skkn một số biện pháp giúp học sinh lớp 9 cảm thụ một tác phẩm văn học - Pdf 24

Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
MỤC LỤC
Đề mục Trang
Mở đầu: 2
Nội dung : 3
A. Cở sở khoa học: 3
B. Thực trạng: 3
C. Nội dung: 4
1. Giúp HS lên kế hoạch và học tập ở nhà:……………………5
2. Tạo tâm thế trong giờ văn: 7
3. Làm và sử dụng đồ dùng dạy học: 9
4. Ứng dụng CNTT trong giảng dạy: 14
5. Sử dụng BĐTD trong giảng dạy: 15
D. Hiệu quả: 21
Kết luận: 21
Tài liệu tham khảo: 23
Đề tài.
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
1
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
Một số biện pháp giúp học sinh lớp 9
Cảm thụ một tác phẩm văn học.
MỞ ĐẦU
*Môn ngữ văn cùng với các bộ môn khác có nhiệm vụ cung cấp cho học
sinh những hiểu biết, những kỹ năng nhất định. Trọng tâm của môn Ngữ văn lớp 9
là giúp cho các em cảm thụ tốt văn bản, có kỹ năng về phân tích tác phẩm văn học,
bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá tác phẩm; tạo cho các em có những
rung động trước cái hay, cái đẹp của văn chương vì mục đích dạy văn là tạo được
sự phát triển cân đối, tồn diện về tâm hồn, trí tuệ, về thẩm mỹ và hiểu biết để xây

- Tìm hiểu tâm lí học sinh khối 9 khi học môn văn.
- Tham khảo ý kiến giáo viên dạy môn Ngữ văn 9.
*Điểm mới của đề tài là đề cập đến vấn đề học sinh cảm thụ tốt một văn
bản. Hiểu và cảm thụ văn bản tốt sẽ tạo ở học sinh sự rung cảm trước cái hay, cái
đẹp của văn chương, nâng mức cảm thụ lên cao hơn. Đề tài có ý nghĩa thực tiễn
trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy môn Ngữ văn lớp 9. Nó góp phần
nâng cao khả năng tạo lập văn bản cho các em. Đây là yêu cầu trực tiếp của môn
Ngữ văn.
NỘI DUNG
A. CƠ SỞ KHOA HỌC.
Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Thực hiện đồng bộ các
giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương
trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng
hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý
tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng
tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”. Để
làm được điều đó người thầy giáo phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những
phương pháp dạy học có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng, đào tạo ra những
con người mới “vừa hồng vừa chuyên”, Môn văn là một môn học mà như người
ta thường nói: là một phương tiện hun đúc, bồi dưỡng, giáo dục tâm hồn các em.
Các hình ảnh nhân vật trong tác phẩm là những tấm gương cho các em soi rọi vào
đó để tự hồn thiện mình nếu người thầy biết dẫn dắt đúng hướng.
B. THỰC TRẠNG
Đầu năm học, tôi được phân công phụ trách tổ Ngữ văn. Qua thăm nắm tình
hình thực tế kết hợp kiểm tra chất lượng đầu năm, nhìn chung các em nắm kiến
thức về văn học, ngữ pháp cũng như các phương thức biểu đạt văn bản chưa vững.
Thơ văn thuộc không nhiều, nội dung chỉ tập trung những gì thầy cô cho ghi trong
vở. Thậm chí có em còn không nắm được cách trình bày một bài văn. Câu cú cũng
như nội dung bài văn chưa mạch lạc, ý rời rạc.
Theo thống kê của phòng khảo thí và quản lý chất lượng giáo dục của Sở

