụng sẽ tiến hành
cho vay nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng không được vượt quá hạn mức đó. Do đó,
quy mô cho vay lớn hay nhỏ phụ thuộc vào một phần chính sách tín dụng ngày nay.
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
- Lãi suất cho vay đây cũng là nhân tố không ảnh hưởng nhiều lắm đến quyết
định đi vay của khách hàng, nhưng lại là nhân tố có tác động lớn đến chất lượng kinh
doanh của ngân hàng. Bởi vì nguồn để trả nợ vay là chủ yếu lấy từ thu nhập hàng
tháng của khách hàng, do vậy sẽ không nhiều và thời hạn trả sẽ dài. Nếu lãi suất cao
quá thì số tiền phải trả cũng phải lớn, điều này sẽ gây tâm lý nản long cho khách hàng
trong việc trả nợ, từ đó việc trả nợ cũng khó đảm bảo đúng hạn dẫn đến nợ quá hạn, nợ

lập một hệ thống các chi nhánh tại 7 tỉnh thành thuộc các trọng điểm kinh tế trên cả ba
miền Bắc-Trung-Nam, cụ thể ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, Đà Nẵng, Vũng Tàu,
Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, thiết lập một mạng lưới hơn 200 ngân hàng đại lý
trên toàn cầu. Hiện nay, ngân hàng Hàng Hải là thành viên của hiệp hội ngân hàng
Việt Nam và hiệp hội ngân hàng Á Châu.
Thông qua nghiên cứu, hội đồng quản trị ngân hàng đã nhận định ngân hàng Đà Nẵng
là trung tâm thương mại lớn nhất miền trung, diễn ra ngày càng nhiều các mối quan hệ
giao dịch, trao đổi, thanh toán và đầu tư. Do đó được sự đồng ý của các cấp chính
quyền và các bên hữu quan, hội đồng quản trị ngân hàng đã quyết định thành lập chi
nhánh ngân hàng tại Đà Nẵng(MSB-ĐN). MSB-ĐN chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 20/7/1993. Trong những năm qua, MSB-ĐN đã tạo lập cho mình chỗ đứng vững
chắc trên thị trường và tăng trưởng nhiều lần so với năm trước.
MSB-ĐN là một tổ chức độc lập, chịu sự quản lý và điều hành từ ngân hàng
trung tâm, tiến hành các nghiệp vụ và các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo điều lệ
của MSB-VN. Từ ngày thành lập cho đến nay, MSB-ĐN đã đầu tư vào nhiều dự án
mang lại hiệu quả của khu vực Đà Nẵng như trạm nghiền nhà máy xi măng
COSEVCO, xưởng sản xuất bao bì Xuân Hà, hệ thống cáp nội hạt của bưu điện thành
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
phố Đà Nẵng, dây chuyền sản xuất vỏ bao xi măng, ống nhựa ở công ty cổ phần nhựa
Đà Nẵng, nhà máy sản xuất hàng mộc xuất khẩu của công ty Gia Dinh Đồng thời,
MSB-ĐN còn cho vay vốn ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hỗ trợ các đơn
vị thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, trong đó chủ yếu là tập trung
vào các ngành sản xuất-chế biến, giao thông vận tải và xuất nhập khẩu. Đặc biệt năm
1996, MSB-VN được chính phủ giao cung ứng vốn cho dự án giao thông trọng điểm:
đường láng Hòa Lạc, Quốc Lộ 14, đường 51 theo phương thức thu phí hoàn trả, trong
đó MSB-ĐN phụ trách giải ngân công trình cải tạo và nâng cấp quốc lộ 14. Bên cạnh
đó, chi nhánh còn thường xuyên chú trọng đến công tác tiếp thị, thu hút mở rộng
khách hàng. Năm 2000, có thêm 30 doanh nghiệp đến mở tài khoản và giao dịch tại
MSB-ĐN. Chi nhánh luôn xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng là

Phòng Giao dịch Hoàng Diệu. Thực hiện báo cáo điều hành lên giám đốc.
- Phòng Hành chính Tổng Hợp: Thực hiện các công việc hành chính, tổ chức,
công tác văn thư lưu trữ.
- Phòng khách hàng doanh nghiệp: Gồm có bộ phận tín dụng, bộ phận giám sát
và hỗ trợ tín dụng, bộ phận tài trợ thương mại. Phòng gồm có 10 người làm nhiệm vụ
cho vay vốn đối với khách hàng doanh nghiệp, thẩm định dự án vay vốn, thực hiện các
nghiệp vụ liên quan đến thanh toán quốc tế như thanh toán L/C, làm điện thanh toán đi
nước ngoài, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu, nhờ thu nhập
khẩu , thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, bao thanh toán…
- Phòng khách hàng cá nhân: Gồm có bộ phận huy động vốn, tín dụng, giám sát
và hỗ trợ tín dụng. Phòng gồm có 7 người làm nhiệm vụ huy động vốn, cho vay vốn từ
các khách hàng cá nhân, thẩm định hồ sơ vay vốn để cho vay.
- Phòng dịch vụ khách hàng: Đây là phòng trực tiếp giao dịch với khách hàng
về mọi hoạt động, thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến yêu cầu của khách hàng.
Phòng dịch vụ chia thành 3 bộ phận riêng biệt với nhau, bao gồm:
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
• Bộ phận thanh toán quốc tế: Bao gồm 2 người, thực hiện các nghiệp vụ
liên quan đến tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, các nghiệp
vụ thanh toán qua ngân hàng khác, nghiệp vụ chuyển tiền nhanh.
• Bộ phận kho quỹ: Gồm 4 người, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến
hoạt động thu-chi tiền mặt, cân đối nhu cầu tiền mặt của ngân hàng.
- Phòng tài chính kế toán: Thực hiện các công việc kế toán có liên quan đến
hoạt động tài chính trong nội bộ ngân hàng, được chia thành 2 bộ phận như sau:
• Bộ phận kế toán tổng hợp.
• Bộ phận vi tính.
- Phòng kiểm soát: Có 1 người, chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát lại và làm
báo cáo kiểm soát với Trung tâm về toàn bộ các hoạt động của ngân hàng.
Nhìn chung, MSB-ĐN đã và đang dần hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý của mình để
cho phù hợp với tình hình mới hiện nay, để đáp ứng yêu cầu của một ngân hàng hiện

có kỳ hạn, không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Để đạt được kết quả này MSB-ĐN đã
thực hiện những biện pháp sau: kịp thời điều chỉnh lãi suất phù hợp, do vậy vẫn duy trì
nguồn tiền gửi của doanh nghiệp, tích cực tìm kiếm khách hàng là doanh nghiệp có
tiền gửi kỳ hạn, đàm phán linh hoạt trong lãi suất, thời hạn để ký hợp đồng cụ thể đối
với từng doanh nghiệp. Sắp xếp lại nhân sự trong phòng phù hợp với năng lực, trình
độ của từng người nên đã khích lệ tinh thần làm việc của cán bộ công nhân viên. Bên
cạnh đó cán bộ công nhân viên luôn thay đổi phong cách giao tiếp nên đã gây được
thiện cảm với khách hàng, thao tác nghiệp vụ nhanh, chính xác đã làm vừa long khách
hàng đến giao dịch.
3.2 Tình hình cho vay của ngân hàng:
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng, trong năm qua,
mặc dầu môi trường kinh doanh tài chính tiền tệ cạnh tranh gay gắt nhưng trên cơ sở
định hướng và xây dựng đối tượng đầu tư, tích cực tìm kiếm và mạnh dạng đẩy mạnh
quan hệ với các doanh nghiệp đồng thời đa dạng hóa các phương thức cho vay nên
trong những năm qua MSB-ĐN vẫn đảm bảo tăng trưởng tín dụng trên cơ sở an toàn
vốn và đạt hiệu quả cao.
Để thấy rõ hơn hoạt động cho vay của ngân hàng, ta xem xét bảng số liệu sau:
BẢNG 2: Tình hình cho vay của ngân hàng.
Đvt: triệu đồng.
CHỈ TIÊU
NĂM 2007 NĂM 2008 CHÊNH LỆCH
Số tiền TT(%) Số tiền TT(%) Số tiền TT(%)
1.Doanh số cho vay 604.606 100,00 972.750 100,00 368.144 60.89
- DNVVN 547.492 90,55 816.242 83,91 268.750 49.09
- Cá nhân 57.114 9,45 56.508 5,81 -606 -1.06
2.Doanh số thu nợ 445.92
4
100,00 758.176 100,00 312.252 70,02