nhất là việc “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy”
Nếu học sinh học theo tình trạng như hiện nay thì chất lượng học tập môn
Ngữ văn không thể nào tốt được. Muốn nâng cao chất lượng, học sinh phải tự vận
động trước tiên.
C. NỘI DUNG
Học sinh học tốt môn văn hay không điều đó được thể hiện qua quá trình tạo
lập văn bản của các em. Có kiến thức văn học kết hợp với việc nắm vững sáu
phương thức biểu đạt thì các em sẽ làm tốt một bài văn. Tuy nhiên, một bài văn
hay không chỉ ghi lại những gì giáo viên truyền đạt rồi đưa vào một công thức có
sẵn theo từng bước cái gọi là dàn bài chung. Một bài văn hay phải có sự sáng tạo
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
4
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
và cảm xúc của người viết. Viết một bài Tập làm văn hay thì đòi hỏi học sinh phải
cảm thụ tốt một văn bản. Hiểu được vấn đề tác giả đặt ra và từ đó rút ra bài học
cho bản thân bởi “ Văn học là nhân học”. Nhưng muốn cảm thụ tốt một văn bản
trước tiên phải yêu thích học văn, hứng thú với một tiết học văn. Để giúp các em
làm được điều đó, chúng tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:
1. Giúp học sinh lên kế hoạch và học tập ở nhà:
Đầu năm học tôi làm một phiếu khảo sát một số em học sinh lớp 9: Câu hỏi
thứ nhất “ Em thích học môn nào nhất”. Câu trả lời là “ Thưa cô, các môn tự
nhiên”. Câu hỏi thứ hai “Em có thích đọc truyện, đọc thơ không?”. Đa số các em
đều trả lời là “ Có”. Và thực tế đã chứng minh điều ấy. Vào lớp các em hay đọc
lén truyện trong giờ học, làm thơ để tặng bạn. Ham thích văn thơ là thế thì tại sao
các em lại không thích học văn? Hay tại vì các văn bản trong chương trình không
phù hợp, không vừa sức với các em? Thật ra vấn đề ở đây không phải là vì nội
dung văn bản mà phần lớn các em không biết cách học hoặc học mà lười không
thực hành, luyện tập thường xuyên. Phương pháp học không tốt thì không hiệu
quả. Phương pháp là yếu tố quyết định đầu tiên cho kết quả học tập.

học vẹt mà chủ yếu là trả lời theo sự hiểu biết của các em. Học phải có thời khóa
biểu cụ thể, rõ ràng.
1.2: Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch học tập ở nhà.
Để kiểm tra việc học tập ở nhà của các em, chúng ta làm các công việc sau:
- Phân công tổ trưởng kiểm tra chéo vở soạn bài của các em trước mỗi tiết
học. (Có nhận xét thi đua học tập giữa các tổ).
- Trong giờ học, khi gọi các em xây dựng bài học ( cá nhân hoặc thảo luận
nhóm) giáo viên cần ghi điểm động viên, có như thế các em mới đầu tư
vào soạn bài ở nhà.
- Kiểm tra vở bài soạn đầu giờ đột xuất một số em thay cho kiểm tra bài
cũ ( Chỉ ghi điểm khi các em nắm khoảng 50% kiến thức của bài mới.)
Lên kế hoạch học tập ở nhà sẽ giúp các em rất nhiều trong việc tiếp thu kiến
thức mới. Đối với các bài tổng kết, ôn tập thì việc chuẩn bị bài ở nhà là ôn lại các
kiến thức đã học ở các lớp dưới. Có chuẩn bị các em mới mạnh dạn phát biểu và
làm cho lớp học sinh động hơn. Động lực để giúp các em thực hiện tốt việc chuẩn
bị bài ở nhà tôi thiết nghĩ đó chính là những lời động viên, khen thưởng và ghi
điểm kịp thời cho các em. Ta không thoải mái cho điểm cũng không nên quá khắt
khe với các em để các em thấy rằng môn văn cũng có điểm 10. Bởi vì từ lâu quan
niệm điểm 8 là con số cao nhất của môn văn cũng đã làm cho các em không phấn
đấu đến điểm số tối ưu.
2. Tạo tâm thế trong giờ văn.
Làm thế nào tạo được tâm thế cho học sinh trong giờ văn? Trước hết là
người thầy khi bước vào lớp phải tạo được không khí thoải mái, vui vẻ, tinh thần
tràn đầy hưng phấn để cùng với học sinh thực hiện một giờ lên lớp thật nhẹ nhàng.
Thông thường học sinh ngại nhất là khâu kiểm tra bài cũ. Nếu như hôm ấy, lớp có
một vài bạn không thuộc bài hoặc không chuẩn bị bài mới thì y như rằng cả lớp sẽ
bị thầy cô trách phạt và suốt tiết học một bầu không khí nặng nề bao trùm. Kiểm
tra bài cũ là một việc làm thường xuyên nhưng không mang tính bắt buộc cũng
như hình thức kiểm tra không áp đặt theo một khuôn mẫu nào. Do vậy khi kiểm
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.