nhưng quy mô tăng không đáng kể so với DNVVN nên doanh số thu nợ của DNVVN
vẫn chiếm tỷ lệ cao trong tổng doanh số thu nợ là 91,36%. Doanh số thu nợ tăng là
điều dễ hiểu bởi vì trước đó chi nhánh đã có một chính sách tín dụng hợp lý đã thu hút
được nhiều khách hàng đến vay vốn tại ngân hàng trong đó khách hàng cũ đến vay
chiếm một tỷ lệ lớn đồng thời có sự tham gia của các khách hàng mới đó mà làm cho
doanh số cho vay tại ngân hàng ngày càng tăng. Ngoài ra với biện pháp như theo dõi
khách hàng sau khi vay và xử lý các khoản vay có vấn đề nên ngân hàng đã có sự theo
dõi kịp thời các dấu hiệu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tiến
hành đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn. Do đó mà giúp cho ngân hàng có những
nhận định đúng về khách hàng, dự báo và kiểm soát được những rủi ro trong cho vay.
Qua đó thấy được công tác thu hồi nợ của ngân hàng là rất tốt, đặc biệt là đối với bộ
phận DNVVN.
Về dư nợ bình quân đối với DNVVN cũng có sự gia tăng trong năm 2008 là
93.086 triệu đồng tương ứng tăng với tỷ lệ là 39,47% so với năm 2007. Và dư nợ trong
DNVVN vẫn chiếm tỷ lệ lớn 69,27% trong tổng nợ bình quân, trong khi đó thì dư nợ
bình quân cá nhân chỉ đạt 30,73%. Dư nợ bình quân tăng là một điều đáng mừng cho
thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng tăng trưởng tốt, nguyên nhân dẫn đến dư nợ
bình quân tăng là do chủ yếu là doanh số cho vay tăng cùng với uy tín của ngân hàng
cùng với các chính sách tín dụng mà ban lãnh đạo ngân hàng đề ra phù hợp với người
đi vay, tạo được lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng trên cùng địa bàn.
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
Nói tóm lại tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng đối với DNVVN đã cho
thấy được sự nỗ lực của ngân hàng trong việc tiếp cận tín dụng ngày càng nhiều đối
với DNVVN, góp phần đáng kể vào thu nhập của ngân hàng.
3.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng :
Bất kỳ một hoạt động doanh nghiệp nào khi bước vào kinh doanh thì mục tiêu
cuối cùng cũng là lợi nhuận. Song kinh doanh có hiệu quả thì phải là lợi nhuận cao
trên cơ sở an toàn và uy tín. MSB-ĐN là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cũng
không ngoài mục đích trên. Để thấy rõ hơn về kết quả hoạt động kinh doanh của MSB-

tăn 23000 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 43,54%, trong đó thu từ hoạt động tín
dụng tăng 2.188 triệu đồng tương ứng với tốc độ tăng 4,87% , còn thu từ hoạt động
khác chỉ tăng 837 triệu đồng. Nguyên nhân tăng là do ngân hàng đã đa dạng hóa các
phương thức cho vay, tìm kiếm được khách hàng mới nhiều hơn nên hoạt động tín
dụng được đẩy mạnh hơn, đi theo đó là thu nhập từ hoạt động này cũng tăng theo.
Điều này cho thấy hoạt động cho vay tại ngân hàng giữ một vai trò hết sức quan trọng
nó đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng. Đây là điều hết sức hợp lý vì các ngân
hàng thương mại Việt Nam thì hoạt động chủ yếu là cho vay, các hoạt động khác cũng
có tỉ lệ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước cho thấy ngân hàng đã cung cấp các
loại dịch vụ tốt, phù hợp với yêu cầu của khách hàng.
Xét về mặt chi phí thì cũng tăng nhưng tốc độ tăng không đáng kể, chỉ tăng từ
47.534 triệu đồng năm 2007 lên 64.185 triệu đồng năm 2008 tương ứng 16.651 triệu
đồng tức tăng 35,03%. Để có nguồn vốn cho vay, ngân hàng phải huy động từ các
nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế vì vậy chi phí cho hoạt động
vốn cũng chiếm một phần tỷ trọng chi phí của ngân hàng. Do ngân hàng huy động
vốn từ tiền gửi của khách hàng tăng nên việc chi về hoạt động vốn cho nguồn vốn đó
cũng tăng theo cụ thể là chi về hoạt động vốn của năm 2007 là 33.473 triệu đồng
chiếm 70,42% thì năm 2008 tăng 19.107 triệu đồng tức 64.185 triệu đồng tương ứng
với tốc độ tăng 57,08%.
Như vậy nhìn chung hoạt động kinh doanh tại ngân hàng đã đạt được những kết
quả tốt thể hiện qua tốc độ gia tăng cao của lợi nhuận trong năm 2008. Điều đó đã
chứng tỏ được tính đúng đắn và hiệu quả trong chủ trương cũng như chính sách hoạt
động tại ngân hàng.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ TRONG THỜI GIAN QUA.
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
1. Phân tích tình hình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian 2 năm:
1.1 Quy trình và quy định cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng.
* Những quy định về ngân hàng:

có bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật và của MSB.
+ Các biện pháp bảo đảm tiền vay đồng thời là các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm:
. Cầm cố tài sản
. Thế chấp tài sản
. Đặt cọc
. Ký quỹ
. Bảo lãnh
* Quy trình cho vay tại ngân hàng TMCP Hàng Hải:
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, ngân hàng đã áp
dụng những thành tựu đó vào việc tiếp cận các khách hàng của mình với chi phí giao
dịch thấp và cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ tài chính nhiều hơn trước. Tuy
nhiên, sự mở rộng hoạt động luôn tiềm ẩn những rủi ro, do đó cần phải có các biện
pháp để hạn chế và kiểm soát rủi ro. Một trong những biện pháp đó là thiết lập một
quy trình tín dụng chặt chẽ để hướng dẫn các nhân viên tín dụng và các bộ phận có
liên quan thực hiện việc cho vay nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Quy trình tín dụng là tập hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong
việc cấp tín dụng. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể
từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Quỳnh Nhi
là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự
nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau.
Các bước chủ yếu của quy trình cho vay được áp dụng tại chi nhánh:
1.2 Tình hình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ theo thời hạn:
Xét theo thời hạn cho vay thì có cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong đó cho
vay dài hạn là gặp rủi ro nhiều hơn cả. Để biết rõ hơn về tình hình cho vay DNVVN
theo thời hạn là ngắn hạn và trung hạn ta xem xét bảng sau:
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 24
Tiếp nhận hồ sơ, kiểm

100,00 758.176 100,00 312.252 70,02
317.80
8
95,51 432.190 93,92 114.382 35,99
14.944 4,49 13.734 6,08 -1.21 -8,09
3. Dư nợ bình quân.
- Ngắn hạn
- Trung và dài hạn
235.81
9
100.00 328.905 100,00 93.086 39,47
98.241 70 170.602 83,65 72.361 73,57
26.811 30 33.345 16,35 6.534 24,37
4. Nợ quá hạn
- Ngắn hạn
- Trung và dài hạn
1.509 100 1.894 100 385 25,5
1.241 82,23 1.538 81,2 291 23,9
263 17,77 365 18,8 74 35,3
5. Tỷ lệ nợ quá hạn 0.5 1.1 120
(Nguồn: Báo cáo kết quả HĐKD của ngân hàng Hàng Hải 2007 - 2008)
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy, về quy mô cho vay năm 2008 tăng so với
năm 2007, quy mô cho vay thể hiện ở doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ
bình quân, trong đó quy mô cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng nhiều hơn cả cụ thể là:
SVTH: Trần Thanh Hằng Trang: 25

Trích đoạn Đối với chính quyền địa phương: Một số kiến nghị khác:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status