d. Ý kiến của em.
……
Xây dựng câu hỏi cho phần tìm hiểu bài mới.
Trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn học, khi xây dựng các câu hỏi về kĩ
năng văn hay còn gọi là những câu hỏi khai thác nội dung kiến thức văn học phải
được xây dựng một cách hợp lý, sao cho học sinh thâm nhập ngay vào tác phẩm,
sống và cảm xúc với cuộc sống của nhân vật trong tác phẩm. Nếu không có hoạt
động nhập thân đó thì rất khó để cảm thụ tốt một văn bản. Thực tế trong những lần
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
7
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
dự giờ tôi đã nhận thấy điều này. Giáo viên trên lớp thuyết giảng một cách say sưa
nhưng một số học sinh bên dưới lại làm việc riêng. Bởi lẽ, giáo viên tìm được
nguồn cảm hứng từ văn bản nhưng các em học sinh thì lại không cảm nhận được
điều đó. Do vậy, trong tiết dạy giáo viên ngồi việc bao quát lớp còn phải có hệ
thống câu hỏi rõ ràng, cụ thể. Cần phải có những câu hỏi nội dung gay cấn, khêu
gợi, kích thích trí tò mò, ham hiểu biết của các em.
Ví dụ 1 : Bài Lặng lẽ Sapa của Nguyễn Thành Long. Khi phân tích phần
giới thiệu nhân vật anh thanh niên, giáo viên có thể đặt một số câu hỏi sau:
- Em hãy tìm đâu là chi tiết bình thường về con người này?
- Đâu là chi tiết khác lạ?
- Với em, chi tiết nào đặc biệt nhất? vì sao?
- Những chi tiết bình nói gì về nhân vật này? Còn các chi tiết khác lạ thì
sao?
- Từ đó, đặc điểm nào trong cách sống của nhân vật anh thanh niên được
bộc lộ?
….
Bên cạnh đó giáo viên sử dụng một số câu hỏi dạng mở rộng để các em tự
do suy nghĩ và trả lời.

Chính Hữu?
Chính những câu hỏi có tính so sánh như thế sẽ giúp các em có cái nhìn
tổng thể hơn về các tác phẩm mình đã học.
3. Làm và sử dụng đồ dùng dạy học:
So với các bộ môn khác, môn văn khá ít đồ dùng dạy học. Giáo viên lên lớp
thông thường chỉ sử dụng sách giáo khoa và giáo án. Bởi văn chương không phải
là mắt thấy, tai nghe mà chúng ta phải cảm nhận từ trái tim, tình cảm của mình
thông qua hệ thống ngôn từ. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ trong một giờ văn nếu có
thêm một bức tranh, một đoạn nhạc sẽ làm cho tiết học sinh động hơn và học sinh
cũng sẽ chú ý nhiều hơn. Vâng, cùng một nội dung nhưng một quyển truyện có
hình ảnh kèm theo luôn thu hút các em nhiều hơn quyển không có hình vẽ. Với
suy nghĩ ấy, tôi đã thường xuyên phát động phong trào “Tăng cường sử dụng và
làm đồ dùng dạy học cho tiết dạy Ngữ văn”. Khi lên lớp, giáo viên sẽ sử dụng
tranh do ngành cung cấp hoặc phóng to những tranh có sẵn trong sách giáo khoa
để minh họa cho bài giảng.
Ví dụ 1: Dạy bài “Viếng lăng Bác” chúng ta sử dụng các tranh ảnh sau:
- Chân dung nhà thơ Viễn Phương.
- Hình ảnh hàng tre quanh lăng Bác.
- Hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác ( phóng to tranh trong SGK).
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
9
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
Các em học sinh ở Miền Nam chưa một lần ra lăng viếng Bác. Qua tiết học với
những hình ảnh tả thực và so sánh của nhà thơ Viễn Phương các em cảm nhận
được niềm tự hào, lòng thành kính thiêng liêng của tác giả nói riêng và của nhân
dân Miền Nam nói chung đối với Bác. Rồi các em biết được xung quanh lăng Bác
là hàng tre xanh bát ngát- hình ảnh thân thuộc của làng quê Việt nam, biểu tượng
của dân tộc Việt Nam; hình ảnh dòng người hàng ngày vào lăng viếng Bác trong
niềm thương nỗi nhớ. Khi bình giảng đến những hình ảnh trên, ta sử dụng tranh để

Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
12
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
các bài thơ trong chương trình văn học hiện đại đều được phổ nhạc. Như các bài
thơ: “Đồng chí” của Chính Hữu, “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”
của nguyễn Khoa Điềm, “ Con cò” của Chế Lan Viên, “ Ánh trăng” của Nguyễn
Duy, “ Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.
Điều này cũng dễ hiểu. Bất kì một bài thơ hay nào cũng có nhạc hàm chứa trong
nó. Tính nhạc thể hiện ở nhịp điệu và tiết tấu của bài thơ, nó vang ngân trong tâm
hồn người đọc. Bằng chứng là đến nay các ca khúc trên vẫn luôn được coi là
những ca khúc hay, sống mãi với thời gian; nó được coi là cuộc “hôn phối” kì diệu
giữa thơ và nhạc. Sử dụng âm nhạc khi bắt đầu tiết học sẽ tạo cho các em sự chú
ý; sử dụng cuối tiết học giúp các em hiểu sâu thêm văn bản. Âm nhạc sẽ làm cho
tiết học nhẹ nhàng, thoải mái.
Văn học bao giờ cũng hàm chứa cuộc sống, điều đó ai cũng rõ. Dưới ngòi
bút của các tác giả cuộc sống được tái hiện một cách sinh động. Và đến lượt mình,
người thầy giáo dạy văn phải phát hiện được cái cuộc sống ấy, giúp các em cảm
nhận nó thông qua ngôn từ và các thủ pháp nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng để
trên cơ sở đó bồi dưỡng tâm hồn cho các em. Để làm được điều đó thì tiết học phải
thật sinh động. Như chúng ta biết, nhiều hình ảnh cuộc sống miêu tả trong tác
phẩm đã trở thành quá khứ, thành lịch sử. Trong giờ giảng văn, nếu chúng ta
không cố gắng tạo dựng lại – trong những lúc thích hợp – hình ảnh của cuộc sống
đã qua, không gợi lên được cái không khí của hồn cảnh mà tác phẩm đề cập tới, e
sẽ làm giảm mất hiệu năng của tiết dạy.

4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
Phong trào ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đã được ngành giáo
dục phát động mấy năm nay. Hiện nay không chỉ vận động giáo viên thực hiện mà
đã đưa hẳn vào tiêu chuẩn qui định của ngành (Trong một năm học, giáo viên phải

thành thạo nhiều phần mềm vi tính bởi đặc điểm nổi bật ở các em học sinh hiện
nay là tính năng động, sáng tạo và yêu thích cái mới. Từ thư viện điện tử mà các
em sưu tầm được, giáo viên hướng dẫn các em tập thuyết trình về tác giả, tác
phẩm … kết hợp trình chiếu bằng Powerpiont hay Violet.
Các vấn đề cần lưu ý khi ứng dụng CNTT trong soạn giảng là:
Trong dạy-học Ngữ văn, chỉ sử dụng CNTT khi cần thiết và sử dụng ít hơn
so với các phương pháp dạy học khác như thuyết giảng, thảo luận nhóm, nêu vấn
đề, đàm thoại….Thiết kế một giáo án phải lựa chọn các hiệu ứng như màu sắc,
kiểu chữ, cách chạy chữ, âm thanh…phải phù hợp, tránh lạm dụng. Trong quá
trình giảng dạy, giáo viên cần lưu ý đến khả năng tiếp thu kiến thức, khả năng ghi
chép của học sinh để có hướng điều chỉnh kịp thời. Và đương nhiên không phải
bất cứ bài nào cũng có thể ứng dụng CNTT. Muốn thật sự đạt hiệu quả trong một
tiết dạy phải biết lựa chọn nội dung, vấn đề phù hợp. Chúng ta cần hiểu đúng
CNTT là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới phương pháp dạy học, vì
quá trình giáo dục con người không thể “công nghệ hóa” hồn tồn được, có nhiều
mặt giáo dục không thể quy trình hóa được như giáo dục nhân văn, đạo đức, thẩm
mỹ…

5. Sử dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy.
Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng
một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…
bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết. BĐTD
được hiểu là hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người, do chính mỗi
người suy nghĩ và tự vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, vì vậy khi sử dụng BĐTD sẽ
giúp học sinh học tập tích cực, là biện pháp hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học
một cách hiệu quả. Đối với môn Ngữ văn, việc hệ thống hóa kiến thức giúp cho
học sinh có cái nhìn tồn diện về nội dung của một văn bản. Qua đó, các em có điều
kiện suy nghĩ sâu hơn, nhiều chiều hơn về nội dung mà thầy cô vừa cung cấp.
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
14

- Ngồi anh thanh niên còn có những nhân vật nào?
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
15
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
- Các nhân vật vắng mặt?
- Vì sao các nhân vật không có tên?
- Em cảm nhận được gì về vai trò của công việc với cuộc sống?
- Nghệ thuật?
- Nội dung?
Bản đồ tư duy càng nhiều nhánh thì nội dung của bài học càng thể hiện rõ.
5.2. Giáo viên vẽ mẫu:
Từ hệ thống nội dung đã cho các em xác định giáo viên sẽ thực hành cho
học sinh quan sát.
Do đây là phương pháp mới nên các em chưa hình dung được phải vẽ như
thế nào nên những văn bản đầu tiên giáo viên sẽ vẽ từng ý trên bảng hoặc trên
bảng phụ, giấy Ao…Giáo viên cần đa dạng hóa các kiểu vẽ để học sinh học tập và
phát huy tối đa khả năng sáng tạo của các em.
5.3. Học sinh tự thực hiện BĐTD.
Khi các em đã quen dần với việc hệ thống bài học bằng BĐTD, giáo viên sẽ
để cho các em tự vẽ theo cách riêng của mình. Lúc đầu sẽ cho các em thực hiện
theo nhóm, khi thực hiện xong đại diện nhóm lên trình bày trước lớp, các nhóm
khác bổ sung, giáo viên là người chỉnh sửa sau cùng để giúp các em hồn thiện
BĐTD của mình. Sau đó tiến hành cho các em thực hiện cá nhân. Mỗi em sẽ có
một tập giấy A4 để thể hiện các sản phẩm của mình theo trình tự các bài học. Nếu
các em thực hiện tốt thì đây chính là tài liệu ôn tập rất tốt cho các em. Khi cần ôn
bài nào các em chỉ việc xem lại BĐTD và nhớ lại các kiến thức đã học.
Sử dụng BĐTD sẽ mang lại hiệu quả cao trong quá trình hệ thống hóa kiến
thức nhất là đồi với phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn, các văn bản nghị luận.
Nhưng với các văn bản nghệ thuật thì lại khác bởi tư duy trong văn bản nghệ thuật

rưng
Nhìn lại chính
mình
Lúc ở rừng
Mờ nhạt
Xa lạ,
không
quen biết
Bị lãng quên
Con
ngườ
i
là tình
nghĩa
là tri kỉ
Giản
dị
Thanh
cao
hòa hợp với
thiên nhiên
trăng đẹp đẽ, con người ân tình, thủy chung
Thiên nhiên được
miêu tả, so sánh,
nhân hóa
Đầy khí thế
Hào hứng
Lạc quan
Hùng vĩ, mênh
mông, tráng lệ

Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
BĐTD BÀI ĐỒN THUYỀN ĐÁNH CÁ CỦA HUY CẬN
BĐTD BÀI LẶNG LẼ SAPA CỦA NGUYỄN THÀNH LONG

Hồn cảnh sống
Công việc
Phẩm chất
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
18
ĐOÀN
THUYỀN
ĐÁNH CÁ
Lúc ra khơi
Tâm trạng
con người
SAPA-CÓ NHỮNG
CON NGƯỜI LÀM
VIỆC VÀ LO NGHĨ VÌ
ĐẤT NƯỚC
ANH THANH NIÊN
ĐƯỢC MIÊU TẢ

GÁI
ANH KĨ SƯ
Cán bộ nghiên
cứu sét
bác lái xe
Đang đi
tìm một

đẹp, trong sang về
tinh thần, tình cảm,
cách sống, suy nghĩ.
Làm công tác khí
tượng kiêm vật lý
địa cầu =>phục vụ
đời sống sản xuất,
chiến đấu =>cần
chính xác, tỉ mỉ , có
tinh thần trách
nhiệm cao.
Rất đặc biệt: một mình
trên đỉnh Yên sơn cao
2600m nhưng không hề cô
đơn: trồng hoa, đọc sách,
nuôi gà…=> chủ động,
sắp xếp cuộc sống có khoa
học.
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
D. HIỆU QUẢ.
Qua một học kỳ áp dụng các biện pháp trên, tôi nhận thấy học sinh đã có sự
tiến bộ rõ rệt. Qua các tiết dự giờ, tôi nhận thấy học sinh yếu đã mạnh dạn hơn
trong trao đổi, phát biểu. Trong giờ học các em tập trung, không trao đổi làm việc
riêng. Khả năng cảm thụ văn bản của các em chuyển biến rất tốt. Những cảm nhận
của các em về tác phẩm thể hiện khá sâu sắc. Có tình cảm, có hứng thú đã giúp
các em viết được những văn bản hồn chỉnh và có cảm xúc hơn. So với điểm khảo
sát đầu năm học, các em có sự tiến bộ rõ rệt. Kết quả cụ thể như sau:
1. Điểm khảo sát đầu năm học.
Tổng số HS

TSHS
lớp 9
GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU-KÉM
357 TS % TS % TS % TS %
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
19
SAPA-CÓ NHỮNG
CON NGƯỜI LÀM
VIỆC VÀ LO NGHĨ VÌ
ĐẤT NƯỚC
Làm việc say mê không
nghĩ đến bản thân –
những nhân vật không
có tên.
Vui tính, quan tâm
đến người khác-là
người đã giới thiệu
cho ta cảnh sắc và
con người Sa Pa.
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
23 6.4 110 30.8 142 39.8 82 23
KẾT LUẬN
Để giúp học sinh tích cực và ham thích học tập bộ môn Ngữ văn, cảm thụ
một văn bản tốt thì tiết học phải trôi qua nhẹ nhàng thoải. Một tiết học mà khi
tiếng trống trường vang lên báo hiệu hết giờ cả giáo viên và học sinh đều tiếc rẻ “
Sao mà nhanh thế”. Một tiết dạy mà theo giáo sư Hồng Ngọc Hiến nhận xét là
“qua bài giảng phải để lại sự rung động nhân bản-văn chương” trong lòng
người nghe. Để có được điều đó đòi hỏi giáo viên giảng dạy cần nắm và thực hiện
các yêu cầu sau:

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Dĩ An, ngày 14 tháng 1 năm 2012.
Người viết.

Nguyễn Ngọc Mai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo viên, sách giáo khoa môn Ngữ Văn 9.
2. Tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ Văn 9.
3. Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lí và giáo viên THCS.
Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
21
Trường THCS Dĩ An. Sáng kiến kinh nghiệm.
____________________________________________________________________________
Nhận xét, đánh giá của trường THCS Dĩ An.
Nhận xét, đánh giá của tổ:
Nhận xét, đánh giá của trường THCS Dĩ An.

Giáo viên: Nguyễn Ngọc Mai.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status